Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, các rào cản thuế quan bảo hộ dần được gỡ bỏ, đặt cộng đồng doanh nghiệp trong nước trước sức ép cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn quốc tế sở hữu trình độ công nghệ vượt trội. Đối với tỉnh Hải Dương – một địa bàn thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với quy mô kinh tế năm 2007 tăng gấp 2,6 lần so với năm 1995 – lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã có sự bùng nổ mạnh mẽ về số lượng, tăng từ 775 doanh nghiệp năm 2003 lên 2.678 doanh nghiệp vào cuối năm 2007. Khối doanh nghiệp này đóng vai trò là xương sống kinh tế địa phương khi tạo việc làm cho khoảng 150.000 lao động và đóng góp 7,39% tổng thu ngân sách nhà nước toàn tỉnh năm 2007.

Tuy nhiên, phần lớn các DNNVV tại Hải Dương đều có quy mô vốn đăng ký bình quân dưới 10 tỷ đồng và dưới 300 lao động. Điểm nghẽn lớn nhất kìm hãm sự bứt phá của các doanh nghiệp là công nghệ sản xuất còn lạc hậu, thiếu hụt nghiêm trọng nguồn vốn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới thiết bị. Mục tiêu cụ thể của luận văn là điều tra, đánh giá toàn diện hiện trạng công nghệ và hoạt động đổi mới công nghệ tại các DNNVV trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2003–2007, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp sử dụng đồng bộ các công cụ tài chính (vốn ngân sách, tín dụng thương mại, thuê mua tài chính, thị trường chứng khoán và chính sách thuế). Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp – xây dựng của tỉnh duy trì ở mức cao 14,6%–15,4%/năm, nâng tỷ trọng đóng góp của công nghiệp chế biến lên 81,2% giá trị sản xuất công nghiệp và mở rộng kim ngạch xuất khẩu địa phương vượt mốc 335 triệu USD.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên sự kết hợp của nhiều nền tảng lý thuyết quản lý kinh tế và khoa học công nghệ:

  • Lý thuyết quản trị đổi mới công nghệ (Innovation Management Theory): Kế thừa quan điểm của Peter Drucker, đổi mới sáng tạo cùng với tiếp thị là hai nhiệm vụ cốt lõi quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Đổi mới công nghệ được hiểu là quá trình chủ động thay thế một phần cốt lõi hoặc toàn bộ quy trình, công nghệ, trang thiết bị đang sử dụng nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành và cải tiến chất lượng sản phẩm.
  • Lý thuyết can thiệp kinh tế công và vai trò bà đỡ của Nhà nước: Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) luôn tiềm ẩn rủi ro cao và mang tính ngoại ứng tích cực cho xã hội. Do đó, Nhà nước cần sử dụng các công cụ tài chính công để khắc phục những khiếm khuyết của thị trường, chia sẻ rủi ro và kích thích khu vực tư nhân đầu tư công nghệ.
  • Lý thuyết cấu trúc vốn và các kênh dẫn vốn: Phân tích cơ chế vận hành của hai kênh tài trợ vốn chính trong nền kinh tế, bao gồm kênh dẫn vốn gián tiếp thông qua hệ thống ngân hàng thương mại và kênh dẫn vốn trực tiếp thông qua thị trường chứng khoán, bổ sung bằng nghiệp vụ thuê mua tài chính.

Các khái niệm cơ bản trong nghiên cứu được định hình chuẩn xác theo pháp luật Việt Nam: Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP; Công nghệ theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 và Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006; Công cụ tài chính bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng, thuê mua tài chính, thị trường chứng khoán và chính sách thuế trực thu, gián thu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương giai đoạn 2003–2007, các báo cáo chuyên đề của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương, kết hợp báo cáo khảo sát 7.580 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp toàn quốc của Tổng cục Thống kê năm 2005. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra khảo sát và phỏng vấn trực tiếp tại 50 doanh nghiệp nhỏ và vừa đại diện cho các thành phần kinh tế trên địa bàn 12 huyện, thành phố thuộc tỉnh Hải Dương, trong đó tiến hành khảo sát chuyên sâu tại 18 doanh nghiệp điển hình.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (stratified purposive sampling) được áp dụng để bao phủ 5 ngành công nghiệp chủ lực của địa phương: Cơ khí, Vật liệu xây dựng, May mặc, Da giầy và Chế biến nông sản thực phẩm. Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh liên thời gian (2003–2007) và tổng hợp logic xuất phát từ yêu cầu phải lượng hóa chính xác thực trạng công nghệ, đánh giá mức độ hấp thụ các kênh tài chính và làm rõ các rào cản khách quan khiến DNNVV khó tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng đã chỉ ra bốn phát hiện cốt lõi về hiện trạng công nghệ và tình hình tài chính của DNNVV tại Hải Dương:

  • Trình độ công nghệ và trang thiết bị sản xuất ở mức trung bình thấp: Mặc dù 63,5% số doanh nghiệp được khảo sát có tỷ trọng thiết bị cơ khí hóa và tự động hóa trên 50%, tỷ lệ này chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Năm 2007, trong 42 dự án đầu tư được thẩm định tại Sở Công nghiệp Hải Dương, có trên 90% số dự án lựa chọn nhập khẩu thiết bị công nghệ giá rẻ từ Trung Quốc, phần còn lại là máy móc tự chế tạo trong nước với tính năng hạn chế.
  • Mức độ phụ thuộc kỹ thuật cao và thiếu hụt tiêu chuẩn chất lượng: Khảo sát cho thấy 66% doanh nghiệp phụ thuộc vào nguyên liệu nhập ngoại, 60% phụ thuộc bán thành phẩm và 55,1% phụ thuộc vào kỹ thuật từ bên ngoài. Đáng chú ý, có tới 74,5% doanh nghiệp chưa áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như ISO 9000 hay ISO 14000, làm giảm đáng kể khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
  • Chi tiêu cho hoạt động R&D và đổi mới công nghệ vô cùng khiêm tốn: Đối chiếu với bức tranh toàn quốc năm 2005 (chỉ 185/7.580 doanh nghiệp có đầu tư R&D, chiếm 2,44% với kinh phí bằng 0,003% doanh thu), khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ chiếm chưa đầy 0,7% tổng nguồn vốn đổi mới công nghệ. Tại Hải Dương, đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ có trình độ từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 7,24% tổng số lao động (trong đó thạc sĩ chiếm 0,9%, tiến sĩ chỉ đạt 0,14%).
  • Sự tắc nghẽn nghiêm trọng trong tiếp cận các kênh tài chính: Khó khăn lớn nhất của 100% DNNVV khảo sát là thiếu vốn tự có để đổi mới thiết bị. Kênh tín dụng ngân hàng bị nghẽn do yêu cầu tài sản thế chấp khắt khe; kênh thuê mua tài chính và thị trường chứng khoán hầu như chưa được các doanh nghiệp tiếp cận; trong khi nguồn vốn từ Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ địa phương chưa triển khai rộng rãi đến khu vực kinh tế tư nhân.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ việc các DNNVV Hải Dương có quy mô vốn nhỏ bé (trung bình trên 3 tỷ đồng/doanh nghiệp mới thành lập), báo cáo tài chính thiếu tính minh bạch và thiếu tài sản bảo đảm có giá trị cao để đáp ứng quy chuẩn thẩm định của các ngân hàng thương mại. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ so sánh cơ cấu vốn đầu tư đổi mới công nghệ giữa các thành phần kinh tế (thể hiện rõ sự áp đảo 90,6% của khối FDI so với 0,7% của khối tư nhân) và bảng ma trận đánh giá năng lực công nghệ 5 ngành mũi nhọn. Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2000–2005, khẳng định rằng nếu không có sự can thiệp và hỗ trợ kịp thời thông qua chính sách tài chính công, DNNVV địa phương sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu công nghệ nghiêm trọng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về vốn và khuyến khích DNNVV đổi mới công nghệ, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp tài chính trọng tâm:

  • Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương: Cấp vốn điều lệ ban đầu từ ngân sách tỉnh và trích tối thiểu 1,5%–2% tổng chi ngân sách hàng năm cho quỹ; triển khai chương trình hỗ trợ cấp bù lãi suất vay vốn 2%–3%/năm cho các dự án đổi mới công nghệ thuộc 5 ngành công nghiệp mũi nhọn. Cơ quan thực hiện: UBND tỉnh Hải Dương, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính; hoàn thành khung cơ chế trong giai đoạn 2008–2010.
  • Đẩy mạnh mở rộng tín dụng ưu đãi và đa dạng hóa bảo đảm vay vốn: Thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV tỉnh Hải Dương; chỉ đạo các ngân hàng thương mại đổi mới quy trình thẩm định, chấp nhận bảo lãnh bằng dòng tiền của dự án đổi mới công nghệ và tài sản hình thành từ vốn vay, phấn đấu nâng tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay công nghệ đạt trên 20%/năm. Cơ quan thực hiện: Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Hải Dương và các ngân hàng thương mại trên địa bàn, triển khai từ năm 2008.
  • Phát triển mạnh mẽ kênh Thuê mua tài chính (Financial Leasing): Tổ chức các hội nghị kết nối giữa các công ty cho thuê tài chính với hơn 2.600 DNNVV tại địa phương; tuyên truyền lợi ích của thuê mua tài chính nhằm giúp doanh nghiệp hiện đại hóa máy móc mà không cần tài sản thế chấp, hướng tới mục tiêu tài trợ 20%–25% giá trị máy móc mới qua kênh này vào năm 2012. Cơ quan thực hiện: Sở Công Thương, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hải Dương.
  • Thực thi đồng bộ chính sách ưu đãi thuế và khấu hao nhanh tài sản: Hướng dẫn 100% doanh nghiệp áp dụng chính sách khấu hao nhanh đối với dây chuyền công nghệ cao; cho phép trích lập tối đa 10% thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập Quỹ R&D nội bộ; miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 1–3 năm đối với các sản phẩm công nghệ mới. Cơ quan thực hiện: Cục Thuế tỉnh Hải Dương phối hợp Sở Khoa học và Công nghệ, thực hiện định kỳ hàng năm từ năm 2008.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách địa phương: Bao gồm UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương và các tỉnh lân cận. Nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng các đề án hỗ trợ tài chính, quy hoạch phát triển công nghiệp và tối ưu hóa phân bổ nguồn vốn ngân sách chi cho sự nghiệp khoa học công nghệ.
  • Chủ doanh nghiệp và ban điều hành các DNNVV: Giúp các nhà quản trị nhận diện rõ bức tranh công nghệ ngành, từ đó tiếp cận các công cụ tài chính thay thế như thuê mua tài chính, quỹ phát triển khoa học công nghệ và ưu đãi thuế nhằm giảm nhẹ áp lực vốn tự có khi tái cấu trúc sản xuất.
  • Các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và công ty cho thuê tài chính: Cung cấp thông tin chi tiết về nhu cầu mua sắm thiết bị và đặc thù vận hành của 5 ngành công nghiệp mũi nhọn, hỗ trợ xây dựng các gói sản phẩm tín dụng và hợp đồng thuê tài chính phù hợp với năng lực chi trả của DNNVV.
  • Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý KH&CN: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị với hệ thống dữ liệu khảo sát thực địa 50 doanh nghiệp, phương pháp luận chuẩn mực và cách tiếp cận đa chiều về chính sách tài chính thúc đẩy đổi mới công nghệ cấp địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được áp dụng trong luận văn là gì? Căn cứ theo Điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Đến cuối năm 2007, toàn tỉnh Hải Dương có 2.678 doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí này.

Tại sao thuê mua tài chính là kênh huy động vốn tối ưu cho DNNVV đổi mới thiết bị? Thuê mua tài chính cho phép doanh nghiệp đưa máy móc thiết bị hiện đại vào sản xuất ngay mà không cần tài sản thế chấp ban đầu, do quyền sở hữu tài sản thuộc về bên cho thuê. Mô hình này giúp doanh nghiệp bảo toàn vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh, tương tự kinh nghiệm tại Mỹ khi thuê mua tài trợ 25%–30% giao dịch thiết bị.

Hiện trạng thiết bị công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất tại Hải Dương như thế nào? Kết quả khảo sát 50 doanh nghiệp công nghiệp chỉ ra trình độ công nghệ ở mức trung bình khá. Trong năm 2007, có tới trên 90% số dự án thẩm định tại địa phương nhập khẩu thiết bị giá rẻ từ Trung Quốc; 74,5% doanh nghiệp chưa đạt chuẩn ISO 9000/14000 và 66% phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

Khối DNNVV đóng góp như thế nào vào kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 2003–2007? Số lượng DNNVV tăng trưởng ấn tượng từ 775 doanh nghiệp năm 2003 lên 2.678 doanh nghiệp năm 2007. Khối này đóng góp 7,39% tổng thu ngân sách tỉnh năm 2007, giải quyết việc làm cho khoảng 150.000 lao động và đóng vai trò quan trọng thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh đạt 335,57 triệu USD.

Chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ qua những cơ chế nào? Doanh nghiệp được phép áp dụng phương pháp khấu hao nhanh tài sản cố định công nghệ để thu hồi vốn sớm, trích lập tới 10% thu nhập chịu thuế vào Quỹ R&D nội bộ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, đồng thời được hưởng các mức miễn giảm thuế đối với thu nhập từ chuyển giao công nghệ mới.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng công nghệ và nhu cầu đổi mới máy móc của 50 doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc 5 ngành công nghiệp trọng điểm tại Hải Dương giai đoạn 2003–2007.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn tài chính lớn khi tỷ lệ đầu tư cho R&D của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ chiếm 0,7% toàn ngành và năng lực tiếp cận tín dụng ngân hàng bị hạn chế do thiếu tài sản bảo đảm.
  • Khẳng định tính tất yếu của việc phối hợp 5 công cụ tài chính chủ lực nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp của tỉnh đạt trên 14,6%/năm trong bối cảnh hội nhập WTO.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp tài chính đồng bộ, tập trung vào Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh, kênh thuê mua tài chính, bảo lãnh tín dụng và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, định hình mô hình quản lý công nghệ vi mô gắn liền với chính sách vĩ mô tại các địa phương vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.

Đóng góp chính của luận văn là xây dựng khung chính sách tài chính có tính khả thi cao, kết nối trực tiếp giữa nguồn lực ngân sách nhà nước, các định chế tài chính trung gian và nhu cầu nội tại của doanh nghiệp. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2008 đến 2012, các cơ quan ban ngành tỉnh Hải Dương cần khẩn trương kiện toàn bộ máy Quỹ Khoa học và Công nghệ, đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng và phát triển thị trường thuê mua tài chính. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp quan tâm có thể tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ để ứng dụng chi tiết các giải pháp vào thực tiễn quản trị và hoạch định chính sách.