CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI THEO THỦ TỤC SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án 1. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án Tranh chấp trong kinh doanh hay tranh chấp thương mại là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới. Nội hàm khái niệm tranh chấp không phải là một thuật ngữ mới, khi Nhà nước được hoàn thiện và pháp luật hình thành điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản như quan hệ dân sự thì các xung đột giữa các chủ thể trong các quan hệ này cũng xuất hiện theo đó, đây chính là nội hàm của tranh chấp, tuy nhiên nếu xét riêng về tranh chấp KDTM, hay nói cách khác là các tranh chấp xảy ra trong hoạt động này thì mới chỉ được biết đến và sử dụng rộng rãi ở nước ta sau thời kỳ thay đổi chính sách kinh tế, tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế mới có cơ hội phát triển từ đó hoạt động KDTM trở nên phổ biến hơn, pháp luật vì thế cũng tiến hành điều chỉnh quan hệ xã hội này và tất yếu các xung đột giữa các chủ thể trong quan hệ KDTM cũng sẽ diễn ra, từ đó khái niệm tranh chấp KDTM được sử dụng nhiều hơn.
Từ những năm 1994 các hoạt động kinh doanh thương mại tại Việt Nam diễn ra thường xuyên, các tranh chấp từ hoạt động thương mại cũng bắt đầu phát triển. Tuy vậy, các xung đột giữa các chủ thể trong quan hệ KDTM thực tế lại không hoàn toàn xấu mà đôi lúc là cơ sở để thúc đẩy sự phát triển của thị trường. Trong kinh tế, các bên đều muốn bảo toàn được toàn bộ quyền, lợi ích hợp pháp mà mình đáng ra phải được hưởng, nhưng khi xảy ra tranh chấp, các quyền lợi này có thể sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, vì thế các chủ thể trong tranh chấp luôn cố gắng nhanh chóng giải quyết mâu thuẫn giữa hai bên tránh 7 những hậu quả kinh tế kéo dài cho cả hai, đồng thời sau khi giải quyết, các bên cũng nhanh chóng tìm cách khôi phục lại các lợi ích đã mất bằng việc tìm kiếm đối tác mới, từ đó các doanh nghiệp cứ thế mà vận động với tốc độ nhanh, giúp cho nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước ta phát triển hơn. Cũng vì mong muốn nhanh chóng giải quyết tranh chấp cũng đặt ra vấn đề trong việc xây dựng các phương thức giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả, kín đáo và có giá trị pháp lý cao.
Trên thực tế, khái niệm tranh chấp thương mại được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và có nhiều tên gọi khác nhau: Tranh chấp kinh tế, tranh chấp thương mại, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp về kinh doanh, thương mại. Khái niệm này lần đầu tiên được đề cập cùng với văn bản pháp luật đầu tư điều chỉnh lĩnh vực thương mại: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Nhưng do nhận thức về KDTM thời kỳ này chưa cao và trình độ lập pháp chưa hiệu quả nội hàm khái niệm trên đã bỏ sót nhiều quan hệ KDTM cũng xảy ra tranh chấp trong thực hiện như trong lĩnh vực xây dựng, bảo hiểm, đầu tư, ngân hàng,…1 LTM 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, tại điều 3 khoản 1 LTM 2005 định nghĩa “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” nhưng lại bỏ đi quy định về khái niệm “tranh chấp thương mại” – khái niệm đã được đề cập ở Luật Thương mại 1997 cũng như không đưa ra cách thức giải quyết các tranh chấp này. Đến khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực, khái niệm tranh chấp về kinh doanh, thương mại một lần nữa được đề cập và việc giải quyết các tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Điều 30 Bộ luật 1 http://iamlawfirm.com/tranh-chap-kinh-doanh-thuong-mai.html 8 Tố tụng dân sự năm 2015).
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp thương mại” độc lập mà sử dụng chung thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh, thương mại” nhưng nội dung của các tranh chấp về kinh doanh thương mại được quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự thực chất là các tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật Thương mại năm 2005. Điều đó cho thấy, mặc dù có sự khác nhau về cách thức biểu đạt và ngôn ngữ sử dụng nhưng nhìn chung quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại được thể hiện qua các quy định trong các văn bản pháp luật tương đối nhất quán. Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất hay văn bản pháp lý nào quy định về tranh chấp kinh doanh thương mại mà nó mới chỉ dừng lại ở vấn đề quan điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp cận nó thông qua luật nội dung và luật tố tụng. Như vậy, có thể hiểu tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thương mại và đầu tư.
Và có thể định nghĩa tranh chấp kinh doanh thương mại như sau: “Tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại”. Từ định nghĩa nêu trên, ta nhận thấy tranh chấp kinh doanh gồm những đặc điểm cụ thể sau đây: Thứ nhất, chủ thể chủ yếu của tranh chấp kinh doanh thương mại là thương nhân, quan hệ kinh doanh thương mại có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với bên không phải là thương nhân. Một tranh chấp được coi là tranh chấp kinh doanh thương mại khi có ít nhất một bên là thương nhân. Ngoài ra cũng có một số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại: tranh chấp giữa công ty – thành viên công ty; tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợp nhất, giải thể, chia, tách công ty… 9 Thứ hai, căn cứ phát sinh tranh chấp kinh doanh thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật, trong nhiều trường hợp, tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp.
Nội dung của tranh chấp kinh doanh thương mại là những xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong hoạt động kinh doanh thương mại. Các quan hệ kinh doanh thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản, nên nội dung tranh chấp thương liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên. Thứ ba, về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại, tranh chấp kinh doanh thương mại đòi hỏi được giải quyết thỏa đáng nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cương xã hội. Hiện nay tranh chấp kinh doanh thương mại được giải quyết bằng các phương thức: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và Tòa án.
Mỗi phương thức có sự khác nhau về tính chất pháp lý, nội dung của thủ tục, trình tự tiến hành. Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mâu thuẫn phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhằm phân xử để làm rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên, buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên vi phạm. Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại được tiến hành khi có một bên cho rằng quyền lợi của họ bị xâm phạm và có yêu cầu đến Tòa án. Từ đó, các bên sẽ nhận được phán quyết nhằm xác định lại quyền và nghĩa vụ, giữ gìn tình đoàn kết, dung hòa các xung đột.
So với phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án thì hiện nay ở nước ta việc hòa giải theo sự phát triển, hội nhập của quốc tế thì phương thức giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài cũng được quan tâm. Trong cơ chế thị 10 trường, cùng với sự vận động đa dạng và phức tạp của các quan hệ kinh tế trong nước cũng như quan hệ thương mại quốc tế, trọng tài ngày càng khẳng định vai trò chủ đạo trong giải quyết các tranh chấp thương mại. “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”. Do đó, trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên đối với một vụ tranh chấp mà chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên tranh chấp thỏa thuận chỉ định (thỏa thuận trọng tài).
Chính vì vậy, Tòa án cũng đã quy định về công nhận phán quyết của Trọng tài thông qua Tòa án. Tuy nhiên việc này làm kéo dài thời gian khi phải thông qua hai phương thức giải quyết và thủ tục tố tụng cũng không rõ ràng khi các chủ thể kinh tế muốn thực hiện. Có thể nói, giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng Tòa án – một cơ quan Nhà nước, hoạt động xét xử của nó mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và đóng vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật; phán quyết của Tòa án được đảm bảo thi hành và thủ tục giải quyết của Tòa án rất chặt chẽ, rất phức tạp và không thể thay đổi được; phán quyết của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị hoặc có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.