Chương 1 BỐI CẢNH TIẾP XÚC VĂN HOÁ PHƯƠNG TÂY CỦA NHẬT BẢN 1. Khái niệm và thuật ngữ 1. Văn hoá Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa do mỗi ngành nghiên cứu có cách định nghĩa và cách hiểu riêng, tuỳ theo vấn đề nghiên cứu khác nhau, Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê 164 định nghĩa văn hóa khác nhau trong các công trình nghiên cứu nổi tiếng thế giới (A.L, Kroeber and Kluckhohn,1952, tr. Định nghĩa văn hóa đầu tiên đã được nhà nhân học người Anh ở cuối thế kỷ XIX, E.B Tylor đưa ra trong công trình Văn hóa nguyên thuỷ (Primitive Culture, 1871), Văn hóa là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những năng lực hay tập quán khác do con người có được với tư cách là thành viên của xã hội (Nguyễn Thu Hằng, 2011, tr.
Kroeber và Kluckhohn đưa ra định nghĩa như sau: Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người.v… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo (A.L, Kroeber and Kluckhohn, 1952, tr. Năm 1982, trong Tuyên bố về những chính sách văn hóa, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm riêng biệt của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng (UNESCO, 1989, tr. Định nghĩa văn hóa của UNESCO được coi là tổng quát nhất theo hướng tổng hòa, tổng hợp, coi văn hóa là tất cả những gì do con người tạo ra, bao gồm cả những vấn đề thuộc về tinh thần và những vấn đề thuộc về vật chất, bất kể tốt xấu, phù hợp hay không phù hợp.
Tại Việt Nam, cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa, Đào Duy Anh quan niệm văn hóa là phương thức sinh hoạt (Đào Duy Anh, 2005, tr. Với cách tiếp cận này, 14 ông đề cập đến phạm vi rộng của văn hóa, bao hàm tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người, từ sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần cho đến sinh hoạt xã hội. Trần Quốc Vượng (1998), trong Cơ sở Văn hóa Việt Nam cho rằng văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người (Trần Quốc Vượng, 1998, tr. Theo quan điểm của các học giả Nhật Bản, văn hóa được hiểu là toàn bộ dạng thức sinh hoạt của con người.
Nó là tổng hợp những thành quả vật chất và phi vật chất mà con người có đạt được trong quá trình lao động, bao gồm cả sản phẩm của quá trình hoạt động sáng tạo ra các giá trị tinh thần như triết học, mỹ thuật, khoa học, tôn giáo. Bên cạnh đó, văn hóa còn là sự tiến bộ của con người trong cuộc sống như văn minh khai hóa. Trong sự đa dạng các định nghĩa văn hóa như trên, nghiên cứu văn hóa dưới góc độ lịch sử văn hóa, tác giả sử dụng định nghĩa về văn hóa của các nhà dân tộc học nổi tiếng thế giới là Kroeber, Kluckhohn làm lý thuyết căn bản: Văn hóa có đặc tính là sự kết tinh, sự đọng lại của lịch sử. Chừng nào một yếu tố chưa trở thành truyền thống, chưa trở thành chuẩn mực và giá trị của số đông, thì yếu tố đó chưa thể coi là văn hóa đích thực.
Trong quan niệm về văn hóa, cần đặc biệt nhận thức đúng tầm quan trọng của hệ giá trị, của cách thức tư duy và hành động của con người, vì đó là cái gốc của mọi biểu tượng, mọi thành công hay thất bại, văn minh hay lạc hậu của một nền văn hóa. Định nghĩa văn hóa này có ngoại diên đủ rộng để chứa các loại yếu tố của văn hóa; có nội hàm đủ sâu để chỉ thừa nhận những tinh hoa có giá trị của một xã hội. Tiếp xúc và giao lưu liên văn hoá Khái niệm tiếp xúc, giao lưu liên văn hóa đã được các nhà khoa học Mỹ định nghĩa vào năm 1936 như sau: Dưới từ Acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm (Trần Quốc Vượng, 1998, tr. Giao lưu, thâm nhập và tiếp xúc văn minh là sự vận động thường xuyên của văn hóa, văn minh.
Ở Việt Nam, một số nhà văn hóa học đã dịch các thuật ngữ trên thành: đan xen văn hóa, hỗn dung văn hóa, giao thoa văn hóa, giao lưu văn hóa và tiếp biến văn hóa. Theo cách hiểu của GS. Trần Quốc Vượng và một số học giả khác của Việt Nam, giao lưu văn hóa là khái niệm để chỉ một quy luật vận động và phát triển của các dân tộc. Đó là hiện tượng xảy ra khi những nhóm cộng đồng (cộng đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau 15 giao lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc cả hai nhóm.
Giao lưu văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa cộng đồng. Ở đó có sự kết hợp giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh tạo nên sự phát triển văn hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn. Giao lưu tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể. Quá trình này luôn đặt mỗi dân tộc phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh (Ngô Đức Thịnh, 2004, tr.213), Hiện nay, giao lưu và tiếp biến văn hóa được hiểu là hai (hoặc từ hai trở lên) hệ thống văn hóa liên tục tiếp xúc, liên tục ảnh hưởng tạo ra sự thay đổi văn hóa ở quy mô lớn trong một hệ thống văn hóa hay trong cả hai hệ thống, là một quá trình giao lưu, truyền nhập và tổng hợp, trong đó một nền văn hóa này đạt được những sự thích ứng mới cho cuộc sống.
Khuyếch tán - truyền bá văn hoá Đây là một lý thuyết lớn ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu XX để giải thích những hiện tượng tương đồng văn hóa giữa các tộc người khác nhau trên thế giới, xem xét có hay không mối quan hệ nguồn gốc hay lịch sử giữa các dân tộc, thừa nhận sự vay mượn trong quá trình văn hóa của các dân tộc, xác định các hình thức vay mượn, nguyên nhân và vai trò của sự vay mượn cũng như nguyên tắc xác định các mối quan hệ vay mượn. Theo đó, khi hai nền văn hóa gặp nhau, các cộng đồng chủ thể có thể trao đổi tiếp nhận vay mượn lẫn nhau tất cả hoặc một số thành tố văn hóa của hai bên. Hiện tượng vay mượn này diễn ra cả trong những xã hội có cấu trúc phức tạp lẫn đơn giản. Thông thường, các thành tố văn hóa vật chất như kỹ thuật hay kiến trúc.v…, dễ được trao đổi, vay mượn nhiều hơn các thành tố văn hóa tinh thần như ý tưởng, mẫu hành vi hay thực hành tôn giáo, tín ngưỡng v.
(Ngô Đức Thịnh, 2004, tr. Từ thực tiễn và quan niệm lý thuyết khác nhau, có nhiều trường phái giải thích lý thuyết khuếch tán và truyền bá văn hóa khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu này, lý thuyết Mô hình làn sóng mới (New Wave Model) của Charles Bailey đưa ra năm 1973 sẽ làm khung lý thuyết chính áp dụng phân tích và minh chứng cho lập luận trong luận văn. Mô hình vòng sóng đồng tâm của Charles Bailey, 1974 17 Hình 1.
Mô hình tâm sóng di chuyển theo một hướng của Charles Bailey, 1974 Theo thuyết này, người sử dụng có thể giải thích những hình thức mới của ngôn ngữ, được cho là lan truyền từ một điểm trung tâm ra các vùng ngoại vi trong trạng thái sôi động ở trung tâm và yếu dần ở ngoại vi (được so sánh với hình ảnh ném hòn đá xuống mặt nước). Mọi sự biến đổi và cách tân ngôn ngữ (cũng như trong văn hóa) bao giờ cũng xuất phát từ một nơi rồi lan truyền ra các vùng khác và chính sự lan truyền ấy đã tạo nên động lực cho sự phát triển ngôn ngữ (hay văn hóa). Với mô hình giao cắt của các vòng sóng đồng tâm (hình 1.1) và tâm sóng di chuyển theo một hướng của Bailey (hình 1.2), các nhà nghiên cứu theo thuyết này muốn giải thích các nguyên tắc lan truyền cũng như hệ quả của chúng. Nhưng Bailey quan tâm hơn tới sự xuất hiện vật cản, là một yếu tố tự nhiên hay xã hội nào đó (tại bản địa) có khả năng chặn sự lan truyền nên sóng đi theo một hướng (hình 1.
Đó là sự tương tác, quan hệ hai chiều của hiện tượng văn hóa lan tỏa có điểm - va chạm ở nơi đến, hoặc khả năng phủ trùm, dung hợp giữa hai nền văn hóa. 18 Nghiên cứu về ảnh hưởng của phương Tây đối với văn hóa Nhật Bản thời Minh Trị nên lý thuyết về văn hóa, văn minh phương Tây, tiếp xúc, giao lưu văn hóa và khuếch tán, truyền bá văn hóa có ý nghĩa quan trọng để luận giải vì sao phương Tây có thể ảnh hưởng đến văn hóa Nhật Bản thời Minh Trị, văn minh phương Tây được truyền bá vào Nhật như thế nào?.Người Nhật đã tiếp thu văn minh phương Tây ra sao, tiếp biến thành văn hóa Nhật Bản như thế nào để xây dựng một đất nước Nhật Bản phát triển, văn hóa Nhật Bản tiếp thu giá trị của văn minh phương Tây nhưng lại không bị mất đi giá trị truyền thống đặc sắc của mình, tạo nên văn hóa Nhật Bản thời Minh Trị với những sắc thái đặc trưng riêng. Các lý thuyết nêu trên tạo nên cơ sở lý luận cho các nghiên cứu liên quan đến sự thay đổi văn hóa quốc gia do có những ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, bằng con đường trực tiếp thông qua những cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa các dân tộc, các cộng đồng, thậm chí đồng hóa văn hóa… hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện như: điện ảnh, truyền hình, âm nhạc, thời trang, ẩm thực… 1. Văn hoá Namban Về khái niệm Namban Bunka hiện có nhiều cách hiểu khác nhau, theo quan điểm của học giả Grant.Goodman thì “Namban bunka” là thuật ngữ dùng để chỉ những người châu Âu đi từ phía Nam đến Nhật Bản dưới thời Tokugawa (Grant K, Goodman, 2015, tr.35), Trong cách hiểu này thì Nam: Phía Nam còn gọi là Ban: Dã man.