CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG Trong hoạt động cấp tín dụng, cho vay là loại giao dịch phổ biến và thường xuyên, đây là lĩnh vực kinh doanh mang lại lợi nhuận cao, nhưng lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ, rủi ro. Chính vì vậy HĐTD là cơ sở để xác định phạm vi trách nhiệm của các bên, do đó HĐTD phải thể hiện các nguyên tắc pháp lý một cách rõ nét, vì vậy những khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc. của HĐTD cần phải được làm rõ.1 Một số nội dung liên quan của hợp đồng tín dụng Tín dụng là một phạm trù trong hoạt động kinh tế và đồng thời là một phần không thể tách rời khỏi nền kinh tế hàng hóa. Theo đó tín dụng chính là sự cho vay có hứa hẹn và có thời gian hoàn trả, chính vì vậy tín dụng được tạo nên bởi ba yếu tố chính là: lòng tin, tính có thời hạn và tính có hoàn trả1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng Ngân hàng và các tổ chức tín dụng với chức năng cơ bản và quan trọng thì không thể thiếu đó là hoạt động cấp tín dụng - cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Theo đó cấp tín dụng là sự thỏa thuận giữa một bên là tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc là cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (khoản 14 điều 4 luật các tổ chức tín dụng năm 2010), dựa trên quy định này hình thức của cấp tín dụng chính là HĐTD. Từ vấn đề trên thì HĐTD là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản, theo đó TCTD là bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên vay (tiền) để sử 1 Nguyễn Bích Thảo (2018), giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng theo pháp luật Việt Nam, NXB Tư pháp, tr. 1 dụng vào mục đích nhất định và trong một khoản thời hạn xác định dựa trên nguyên tắc thỏa thuận có hoàn trả số tiền gốc và lãi2.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tín dụng gồm có: Thứ nhất, hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng song vụ mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau3, khi đó mỗi bên trong HĐTD vừa là bên có quyền và đồng thời cũng có nghĩa vụ, quyền của bên này chính là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Việc xác định HĐTD là hợp đồng song vụ có ý nghĩa trong việc xác định vi phạm nghĩa vụ của các bên khi có tranh chấp xảy ra.
Theo đó khi các bên thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn, không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình 4. Ví dụ ngân hàng chưa thực hiện nghĩa vụ giải ngân theo HĐTD thì bên vay có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ trả gốc và lãi mà không bị coi là vi phạm hợp đồng. Thứ hai, khoa học pháp lý còn phân biệt thêm hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế theo đó HĐTD là loại hợp đồng ưng thuận, nghĩa là quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên thỏa thuận với nhau về mặt nội dung và đồng thời hiệu lực của hợp đồng phát sinh ngay sau thời điểm được giao kết5. Thứ ba, dựa trên việc trả gốc và lãi bao gồm lãi phát sinh khi trả quá hạn thì HĐTD chính là loại hợp đồng có đền bù.
Thứ tư, có sự chuyển quyền về sở hữu tài sản đối với số tiền vay từ bên cho vay sang bên vay, khi bên vay nhận được tiền thì đồng thời có đầy đủ ba quyền năng về tài sản là chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. 2 Nguyễn Bích Thảo (2018), giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng theo pháp luật Việt Nam, NXB Tư Pháp, tr. 3 Điều 402 bộ luật dân sự 2015. 5 Nguyễn Bích Thảo (2018), giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng theo pháp luật Việt Nam, NXB Tư Pháp, tr.2 Pháp luật về chủ thể và năng lực pháp lý trong tranh chấp hợp đồng tín dụng Năng lực pháp lý của chủ thể HĐTD là khả năng của các bên thông qua quyền và nghĩa vụ dựa theo quy định của pháp luật để tham gia vào các giao dịch vay, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý.1 Năng lực pháp lý của bên cho vay Hoạt động chính của chủ thể cho vay chính là hoạt động kinh doanh tiền tệ, đây là hoạt động kinh doanh có điều kiện theo sự thẩm tra, chấp thuận bằng văn bản của ngân hàng Nhà nước 6 gắn liền với các hoạt động này là các TCTD.
Thực tế giao dịch liên quan đến HĐTD thường được thực hiện tại các chi nhánh – phòng giao dịch, tuy nhiên những phòng giao dịch này không phải là chủ thể của HĐTD mà đây được xem là hoạt động dưới sự ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi chức năng, quyền hạn7, chính vì vậy năng lực pháp lý của bên cho vay chính là pháp nhân thực hiện hoạt động kinh doanh về tín dụng.2 Năng lực pháp lý bên vay Bên vay là tổ chức có tư cách pháp nhân, tham gia quan hệ cho vay vì mục đích lợi nhuận, những tổ chức này là các đơn vị kinh tế căn cứ theo luật doanh nghiệp 2020. Liên quan đến thẩm quyền giao kết HĐTD thì dựa theo quy định của pháp luật dân sự và luật doanh nghiệp, dựa theo đó năng lực pháp lý của bên vay là tổ chức có tư cách pháp nhân phải là người đại diện theo pháp luật hoặc theo sự ủy quyền nhân danh của đơn vị đó thực hiện. Bên vay là cá nhân hoặc không phải là pháp nhân cũng được pháp luật về dân sự và kinh doanh cho phép được tham gia vào quan hệ tín dụng – có quyền ký kết HĐTD và chịu trách nhiệm pháp lý. 6 Điều 20 luật các tổ chức tín dụng 2010.
7 Khoản 1 điều 84 luật dân sự 2015.3 Một số nội dung xác định để giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng về vi phạm nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi của bên vay đối với tổ chức tín dụng Thông thường tranh chấp HĐTD luôn phát sinh từ bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ về hoàn trả gốc và lãi vay theo thỏa thuận trong hợp đồng. Thực tiễn giải quyết đối với dạng tranh chấp này ít khó khăn do thường là bên vay thừa nhận nghĩa vụ của mình nhưng không có khả năng trả nợ. Đối với trường hợp này chỉ cần xác định: tính hiệu lực của hợp đồng đã giao kết có hay không có hiệu lực, TCTD đã giải ngân khoản vay chưa là có cơ sở xác định bên vay vi phạm nghĩa vụ trong HĐTD. Dựa theo vấn đề trên thì khi tòa án giải quyết tranh chấp HĐTD liên quan đến nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi của bên vay thường áp dụng các quy định pháp luật về giao dịch dân sự, giao kết hợp đồng trong pháp luật dân sự và một số quy định pháp luật chuyên ngành về HĐTD để giải quyết vụ việc.1 Cách xác định giao kết hợp đồng tín dụng Dựa theo quy định của BLDS thì giao kết hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự 8 do đó thì HĐTD phải là sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa bên cho vay và bên vay.
Thông thường HĐTD được giao kết khi bên vay đưa ra đề nghị và bên cho vay chấp nhận đề nghị đó, thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm mà bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết 9. Khi có nhu cầu vay vốn bên vay gửi cho TCTD đơn đề nghị vay vốn và các tài liệu kèm theo để xác định đủ điều kiện vay vốn, tiếp đến TCTD thẩm định hồ sơ đó như: khả năng đáp ứng điều kiện vay vốn, mục đích sử dụng vốn, biện pháp bảo đảm, khả năng tài chính – chi trả10. Trường hợp quyết định không cho vay tức là không có HĐTD được xác lập và trong trường hợp này thì TCTD phải báo cho bên đề nghị vay lý do khi 8 điều 385 bộ luật dân sự 2015. 9 Điều 400 bộ luật dân sự 2015.
10 Điều 94 luật các tổ chức tín dụng 2010. 4 họ có yêu cầu11. Nếu TCTD chấp thuận cho vay coi như đề nghị giao kết của bên vay được chấp thuận, thực tế trong hoạt động tín dụng TCTD thường đưa ra mẫu hợp đồng được soạn sẵn và yêu cầu khách hàng ký vào mẫu hợp đồng đó.2 Cách xác định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tín dụng Sau khi xác định HĐTD đã được giao kết bằng văn bản, tiếp theo phải xác định hợp đồng có hiệu lực hay không từ đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Dựa theo quy định điều 117 BLDS 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì phải đủ các điều kiện: Một là, chủ thể phải có năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp luật dân sự, phù hợp với HĐTD được xác lập.
Hai là, chủ thể tham gia vào HĐTD hoàn toàn tự nguyện. Ba là, mục đích và nội dung của HĐTD không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Bốn là, hình thức của HĐTD, (HĐTD vi phạm về hình thức không bị coi là vô hiệu nếu nội dung của hợp đồng đã được thực hiện hai phần ba nghĩa vụ12).3 Thực hiện hợp đồng tín dụng HĐTD là loại hợp đồng song vụ, nghĩa rằng khi các bên thực hiện hợp đồng thì đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn và không được hoãn với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình 13. Theo đó bên cho vay thực hiện nghĩa vụ giải ngân trước và nghĩa vụ hoàn trả của bên vay chỉ phát sinh sau khi khoản vay đó đã được giải ngân.
Ngoài ra BLDS còn quy định rằng trong hợp đồng song vụ, bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ 11 Điều 17 thông tư số 39/2016/TT-NHNN. 12 Điều 129 bộ Luật dân sự 2015. 13 Khoản 1 điều 410 luật Dân sự 2015. 5 hoặc có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ14.