MỞ ĐẦU Đông Nam Á dưới tác động của toàn cầu hoá đã trở thành chủ đề của các diễn đàn quốc tế chẳng hạn Hội thảo tại Kuala Lumpur (Malaysia) năm 2002 do Hiệp hội Hoa Kỳ học Malaysia chủ trì. Các báo cáo khoa học được tập hợp lại trong công trình mang tên Religious Pluralism in Democratic Societie. Challenges and Prospects for Southeast Asia, Europe, and the United States in the New Millennium do K. Nathan chủ biên (Singapore.
Những biến đổi vĩ đại của đất nước Ấn Độ gần 20 năm trở lại đây là tâm điểm của giới nghiên cứu quốc tế ở Tây Âu và Hoa Kỳ. Về ảnh hưởng của văn hoá Phương Tây đối với Ấn Độ, có thể kể đến các công trình sau đây: A Cultural History of India của Basham của A. với công trình Fairs and Festivals of India, (New Delhi, India, 2002), Kinsley. Về tiếp biến văn hoá ở Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, có rất nhiều công trình nghiên cứu thú vị.
Chẳng hạn về đặc trưng của đời sống văn hoá đương đại ở Nhật Bản, Schneider và Silverman đã dành hàng trăm trang viết trong công trình Xã hội học toàn cầu để phân tích, lí giải và ca ngợi sự kết hợp hiếm có giữa văn hoá truyền thống Phương Đông và văn minh Phương Tây. Đặc biệt là công trình của giáo sư Tadao Umesao: Lịch sử nhìn từ quan điểm sinh thái học. Ông đã đưa ra một phưong pháp tiếp cận các nền văn minh từ so sánh yếu tố địa lý sinh thái. Từ đó đi đến nhận định văn minh Nhật Bản là thuộc về loại hình văn minh Phuơng Tây vì có bối cảnh sinh thái địa lý tương tự Tây Bắc Âu (nước Đức).7 Nghiên cứu trong nước: Trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận đại cương về xây dựng con người mới và văn hoá mới Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó có đề cập ít nhiều đến vấn đề lý luận tiếp thu yếu tố văn hoá ngoại lai, đã có 2 Chương trình khoa học công nghệ cấp quốc gia do GS.
Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, với 18 đề tài được triển khai liên tục trong giai đoạn 1997-2005. Chương trình KHXH-04 (1997-2000) mang tên "Về phát triển văn hoá và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" có 6 đề tài, và KHXH-05 (2001-2005) mang tên "Phát triển văn hoá con người và nguồn nhân lực thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" có 12 đề tài. Nét đặc sắc của các công trình nghiên cứu qui mô lớn trên là vận dụng nhiều ý tưởng chỉ đạo trong đường lối của Đảng và chính sách của nhà nước về hội nhập quốc tế, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và con người Việt Nam tiên tiến trong thời đại toàn cầu hoá. Về văn hoá Châu Âu, văn hoá Mỹ và toàn cầu hoá văn hoá, chủ yếu mới chỉ có các công trình viết riêng về từng nền văn hoá và cũng chỉ ở bước đầu, chứ chưa có công 7 Umesao, Tadao: Lịch sử nhìn từ quan điểm sinh thái học, Người dịch: Nguyễn Đức thành .09/06-10 – MỞ ĐẦU trình nào mang tính hệ thống về toàn bộ nền văn hoá Âu-Mỹ.
Người ta có thể phân chia lịch sử việc nghiên cứu văn hoá Phương Tây ở Việt Nam làm hai giai đoạn lớn: (1) Giai đoạn trước năm 1954 và (2) Giai đoạn sau 1954. Cuối thế kỷ XIX đã có hàng loạt công trình nghiên cứu và giới thiệu về văn hoá, xã hội, tôn giáo Phương Tây của hai cha con Trương Vĩnh Ký, Trương Vĩnh Tống và các nhà trí thức tiền bối Tây học khác xuất hiện ở miền Nam (Sài Gòn). Bằng các công trình đó, họ đã trở thành học giả quan trọng đầu tiên nghiên cứu về Phương Tây và là người bắc nhịp cầu giao lưu văn hoá Đông Tây. Nhưng phải đến giai đoạn những năm 20-30 đầu thế kỷ XX thì mới bùng nổ các công trình nghiên cứu uyên bác và đầy hứng khởi về văn hoá, văn minh Pháp gắn với các tên tuổi lẫy lừng của các nhà văn hoá uyên thâm cả Nho học và Tây học như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Khôi.
Các tác phẩm quan trọng và có giá trị của ông gần đây được tập hợp trong bộ sách Thượng Chi văn tập (5 tập in chung, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2006). Giai đoạn từ 1954 đến 1975 ở Việt Nam là giai đoạn lịch sử đặc biệt, trong đó miền Nam luôn đặt dưới sự thống trị của Phương Tây, trước hết là ở Sài Gòn và các đô thị khác. Trên lĩnh vực tư duy lý luận văn nghệ, một số nhà nghiên cứu gần đây đánh giá rằng: ở một phương diện nào đó, sự tiếp biến các khuynh hướng lý luận - phê bình phương Tây (ở miền Nam thể hiện những khát vọng đổi thay và sáng tạo để nhanh chóng đuổi kịp Phương Tây8.
Giai đoạn từ năm 1975 đến 1990 việc nghiên cứu về Phương Tây bị chững lại bởi lý do khác biệt ý thức hệ, giống như tình trạng ở miền Bắc suốt những năm 1954-1975 trước đó. Chỉ từ khi thực hiện chính sách Đổi mới, nhất là từ 1990 trở đi, việc nghiên cứu về văn hoá Phương Tây mới được khôi phục. Tuy nhiên, tầm bao quát vấn đề, chiều sâu chất lượng của các công trình còn nhiều hạn chế. Có lẽ nở rộ hơn cả là các sách giới thiệu sơ lược về văn hoá các nước nhằm phục vụ du học, du lịch, kinh doanh.
Cũng có một số công trình nghiên cứu và hội thảo khoa học về triết học Phương Tây nhưng đa phần cũng còn khá sơ lược hoặc tri thức khá cũ kỹ9. Về văn hoá Âu-Mỹ, phần lớn các cuốn sách nghiên cứu đều mang tên kiểu như Phác thảo chân dung, Hồ sơ văn hoá, v. mang tínhh chất đất nước học (Landeskunde). Ta có thể kể đến các công trình Hồ sơ văn hoá Mỹ (1995) và Phác thảo chân dung văn hoá Pháp (1999) của Hữu Ngọc, Đặc trưng văn hoá Mỹ (Báo cáo kết quả đề tài cấp bộ của Lê Thế Quế, 2006), Liên bang Mỹ - Đặc trưng xã hội - Văn hoá của Nguyễn Thái Yên Hương (2006), các công trình chuyên khảo Phác thảo chân dung đời sống văn hoá Đức đương đại (2004) và Thế giới đa chiều - Lý thuyết 8 Trần Hoài Anh: Các tài liệu đã dẫn.
9 Ví dụ: Những vấn đề triết học Phương Tây thế kỷ XX, Kỷ yếu hội thảo quốc tế năm 2007 do khoa Triết học, Trường ĐHKHXH&NV chủ trì. Nxb ĐHQG Hà Nội, 2007.09/06-10 – MỞ ĐẦU và kinh nghiệm nghiên cứu khu vực của Lương Văn Kế (chủ trì đề tài). Ngoài ra còn có hàng trăm bài nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Trung Quốc, ChÂu-Mỹ ngày nay, Thông tin khoa học xã hội, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật (Bộ văn hoá thông tin), Tạp chí Khoa học xã hội (Đại học Quốc gia Hà Nội); các báo cáo khoa học trong các hội thảo khoa học quốc tế và trong nước về toàn cầu hoá và hội nhập của Việt Nam. Có thể dẫn ra đây quan điểm của một số tác giả: Trong cuốn Hồ sơ văn hoá Mỹ, nhà nghiên cứu Hữu Ngọc là người đầu tiên ở Việt Nam tiếp cận một cách hệ thống và khá khách quan các hiện tượng văn hoá Mỹ.
Công trình này gợi mở nhiều suy nghĩ trong xã hội và giới nghiên cứu văn hoá về bản sắc của văn hoá Mỹ và sức mạnh đặc biệt của nó. Còn trong cuốn Liên bang Mỹ - Đặc trưng xã hội - văn hoá, tác giả Nguyễn Thái Yên Hương lại tiếp cận theo hướng mở rộng từ đặc thù thể chế chính trị Mỹ đến đặc thù văn hoá, xem văn hoá Mỹ là sự cởi trói khỏi các định kiến Châu Âu phù hợp với đặc thù một quốc gia đa chủng hỗn tạp và luôn luôn sống động. Có quan điểm gần gũi trong cách nhìn về văn hoá Mỹ là đề tài Đặc trưng văn hoá Mỹ của Lê Thế Quế (ĐHQG Hà Nội, 2006). Đóng góp có ý nghĩa của đề tài là dành một chương để nói về ảnh hưởng của văn hoá Mỹ trên thế giới và Việt Nam.
Về văn hoá Pháp và ảnh hưởng của văn hoá Pháp đối với Việt Nam, có rất nhiều sách, bài báo đã đề cập, trước hết là trên lĩnh vực văn học, ngôn ngữ, báo chí, giáo dục, hội hoạ. Thậm chí đã có cả một dự án nghiên cứu về giao lưu văn hoá Việt-Pháp. Kết quả của dự án này được tập hợp trong cuốn sách mang tên: Giao lưu văn hoá & Ngôn ngữ Việt-Pháp do Viện ngôn ngữ học thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam chủ trì (Tp Hồ Chí Minh 1999). Còn trong cuốn Phác thảo chân dung văn hoá Pháp, với phong cách báo chí hóm hỉnh và sinh động, Hữu Ngọc đã phác hoạ ra những đặc trưng cơ bản của nền văn hoá Pháp kỳ vĩ, những "tính cách Pháp" (chẳng hạn tính hài hước, tính nhân văn phổ biến), một số đại diện của văn hoá Pháp, và đặc biệt về ảnh hưởng của văn hoá Pháp đối với văn hoá Việt Nam thông qua con người Hồ Chí Minh.
Trong cuốn Phác thảo chân dung đời sống văn hoá Đức đương đại của Lương Văn Kế (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004), tác giả đã dành hẳn một chương bàn về khái niệm văn hoá và bản sắc văn hoá nói chung; dành một mục quan trọng để bàn về các bản sắc văn hoá Châu Âu và biểu hiện của nó trong văn hoá Đức. Công trình đi sâu phân tích đặc điểm của các lĩnh vực chủ yếu của đời sống văn hóa Đức với tư cách một nền văn hoá lớn và điển hình của văn hoá Châu Âu. Còn trong công trình Thế giới đa chiều. Lý thuyết và kinh nghiệm nghiên cứu khu vực (2007) mang tính phương pháp luận trong nghiên cứu khu vực quốc tế, trong đó có nghiên cứu khu vực học văn hoá, Lương Văn Kế đã tiếp cận vấn đề văn hoá khu vực và tiếp xúc văn hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá từ 13 ĐỀ TÀI KX03.09/06-10 – MỞ ĐẦU góc độ khoa học liên ngành của khu vực học (interdisciplinary studies), từ lý thuyết tiếp xúc văn hoá và ngôn ngữ (cultural and language contacts) và lý thuyết mạng xã hội (social network).
Tác giả cũng đi sâu phân tích một số bình diện của các nền văn hoá tiêu biểu với tư cách nghiên cứu kinh nghiệm (empirical research), như Mexico (đại diện cho Mỹ Latinh), văn hoá Nhật Bản (đại diện cho Đông Á), Văn hoá Đức (đại diện cho văn hoá Tây Âu). Ngoài ra tác giả còn công bố hàng chục bài viết khác về Châu Âu và văn hoá Châu Âu cũng như chính trị Phương Tây.