CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE XÂY DỰNG KHUNG CHÍ BAO CHO CONG DONG CHÓNG CHIU BEN VUNG HUONG TỚI CHUYEN DOI SINH THAI XA HOI VA CO SO LY LUAN VE CONG DONG CHONG CHIU BEN VUNG, CHUYEN DOI SINH THAI XA HOI 1. Tổng quan nghiên cứu về xây dựng khung chi báo cho cộng đồng chống chịu bên vững hướng tới SET tại Việt Nam 1. Trên thế giới Nghiên cứu “The transformative potential of Seed Commons: Applying the social- ecological transformation framework to agri-food systems” cua Julia Tschersich va cong sự (2023) đã chứng minh việc áp dung khuôn khổ chuyên đổi sinh thái xã hội giúp vận hành phân tích các thay đổi mô hình ở các cấp độ chuyên đồi khác nhau. Nghiên cứu đánh giá sự đóng góp của các sáng kiến Seed Commons đối với việc chuyển đổi hệ thống nông nghiệp — thực phẩm, lấy trường hợp của hiệp hội chăn nuôi hữu cơ.
Bài nghiên cứu chỉ ra 3 cấp độ của chuyền đổi sinh thái xã hội, cụ thé: cap độ vĩ mô phân tích cho thay các mô hình “văn hóa và tăng trưởng vật chất”, “kiểm soát và tự chủ”, và kiến thức chuyên môn; cấp độ vi mô và trung mô áp dụng một bộ nguyên tắc đánh giá đề bộc lộ đặc điểm biến đổi và tác động biến đổi một phần của Seed Commons. Việc áp dụng khuôn khổ này cho các hệ thống nông nghiệp-thực phẩm có thể nâng cao hiểu biết lý thuyết về động lực thay đổi trong diễn ngôn chuyền đồi nông nghiệp-thực phẩm, liên kết các sáng kiến quy mô nhỏ với các quá trình chuyên đổi rộng hơn và cung cấp phương pháp nghiên cứu có hệ thống dé tăng cường khả năng so sánh giữa các nghiên cứu điển hình. Khung này rất phù hợp đề tập hợp các tài liệu chuyên đổi đang phát triển. Nghiên cứu “Community sustainability and resilience: similarities, differences and indicators” của Alan Lew va cộng sự (2016) đã định nghĩa cốt lõi về bảo tồn va thích ứng giúp làm rõ những ưu điểm tương đồng và khác biệt của chúng, cũng như đưa ra các chỉ số rõ rang dé hiểu cách áp dụng từng định nghiax vào phát triển du lịch cộng đồng.
Nghiên cứu đã đưa ra các chỉ số đề trả lời cho những câu hỏi: Cộng đồng muốn bảo tồn điều gì và họ muốn thực hiện điều đó như thế nào (tính bền vững)? Họ muốn thay đôi điều gì và họ muốn làm điều đó như thế nào (khả năng phục hồi)? Kết quả sơ bộ cho thấy cộng đồng lý tưởng mới là cộng đồng bền vững và kiên cường. 13 Nghiên cứu “Overcoming the process-structure divide in conceptions of Social- Ecological Transformation Assessing the transformative character and impact of change processes” cua Stefanie Sievers-Glotzbach va Julia Tschersich (2019) da phat trién khung khái niệm cho quá trình chuyên đổi sinh thai xã hội kết nối cấp độ vĩ mô và vi mô, đồng thời giúp kết nối các phương pháp tiếp cận cấu trúc và định hướng quá trình dé chuyền đồi. Ở cấp độ vĩ mô, các mục tiêu của công lý giữa các thế hệ và giữa các thế hệ cần được theo đuôi bằng cách thách thức các mô hình trung tâm tạo nên những quỹ dao không bền vững. Nghiên cứu đề xuất một bộ nguyên tắc đánh giá sơ bộ ở cấp độ vi mô và cấp trung nhằm phan ánh các mục tiêu quy chuẩn này và giúp đo lường đặc điểm chuyền đổi cũng như tác động chuyền đổi của các quá trình thay đổi.
Nghiên cứu “Selecting Indicators for Assessing Community Sustainable Resilience” cua Leslie Gillespie-Marthaler và cộng sự (2019) đã đánh gia kha năng phục hồi bền vững của cộng đồng. Nghiên cứu xem xét tài liệu hiện tại, tổng hợp các chỉ số và thước đo sẵn có, đồng thời phát triển sơ đồ phân loại và cơ cấu tô chức dé hỗ trợ việc xác định, lựa chon va áp dụng các chỉ số trong khung đánh gia năng động. Một bộ chỉ số và thước đo không trùng lặp về khả năng phục hồi bền vững của cộng đồng được cung cap dé có thê điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của cộng đồng, từ đó nâng cao khả năng vận hành quy trình đánh giá. Nghiên cứu “Social learningfor enhancing social-ecological resilience to disaster- shocks: a policy Delphi approach” của Haque va cộng su (2021) đã ap dung quy trình Delphi chính sách 3 vòng với sự tham gia của 18 chuyên gia được lựa chon có mục dich, các tác gia đã thu thập dữ liệu về ý nghĩa của học tập xã hội đối với hai nhóm chuyên gia, DRR và khả năng phục hồi sinh thái xã hội.
Kết quả cho thấy sự đồng thuận mạnh mẽ rằng (1) các yếu tố cốt lõi của học tập xã hội cho thay một quá trình tập thé, lặp đi lặp lại và hợp tac bao gồm việc chia sẻ/kết nỗi mạng, những thay đồi trong thái độ, kiến thức và tính hòa nhập; (2) học tập xã hội từ thảm họa là duy nhất; và (3) mối liên kết giữa các ngành có thê được xây dựng bằng cách thúc đầy tính liên ngành, mạng lưới và nền tảng kiến thức; hợp tác và phối hợp ở mọi cấp độ; và giảng dạy và thực hành niềm tin và sự tôn trọng. Học tập xã hội rất hữu ích trong việc chuẩn bị và ứng phó với các sự kiện thảm họa cụ thể thông 14 qua giao tiép; chia sé kinh nghiém, y tuong va nguồn lực; tạo ra sự hiệp lực cho hành động tập thể và thúc đây khả năng phục hồi. Nghiên cứu “Translating community resilience theory into practice: A deliberative Delphi approach” Jayne Glass và cộng sự (2022) đã đánh giá qua trình nghiên cứu có chủ ý sử dung kỹ thuật Delphi dé thu thập kiến thức chuyên môn từ 22 học giả, những người thực hành cộng đồng và các nhà hoạch định chính sách làm việc trong các vai trò liên quan đến việc cung cấp khả năng phục hồi cộng đồng ở vùng nông thôn Scotland. Nghiên cứu tìm hiểu ý nghiax của khôn khổ hoạt động dé phục hồi cộng đồng đối với những người dang nỗ lực làm cho cộng đồng nông thôn trở nên kiên cường hơn và phản ánh về lợi ích cũng như việc áp dụng rộng rãi hơn loại phương pháp nghiên cứu này dé phát triển hiểu biết chung về các khái niệm phức tạp.
Nghiên cứu “Selecting Key Resilience Indicators for Indigenous Community Using Fuzzy Delphi Method” của Yung-Ping Tseng va cộng sự (2022) đã tổng hợp các tài liệu liên quan về khả năng phục hồi thông qua các cuộc phỏng van sâu và Phương pháp Fuzzy Delphi dé xác định các chỉ số về khả năng phục hồi cho sự phát triển của cộng đồng bản địa. Các chỉ số cuối cùng được chia thành năm lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và chính sách. Nghiên cứu này gợi ý rằng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng các chỉ số phục hồi này và áp dụng chúng cho các bộ lạc bản địa khác. 26 loại đánh giá này cũng sẽ là những yếu tố phải được xem xét trong quá trình thích ứng và tái thiết khi cộng đồng phải đối mặt với các tình huống khẩn cấp hoặc thảm họa.
Nghiên cứu “Delphi-based consensus study into a framwork of community resilience to disaster” của Saud Ali Alshehri và cộng sự (2015) đã phát triển một khuôn khổ về khả năng phục hồi của cộng đồng trước thảm họa ở Ả rập Saudi. Nghiên cứu sử dụng phương pháp Delphi gồm 3 vòng được thực hiện với sự tham gia của một nhóm chuyên gia địa phương và quốc tế có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực quản lý thảm họa rộng lớn. Nghiên cứu tập trung vào 6 khía cạnh phục hồi: xã hội, kinh tẾ, vật lý, môi trường, quản trị, sức khỏe và hạnh phúc, và thông tin truyền thông. Tổng cộng có 62 tiêu chí được xác định: 57 tiêu chí trong số này đã đạt được sự đồng thuận ở Vòng 2.
Thêm5 tiêu chí nữa 15 đạt được sự đồng thuận ở vòng thứ ba. Khung khả năng phục hồi của cộng đồng thu được bao gồm 7 đến 14 tiêu chí trong mỗi khía cạnh trong số sáu khía cạnh được xác định. Nghiên cứu “Knowledge creation elements for enhancing community resilience towards disaster: A Delphi study” cua Rina S.Oktari và cộng sự (2021) đã giới thiệu một khuôn khổ mới nhằm tang cường khả năng phục hồi của cộng đồng dựa trên lý thuyết sáng tạo tri thức (KCT). Nghiên cứu nhăm mục đích xác định các yếu tố hỗ trợ sang tao tri thức dé phục hồi cộng đồng và đạt được sự đồng thuận từ các chuyên gia về các yêu tổ nay.
Bai báo sử dụng phương pháp Delphi với 3 vòng dé xác định đánh giá 26 yếu tố. Kết quả phân tích mức độ đồng thuận (AL) cho thấy phan lớn các cấu trúc (96,15%) đều thuộc loại 'manh vừa phải'. Nghiên cứu này thiết lập một khuôn khổ KCCR có hệ thống, vận hành và đa chiều, kết hợp các khái niệm về tạo ra kiến thức, khả năng phục hồi của cộng đồng và phòng chống thiên tai. Khung này có thé được sử dụng như một công cụ hoặc hướng dẫn định tính dé xây dựng khả năng phục hồi của cộng đồng dựa trên việc tao ra kiến thức và là công cụ định lượng dé đo lường khả năng phục hồi của cộng đồng khi đối mặt với thảm họa.
Tại Việt Nam - ¬ - Nghiên cứu “Tiép cận chuyên đôi sinh thái - xã hội lý thuyết liên ngành cho phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long” của Phan Văn Phúc (2022) đã làm rõ khung phân tích chuyên đổi sinh thái xã hội được đề xuất bởi Sievers-Glotzbach and Tshersich (2019) và thảo luận khả năng ứng dụng vào điều kiện thực tế của Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là khung lý thuyết liên ngành được xây dựng dựa trên cơ sở đảm bảo sự bền vững cả về môi trường và kinh tế - xã hội. Với những điều kiện đặc thù về kinh tế, sinh thái, xã hội của Đồng băng sông Cửu Long, bài viết đề cập khả năng tương thích, khả thi của mô hình và nhằm hướng đến sự phát triển bền vững của vùng. Từ lý thuyết này và điều kiện thực tiễn của vùng, vai trò của các bên liên quan để thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp “thuận thiên” như đã nêu trong Nghị quyết số 120/NQ-CP năm 2017 của Chính phủ được dé cap.
Nghiên cứu “Tiếp cận liên ngành (Inter-disciplinary) trong nghiên cứu chuyển đổi kinh tế, xã hội và sinh thái tại Việt Nam” của Nguyễn Văn Khánh (2019) đã nghiên 16 cứu về mối quan hệ của con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Đây là kết quả của quá trình tiếp cận và tích hợp đầu tiên của các ngành, bộ môn, xuất phát từ việc phân tích các iếp cận khác nhau trong nghiên cứu.