CHƯƠNG 1 SỰ HÌNH THÀNH KHU KINH TẾ MỞ CHU LAI 1. Một số lý luận về Khu kinh tế mở 1. Khái niệm về Khu kinh tế mở 1. Khái niệm Khu kinh tế mở (KKTM) trên thế giới có quá trình phát triển từ cách đây 50 năm.
Khởi đầu là KCX nhỏ được hình thành nhằm chuyên môn hóa sản xuất cho xuất khẩu, sau đó phát triển thành mô hình cảng tự do ở Singapo, Hồng Kông (Trung Quốc) và biến thể thành khu vực xuất khẩu ở Puerto Rico. Tùy mỗi quốc gia mà có cách gọi khác nhau, chẳng hạn như đặc khu kinh tế, khu thương mại tự do. Trong KKT, có thể gồm nhiều khu chức năng như khu vực phi thuế quan (khu bảo thuế), KCN, khu công nghệ cao, các tiểu khu du lịch, giải trí, dịch vụ… Sau đây là một số khái niệm về KKT hoặc KKTM: Theo Cơ quan tư vấn tài chính và đầu tư (FIAS), cơ quan nghiên cứu và tư vấn thuộc Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) thì: Khu kinh tế được định nghĩa là một khu vực địa lý có ranh giới rõ ràng, do một cơ quan quản lý, các pháp nhân trong KKT được cung cấp những ưu đãi nhất định (ví dụ: Các ưu đãi về thuế, nới lỏng về hải quan) khi thực hiện các hoạt động kinh tế bên trong KKT. Khu kinh tế mở là khu vực kinh tế - xã hội tổng hợp, được phân định ranh giới địa lý rõ ràng, thuộc chủ quyền của một quốc gia, song có tư cách độc lập tương đối trong quan hệ với bên ngoài KKTM và quốc gia; có quyền tự chủ cao và có cơ chế quản lý hành chính và kinh tế hiện đại, tự do, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới nhằm tạo ra những ưu thế vượt trội.
Theo đó, KKTM cần có những ưu thế cơ bản sau: Thứ nhất, là khu vực có lợi thế so sánh về địa lý, có cảng biển quốc tế hoặc rất gần các cảng biển quốc tế, gần các tuyến giao thông quan trọng của đất nước; có nhiều tiềm năng phát triển toàn diện kinh tế - xã hội. Thứ hai, phải có hệ thống thể chế hành chính, kinh tế theo đúng chuẩn mực quốc tế có tính phổ quát cho các KKT tự do, bao gồm: Một hàng rào bảo hộ bằng không, thuế xuất nhập khẩu bằng không, bãi bỏ mọi hàng rào phi thuế quan; miễn thị thực nhập cảnh cho khách du lịch, buôn bán, kinh doanh; cho phép tự do kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực trừ một số lĩnh vực cấm; cho phép thực thi chế độ tự quản về hành chính; đảm bảo sự độc lập của ba quyền: Lập pháp, hành pháp và tư pháp, Chính phủ chỉ nắm quyền thống nhất quản lý về an ninh, quốc phòng và đối ngoại. Thứ ba, là cánh cửa mở đối với thế giới bên ngoài; nơi thử nghiệm các ý tưởng cải cách, đổi mới. Với những ưu thế đó, các nước trên thế giới đã linh hoạt áp dụng vào thực tiễn và 6 xây dựng nên một số mô hình KKT khác nhau.
Trong đó, có 3 mô hình nổi bật: Mô hình KKTM; mô hình đặc KKT và mô hình đặc khu hành chính, khu tự trị. Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định về KCN, khu chế xuất, KKT đã đưa ra khái niệm: Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của chính phủ. KKT được tổ chức thành các khu chức năng gồm: Khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, KCN, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng KKT. Như vậy, ở Việt Nam hiện nay thường dùng khái niệm KKT để chỉ các KKT do Thủ tướng Chính phủ thành lập ở khu vực ven biển (KKT ven biển) và KKT thành lập tại khu vực cửa khẩu biên giới đất liền (KKT cửa khẩu).
Như vậy, khái niệm KKT của Việt Nam là để chỉ các khu vực có diện tích rộng (trên 10.000 ha) trong đó áp dụng các ưu đãi về thuế, cơ chế hành chính, cho phép đầu tư và kinh doanh thuận lợi hơn so với quy định thông thường. Đặc biệt, khác với KCN hay khu công nghệ cao là khu vực chỉ sản xuất hoặc nghiên cứu, các KKT cho phép dân cư sinh sống thường xuyên. Khái niệm KKT của Việt Nam hiện nay không bao gồm KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Phân loại Khu kinh tế Có nhiều tiêu chí để phân loại KKT, song các nhà nghiên cứu thường phân loại KKT dựa trên các tiêu chí như: Theo chức năng của KKT, theo địa điểm mà KKT được đặt.
Theo đó, có thể phân loại KKT như sau: - Theo chức năng phát triển của KKT: Khu thương mại tự do (Free Trade Zone, viết tắt FTZ): Là khu vực có ranh giới nhất định, được hưởng các ưu đãi về thuế theo hướng khuyến khích hoạt động thương mại, được xây dựng các tiện ích như kho lưu trữ, bảo quản hàng hóa, cơ sở hạ tầng, tiện ích phục vụ bán buôn bán lẻ, phân phối, vận chuyển hàng hóa; là khu vực được phép thực hiện các hoạt động phục vụ cho hoạt động thương mại như sơ chế, lắp ráp, đóng gói hàng hóa, tạm nhập tái xuất và các dịch vụ khác phục vụ hoạt động thương mại. Các ưu đãi thường thấy trong các khu thương mại tự do là: Miễn thuế nhập khẩu vào FTZ, hàng hóa từ nội địa vào FTZ được miễn thuế VAT (nhưng hàng hóa từ FTZ vào nội địa phải đóng thuế), người lao động làm việc trong FTZ được giảm thuế thu nhập cá nhân. Cảng tự do(FreePort, viết tắt FP): Thường là khu vực bao trùm một cảng biển hoặc sân bay, ở đây các hàng hóa đến được lưu trữ, bảo quản tại chỗ mà không phải nộp một số loại thuế (thuế xuất nhập khẩu, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt.), có thể được chế biến, đóng gói tại chỗ trước khi được nhập khẩu vào nội địa (phải thực hiện nghĩa vụ thuế như đối với hàng nhập khẩu) hoặc tái xuất ra nước ngoài. Tùy vào quy 7 định của mỗi nước mà trong khu FP có thể cho phép được thực hiện các hoạt động khác như dịch vụ, du lịch, bán lẻ hoặc cho phép dân định cư trong nội khu.
- Phân loại theo địa bàn đặt KKT KKT ven biển: Là KKT nằm ven biển, thường gắn với các cảng biển. Các KKT ven biển được thành lập với nhiều mục đích khác nhau, trong KKT có khu thuế quan và khu phi thuế quan. Khu phi thuế quan được gắn liền với cảng biển để thuận tiện cho hoạt động bốc dỡ hàng hóa. KKT cửa khẩu: Là KKT nằm ở khu vực giáp biên giới, gắn liền với cửa khẩu, được thành lập để thúc đẩy phát triển thương mại giữa hai nước có chung biên giới.
Trong KKT cửa khẩu thường có các tiện ích phục vụ cho hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu như: Kho bãi, dịch vụ logistic, dịch vụ đóng gói, lắp ráp, sản xuất hàng hóa và có thể được hưởng các ưu đãi thuế. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Khu kinh tế mở 1. Quy định pháp lý Môi trường pháp lý là tổng thể các yếu tố tạo nên hệ thống quy tắc xã hội bao gồm các chủ thể của môi trường pháp lý và hệ thống các quy định xã hội. KKTM cũng ra đời và hoạt động trên cơ sở các quy định pháp lý, chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp lý.
Để một KKTM vận hành và phát triển tốt, thực hiện được vai trò, chức năng như kỳ vọng thì các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động của nó phải tạo được hành lang pháp lý phù hợp, tạo điều kiện cho các hoạt động trong KKTM và có liên quan đến KKTM diễn ra thuận lợi. Các quy định pháp lý có tác động đến KKTM bao gồm: - Các Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản hướng dẫn chuyên ngành quy định chung về các lĩnh vực như: Đầu tư, doanh nghiệp, thương mại, lao động, bảo hiểm, xây dựng, sản xuất chuyên ngành, tài chính,. có phạm vi áp dụng chung trên toàn quốc. Các quy định pháp lý này điều chỉnh chung các hoạt động kinh tế diễn ra trong nền kinh tế, theo đó trong trường hợp các văn bản pháp lý trên không có điều khoản quy định riêng cho KKTM thì các hoạt động trong KKTM phải thực hiện như các khu vực khác ở trong nước.
- Hệ thống văn bản pháp lý quy định riêng cho KKTM bao gồm: Văn bản khung về hoạt động của KKTM, văn bản của Chính phủ quy định trực tiếp cho mỗi KKTM (ví dụ: Quyết định thành lập KKTM, quyết định về chức năng nhiệm vụ đối với mỗi KKTM, các ưu đãi riêng dành cho từng KKTM), các văn bản do các Bộ, ngành ban hành quy định về hoạt động thuộc ngành dọc diễn ra trong KKTM, các văn bản ban hành chính sách ưu đãi mà địa phương có KKTM dành cho KKTM trên địa bàn của mình. Cùng với hệ thống văn bản pháp lý, các quy định, chính sách điều chỉnh hoạt động của KKTM thì hệ thống cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm thực thi các quy định, chính sách trên đóng vai trò quan trọng để các quy định, chính sách liên quan đến KKTM đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của các 8 dịch vụ tư vấn về luật cũng có vai trò rất quan trọng hỗ trợ các doanh nghiệp, cá nhân yên tâm hoạt động trên địa bàn KKTM. Tất cả các yếu tố trên tạo nên môi trường pháp lý cho các hoạt động của KKTM.
Hành lang pháp lý KKTM được xây dựng đồng bộ, rõ ràng, dễ hiểu, khả thi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cả cơ quan quản lý, cơ quan thực thi pháp luật cũng như thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhân trong KKTM hoạt động có hiệu quả. Môi trường kinh tế a. Các cam kết kinh tế quốc tế của quốc gia Các cam kết kinh tế quốc tế của quốc gia có tác động lớn đến sự phát triển của các KKTM ở quốc gia đó. Các cam kết kinh tế của quốc gia hay việc quốc gia tham gia vào liên minh kinh tế nào có tác động rất lớn đến sự phát triển của KKTM, nó tác động trực tiếp đến sức hấp dẫn đầu tư của KKTM, khả năng lưu thông hàng hóa của KKTM với từng khu vực trên thế giới.