Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Xu hướng nghề nghiệp của học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang" do tác giả Nguyễn Thị Phương Huỳnh thực hiện năm 2012 tại Khoa Tâm lý Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Tứ. Đề tài thuộc chuyên ngành Tâm lý học, hướng đến việc giải quyết những vấn đề thực tiễn trong công tác định hướng và lựa chọn nghề nghiệp của học sinh bậc trung học phổ thông.
Theo lý giải của tác giả, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường lao động tại Việt Nam chứng kiến sự biến chuyển mạnh mẽ về cơ cấu ngành nghề cùng sự phân hóa nguồn nhân lực. Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông (THPT) là giai đoạn mang tính bước ngoặt, khi việc học tập gắn liền với quyết định chọn ngành nghề cho cả cuộc đời. Tuy nhiên, thực tế tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2011 cho thấy sự mất cân đối rõ rệt: hồ sơ đăng ký dự thi vào khối A và B thuộc phân ban khoa học tự nhiên (đặc biệt là nhóm ngành kinh tế) chiếm trên 75%, trong khi khối C và D chiếm tỷ lệ rất thấp. Phần lớn học sinh hướng về các ngành kinh tế nhằm tìm kiếm thu nhập ổn định mà ít chú ý đến các khối ngành khoa học cơ bản, nghiên cứu kỹ thuật hay lao động trí óc chuyên sâu. Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy các nghiên cứu về xu hướng nghề nghiệp trước đây chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn hoặc khu vực trung tâm, còn khu vực nông thôn và các huyện lân cận thuộc Đồng bằng sông Cửu Long như huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang gần như chưa được khảo sát cụ thể.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu thực trạng xu hướng nghề nghiệp của học sinh THPT tại huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, từ đó đề xuất một số biện pháp sư phạm và quản lý nhằm giúp học sinh hình thành nhận thức và thái độ đúng đắn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai phù hợp với bản thân và nhu cầu xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 3 nội dung:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xu hướng nghề nghiệp của học sinh THPT.
- Khảo sát thực trạng xu hướng nghề nghiệp của học sinh THPT trên địa bàn huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm giúp học sinh THPT có những điều kiện tốt để lựa chọn cho mình một nghề nghiệp phù hợp trong tương lai.
Đề tài vận hành trên 2 giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Đa số học sinh các trường THPT tại huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang có xu hướng nghề nghiệp là thi và học lên đại học.
- Giả thuyết 2: Học sinh lựa chọn nghề nghiệp phần lớn theo sở thích nhất thời của cá nhân hoặc chỉ căn cứ vào một vài yếu tố mà chưa có sự quan tâm đầy đủ đến các yếu tố quan trọng như năng lực, sở thích và nhu cầu xã hội.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là xu hướng nghề nghiệp của học sinh THPT. Khách thể nghiên cứu chính gồm 357 học sinh thuộc cả 3 khối lớp 10, 11 và 12; khách thể bổ trợ gồm Hiệu trưởng, Hiệu phó, giáo viên phụ trách công tác hướng nghiệp, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn. Về phạm vi không gian, đề tài khảo sát tại 3 trường THPT đại diện trên địa bàn huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang: Trường THPT Vĩnh Bình, Trường THPT Nguyễn Văn Thìn và Trường THPT Long Bình. Về phạm vi nội dung, đề tài tập trung đo lường xu hướng nghề nghiệp qua 3 thành tố: dự định, hứng thú và động cơ chọn nghề.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các quan niệm tâm lý học về xu hướng nhân cách từ các học giả Liên Xô (P. Rudik, A. Kovalev, V.S. Merlin, N. Levitov) và thuyết hướng tâm lý của D. Uznadze. Tác giả định nghĩa xu hướng là hệ thống những động lực thúc đẩy, quy định tính lựa chọn thái độ và tính tích cực của con người hướng tới mục tiêu có ý nghĩa đối với đời sống bản thân, biểu hiện qua: nhu cầu, hứng thú, thế giới quan, niềm tin, lý tưởng và hệ thống động cơ.
Đối với khái niệm nghề nghiệp, khóa luận viện dẫn quan điểm của X. Xtrumilin, Nguyễn Tiết Đạt, E.A. Klimov và Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học để làm rõ 3 đặc trưng: công việc chuyên môn đòi hỏi tri thức và kỹ năng; hoạt động có mục đích mang lại lợi ích kép cho cá nhân và xã hội; và một phạm trù lịch sử gắn liền với sự phân công lao động xã hội. Về phân loại nghề nghiệp, tác giả giới thiệu các khung lý thuyết của John Holland (6 nhóm kiểu người và môi trường), Phạm Tất Dong (8 loại nghề), A.E. Golomshtok (13 lĩnh vực tri thức - hoạt động), và đặc biệt lựa chọn mô hình phân loại theo đối tượng lao động của E.A. Klimov làm hệ quy chiếu thực nghiệm. Theo Klimov, nghề nghiệp được chia thành 5 nhóm:
- Người - Thiên nhiên (đối tượng sinh vật, nông nghiệp, sinh thái).
- Người - Kỹ thuật (thiết bị kỹ thuật, vật chất, máy móc).
- Người - Người (con người, nhóm, tập thể, giáo dục, y tế, dịch vụ).
- Người - Hệ thống ký hiệu (con số, ngôn ngữ, mã số, văn thư, kế toán).
- Người - Nghệ thuật (hình tượng nghệ thuật, hội họa, điêu khắc, biểu diễn).
Khóa luận nhấn mạnh lý thuyết về sự phù hợp nghề nghiệp với 4 mức độ: không phù hợp, phù hợp một phần, phù hợp phần lớn và phù hợp toàn phần. Để đạt sự phù hợp, việc chọn nghề phải hướng tới "miền chọn nghề tối ưu" — vùng giao thoa giữa ba điều kiện:
- "Tôi muốn": Phù hợp với hứng thú, nguyện vọng của cá nhân.
- "Tôi có thể": Phù hợp với năng lực, sức khỏe, điều kiện thực tế của bản thân.
- "Tôi phải": Phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động và yêu cầu phát triển sản xuất của xã hội.
Về động cơ chọn nghề, tác giả tổng hợp thang bậc động cơ của E. Pavliutenkov (9 nhóm động cơ), quan điểm của Nguyễn Ngọc Bích (động cơ bên trong và động cơ bên ngoài) và mô hình phân loại của Nguyễn Quang Uẩn chia thành 3 nhóm động cơ: động cơ cá nhân, động cơ xã hội và động cơ công việc.
Khóa luận sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích và tổng hợp các công trình tâm lý học, giáo dục học trong và ngoài nước để xác lập cơ sở lý luận.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (phương pháp chủ đạo): Thiết kế bảng hỏi gồm Phần A (thông tin cá nhân: trường, lớp, giới tính, ban học, học lực, kinh tế gia đình) và Phần B gồm 10 câu hỏi khảo sát nhận thức, dự định, hứng thú, động cơ, rào cản, kênh thông tin và đánh giá công tác hướng nghiệp.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp qua điện thoại đối với cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Hiệu phó), giáo viên hướng nghiệp, giáo viên chủ nhiệm và học sinh nhằm kiểm chứng và giải thích sâu các số liệu thu được.
- Phương pháp xử lý toán thống kê: Nhập và xử lý toàn bộ dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 16.0.
Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập trực tiếp tại 3 trường THPT trên địa bàn huyện Gò Công Tây, với tổng số 365 phiếu phát ra, thu về 357 phiếu hợp lệ và 8 phiếu không hợp lệ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương I tập trung vào 4 nội dung trọng tâm: lịch sử nghiên cứu vấn đề, hệ thống khái niệm cơ bản, đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT liên quan đến chọn nghề, và các yếu tố tác động đến xu hướng nghề nghiệp.
Trong phần tổng quan lịch sử, tác giả phân tích các nghiên cứu quốc tế từ các tác giả V. Barbinova (hứng thú và dự định nghề), E. Pavliutenkov (hệ thống 9 nhóm động cơ chọn nghề), N. Levitov, V.A. Cruchetxki, A. Maslow (nhu cầu thỏa mãn nghề nghiệp), Nay Matk và V. Tsêbưsêva (nhận thức nghề). Tại Việt Nam, tác giả điểm qua các công trình của Viện Khoa học Giáo dục (1975), nhóm nghiên cứu Nguyễn Thị Xuân Hòa - Nguyễn Thị Bích Hồng - Phạm Thị Dung (1986-1987), Phạm Nguyệt Lãng và Trần Anh, Nguyễn Quang Uẩn, Phạm Tất Dong, Nguyễn Ngọc Bích, Phan Thị Tố Oanh, Nguyễn Thạc và Nguyễn Thị Ngọc Liên, Đào Thị Oanh, Đặng Hoàng Minh. Điểm chung của các nghiên cứu trước đây là chỉ ra rằng học sinh THPT có xu hướng tập trung chọn học lên đại học, nhận thức về nghề còn phiến diện, hứng thú hình thành muộn và chịu chi phối mạnh bởi tâm lý chuộng bằng cấp.
Về đặc điểm lứa tuổi (14–18 tuổi), chương này phân tích sự hoàn thiện của hệ thần kinh và thể chất tạo tiền đề cho các hoạt động tư duy phân tích, tổng hợp phức tạp. Hoạt động học tập của học sinh chuyển dần từ tiếp thu tri thức thuần túy sang định hướng nghề nghiệp. Tuy nhiên, tư duy của lứa tuổi này vẫn còn hạn chế: thiếu tính độc lập, dễ suy nghĩ cảm tính, học lệch, học tủ các môn thi đại học và có xu hướng tuyệt đối hóa con đường vào đại học mà bỏ qua các trường dạy nghề hoặc năng lực thực tế. Tác giả khẳng định xu hướng nghề nghiệp của học sinh THPT là một cấu trúc tâm lý gồm 3 thành tố: hứng thú nghề nghiệp, dự định chọn nghề và động cơ chọn nghề. Các yếu tố chi phối xu hướng này gồm: công tác hướng nghiệp của nhà trường, điều kiện kinh tế gia đình, sự định hướng của cha mẹ, định kiến xã hội và năng lực chủ quan của học sinh.
Chương II: Thực trạng xu hướng nghề nghiệp của học sinh THPT trên địa bàn huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang
Chương II phản ánh bức tranh thực nghiệm thông qua kết quả xử lý 357 phiếu khảo sát và các biên bản phỏng vấn. Tác giả phác thảo bối cảnh 3 trường khảo sát: Trường THPT Vĩnh Bình có cơ sở vật chất khang trang, điểm chuẩn đầu vào cao và học lực học sinh tốt nhất huyện; Trường THPT Nguyễn Văn Thìn (chuyển đổi từ loại hình bán công trước năm 2009) có điểm chuẩn đầu vào thấp và học lực trung bình; Trường THPT Long Bình nằm ở vùng sâu xa, còn mô hình liên cấp THCS - THPT, cơ sở vật chất cũ kỹ và khả năng tiếp cận thông tin nghề nghiệp còn nhiều bất cập.
Bảng số liệu tổng hợp về đặc điểm khách thể nghiên cứu được tác giả công bố như sau:
| Tiêu chí phân loại |
Nhóm phân loại |
Tỷ lệ trong mẫu khảo sát (%) |
| Điều kiện kinh tế gia đình |
Mức bình thường |
Chiếm đa số mẫu |
|
Mức khó khăn |
13,0% |
|
Mức khá giả |
5,0% |
| Xếp loại học lực |
Trung bình |
59,7% |
|
Khá |
30,0% |
|
Giỏi |
2,0% |
| Trường khảo sát |
THPT Vĩnh Bình |
Trường trung tâm, điểm tuyển sinh cao |
|
THPT Nguyễn Văn Thìn |
Tiền thân bán công, điểm tuyển sinh thấp |
|
THPT Long Bình |
Vùng xa, liên cấp THCS - THPT, cơ sở cũ |
Từ việc phân tích 10 câu hỏi điều tra và các bảng tương quan (Bảng 2.3 đến Bảng 2.16), chương này làm rõ:
- Mức độ quan tâm và thời điểm định hình nghề nghiệp: Phần lớn học sinh chỉ bắt đầu quan tâm nghiêm túc đến việc chọn nghề vào giai đoạn cuối cấp (học kỳ 2 lớp 11 và năm lớp 12).
- Dự định sau tốt nghiệp: Dự định thi và học lên đại học, cao đẳng chiếm tỷ lệ áp đảo so với các lựa chọn học trung cấp chuyên nghiệp, học nghề ngắn hạn hoặc trực tiếp tham gia lao động sản xuất.
- Hứng thú nghề nghiệp theo nhóm nghề Klimov: Học sinh tập trung hứng thú vào nhóm nghề Người - Người (giáo dục, y tế, dịch vụ) và Người - Kỹ thuật; nhóm Người - Thiên nhiên (nông - lâm - ngư nghiệp) nhận được mức độ hứng thú rất thấp dù địa bàn nghiên cứu là huyện thuần nông.
- Động cơ và giá trị nghề nghiệp: Động cơ cá nhân và động cơ công việc (thu nhập cao, cơ hội thăng tiến, dễ xin việc làm) chiếm ưu thế hơn động cơ xã hội.
- Khó khăn và nguồn thông tin: Học sinh gặp trở ngại lớn nhất là thiếu thông tin về thị trường lao động, không tự đánh giá chính xác năng lực bản thân và thiếu các chương trình tư vấn hướng nghiệp chuyên sâu. Nguồn thông tin chính mà các em tiếp cận chủ yếu từ gia đình, bạn bè và internet, trong khi vai trò tư vấn của giáo viên tại trường còn mờ nhạt.
Từ thực trạng trên, tác giả đề xuất 3 nhóm biện pháp trọng tâm:
- Xây dựng đội ngũ giáo viên có chuyên môn, chuyên trách phụ trách công tác tư vấn hướng nghiệp tại các trường THPT.
- Tăng cường kinh phí và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục hướng nghiệp ngoài giờ lên lớp.
- Tổ chức có hiệu quả công tác truyền thông, cung cấp thông tin thị trường lao động và nghề nghiệp giúp học sinh định hướng dễ dàng.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả định lượng, khóa luận đã lượng hóa cụ thể các chỉ số nhân khẩu học và tâm lý học của mẫu nghiên cứu 357 học sinh tại huyện Gò Công Tây:
- Tỷ lệ phiếu hợp lệ đạt 97,8% (357/365 phiếu); 8 phiếu không hợp lệ (chiếm 2,2%).
- Về học lực: Học sinh có học lực trung bình chiếm tỷ lệ đa số với 59,7%; học lực khá chiếm khoảng 30,0%; học lực giỏi chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn với khoảng 2,0%.
- Về điều kiện kinh tế: Học sinh thuộc gia đình kinh tế khó khăn chiếm 13,0%; gia đình khá giả chỉ chiếm 5,0%; phần lớn còn lại thuộc diện kinh tế trung bình.
- Dữ liệu bối cảnh tuyển sinh toàn quốc năm 2011 được kiểm chứng với hơn 75% hồ sơ tập trung vào khối A, B thuộc phân ban tự nhiên.
Về đóng góp học thuật và thực tiễn, đề tài là công trình nghiên cứu thực chứng đầu tiên khảo sát một cách toàn diện về xu hướng nghề nghiệp của học sinh THPT tại một địa bàn nông thôn cụ thể là huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Khóa luận đã:
- Làm sáng tỏ sự sai lệch giữa nguyện vọng chọn nghề (tập trung vào đại học và nhóm ngành kinh tế - kỹ thuật) với năng lực học tập thực tế (gần 60% học lực trung bình) và hoàn cảnh kinh tế gia đình tại địa phương.
- Chỉ ra sự khác biệt về nhận thức và xu hướng nghề giữa các nhóm trường có điều kiện cơ sở vật chất và điểm đầu vào khác nhau (THPT Vĩnh Bình so với THPT Nguyễn Văn Thìn và Long Bình).
- Xây dựng được bảng hỏi chuẩn hóa 10 câu đo lường đa chiều về xu hướng nghề nghiệp (từ hứng thú, dự định, động cơ đến các rào cản nhận thức), làm cơ sở thực nghiệm cho các nhà quản lý giáo dục địa phương.
Về mặt giải pháp, tác giả kiến nghị cụ thể:
- Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Gò Công Tây (hoặc Sở GD&ĐT tỉnh Tiền Giang): Cần quy hoạch mạng lưới tư vấn nghề liên trường, cấp ngân sách và tài liệu chuẩn cho hoạt động hướng nghiệp cấp huyện.
- Đối với Ban Giám hiệu các trường THPT: Đưa hoạt động tư vấn nghề thành nội dung giáo dục bắt buộc; bố trí giáo viên được đào tạo tâm lý - hướng nghiệp thay vì phân công kiêm nhiệm hình thức; tổ chức các buổi giao lưu ngành nghề và tham quan thực tế.
- Đối với phụ huynh học sinh: Cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường, tránh áp đặt định kiến xã hội hoặc kỳ vọng quá mức vào việc vào đại học, lắng nghe nguyện vọng và đánh giá đúng năng lực con em.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận các giới hạn nghiên cứu chính sau:
- Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Đề tài chỉ thực hiện trong phạm vi hành chính của huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, tập trung tại 3 trường THPT (Vĩnh Bình, Nguyễn Văn Thìn, Long Bình) nên tính đại diện cho toàn tỉnh Tiền Giang hoặc vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn hạn chế.
- Quy mô mẫu: Dung lượng mẫu khảo sát dừng lại ở 357 học sinh (mỗi khối lớp chọn ngẫu nhiên 1 lớp/trường, quy mô 35–45 học sinh/lớp).
- Giới hạn nội dung: Xu hướng nghề nghiệp chỉ được khảo sát giới hạn qua 3 thành tố: dự định, hứng thú và động cơ; chưa đi sâu đo lường các phẩm chất tâm lý đặc thù hoặc mức độ tương thích sinh học - thần kinh của từng học sinh đối với các ngành nghề cụ thể. Khách thể bổ trợ (cán bộ quản lý, giáo viên) chỉ dừng ở phỏng vấn định tính chứ chưa khảo sát định lượng trên diện rộng.
Hướng nghiên cứu tiếp được mở ra từ đề tài bao gồm việc mở rộng quy mô khảo sát sang các huyện thị lân cận thuộc tỉnh Tiền Giang; tiến hành nghiên cứu dọc (longitudinal study) theo dõi sự biến chuyển từ dự định chọn nghề ở lớp 12 đến kết quả chọn trường thực tế sau tốt nghiệp; và xây dựng, thử nghiệm các mô hình can thiệp tâm lý hướng nghiệp chuyên biệt cho học sinh khu vực nông thôn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Sư phạm làm các đề tài về tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học sư phạm, hướng nghiệp học đường và công tác xã hội trong trường học.
- Cán bộ quản lý giáo dục, Ban Giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên phụ trách hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường THPT ở khu vực nông thôn, giúp nhận diện rõ tâm lý học sinh để điều chỉnh công tác định hướng phân luồng sau trung học.
Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận là:
- Khung lý thuyết phân loại nghề nghiệp của E.A. Klimov kết hợp với sơ đồ "miền chọn nghề tối ưu" (sự giao thoa giữa Tôi muốn - Tôi có thể - Tôi phải).
- Thiết kế phiếu điều tra 10 câu hỏi (Phần B của bảng hỏi) bao quát toàn diện các khía cạnh tâm lý của việc chọn nghề, có thể kế thừa làm công cụ khảo sát thực địa.
- Quy trình xử lý dữ liệu thống kê mô tả và so sánh chéo các biến số (trường học, khối lớp, giới tính, học lực) bằng phần mềm SPSS.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng mô hình phân loại nghề nghiệp nào làm hệ quy chiếu lý luận chính cho nghiên cứu thực nghiệm?
Tác giả lựa chọn mô hình phân loại nghề nghiệp theo đối tượng lao động của E.A. Klimov làm hệ quy chiếu chính. Theo mô hình này, thế giới nghề nghiệp được chia thành 5 nhóm: Người - Thiên nhiên, Người - Kỹ thuật, Người - Người, Người - Hệ thống ký hiệu, và Người - Nghệ thuật. Lý do lựa chọn là mô hình này phù hợp với định hướng giáo dục hướng nghiệp phổ thông vì việc chọn nghề trước hết là chọn đối tượng mà con người sẽ tương tác và tác động lao động.
2. Khách thể nghiên cứu và số lượng phiếu khảo sát thực tế của đề tài là bao nhiêu?
Khách thể chính của đề tài gồm 357 học sinh thuộc các khối lớp 10, 11 và 12 tại 3 trường THPT: THPT Vĩnh Bình, THPT Nguyễn Văn Thìn và THPT Long Bình trên địa bàn huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Tổng số phiếu phát ra là 365 phiếu, thu về 357 phiếu hợp lệ và 8 phiếu không hợp lệ. Ngoài ra còn có khách thể bổ trợ gồm Hiệu trưởng, Hiệu phó, giáo viên phụ trách hướng nghiệp, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn tham gia phỏng vấn định tính.
3. Đặc điểm học lực và điều kiện kinh tế gia đình của mẫu học sinh khảo sát tại huyện Gò Công Tây được thống kê như thế nào?
Dữ liệu tại Bảng 2.2 của khóa luận cho thấy: về kinh tế, đại đa số học sinh có điều kiện gia đình ở mức bình thường, nhóm khó khăn chiếm 13,0%, và nhóm khá giả chỉ chiếm 5,0%. Về học lực, học sinh có học lực trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất với 59,7%, học lực khá chiếm 30,0%, và học sinh giỏi chỉ chiếm 2,0%.
4. Bảng hỏi điều tra của đề tài khảo sát những nội dung cụ thể nào của học sinh THPT?
Bảng hỏi gồm 10 câu hỏi khảo sát các nội dung: (1) Thời điểm quan tâm đến việc chọn nghề; (2) Dự định sau khi tốt nghiệp THPT; (3) Dự định và hứng thú đối với các nhóm nghề; (4) Động cơ chọn nghề; (5) Các giá trị nghề nghiệp được quan tâm; (6) Nguồn thông tin giúp ích trong việc chọn nghề; (7) Những khó khăn gặp phải khi định hướng nghề; (8) Những hoạt động học sinh đã thực hiện để phục vụ chọn nghề; (9) Các biện pháp học sinh đề xuất để hỗ trợ chọn nghề; và (10) Đánh giá mức độ cần thiết của công tác tư vấn hướng nghiệp tại trường.
5. Hai giả thuyết nghiên cứu được tác giả đặt ra trong khóa luận là gì?
Tác giả đặt ra 2 giả thuyết: (1) Đa số học sinh các trường THPT tại huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang có xu hướng nghề nghiệp là thi và học lên đại học; (2) Học sinh lựa chọn nghề nghiệp phần lớn theo sở thích nhất thời của cá nhân hoặc chỉ căn cứ vào một vài yếu tố mà chưa có sự quan tâm đầy đủ đến những yếu tố quan trọng như năng lực, sở thích và nhu cầu xã hội.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp "Xu hướng nghề nghiệp của học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang" của tác giả Nguyễn Thị Phương Huỳnh (năm 2012) là một nghiên cứu thực nghiệm tâm lý học học đường có hệ thống lý luận chặt chẽ và dữ liệu thực địa rõ ràng. Đề tài đã phản ánh chân thực thực trạng chọn nghề còn mang nặng tính cảm tính, thiên lệch về bậc học đại học và thiếu cân đối với năng lực thực tế của học sinh THPT tại vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long. Các giải pháp đề xuất về kiện toàn đội ngũ giáo viên hướng nghiệp chuyên trách, tăng cường ngân sách và đổi mới truyền thông nghề nghiệp có giá trị ứng dụng thiết thực cho các trường phổ thông trên địa bàn khảo sát.