CHƯƠNG 1.1 Giới thiệu về vật liệu nano và công nghệ nano 1.1 Vat liệu nano Vật liệu nano là các tô chức, câu trúc. thiết bi, hệ thông. có kích thước nano (khoảng từ 1 đến vải tram nanomet, tức cỡ nguyên tử, phân tử hay đại phân tử - macromolecule). Do kích thước của chúng có thể so sánh với kích thước tới hạn của nhiều tính chất hóa lý của vật liệu, các quy luật của vật lý cô điển không còn ảnh hướng đến vật liệu ma chỉ còn có ảnh hưởng của hiệu ứng lượng tử.
Hơn nữa, khi vật liệu có kích thước nanomet, số nguyễn tử nằm trên bẻ mặt sẻ chiếm tỉ lệ đảng kẻ so với téng số nguyên tử. Chính vi vậy các hiệu ứng cỏ liên quan đến bề mặt, gọi tắt la hiệu ứng bẻ mat sẽ trở nên quan trọng. vật liệu có kích thước nano có những tỉnh chất hỏa học, nhiệt, điện, tử, quang, xúc tác. đặc biệt, khác hắn vật liệu có kích thước lớn.
Vì vậy, vật liệu nano được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực {6]. Thông thường vật liệu nano được phân ra thành nhiều loại, phụ thuộc vào hình dạng, câu trúc của vật liệu và kích thước của chúng. Vật liệu nano có thể có kích thước nano theo một chiều (mảng nano.), hai chiều (sợi nano, dng nano.) hay ba chiều (hạt nano, đám nano. Hat nano là loại vật liệu nano không chiều (OD) với cả ba chiều đều có kích thước nano, không còn chiều tự do nào cho điện tử.
Các hạt nano đã được biết đến va sử dụng từ nhiều thế ký, ví dụ làm chất màu cho thủy tỉnh và men [6]. Ngày nay, vật liệu nano perovskite đang được quan tâm nghiên cứu do thẻ hiện nhiều tỉnh năng ưu việt vẻ các tính chất điện.2 Công nghệ nano Nano là tiếng gọi tắt của nanomet (ký hiệu nm, | nm = 10° m hay là 0.000000001 m) là một đơn vị đo lường & thứ nguyên nguyên tử hay phân tử. Nanomet là điểm kỷ diệu trong kích thước chiều dai, là điểm mà tại đó những vật sáng chế nhỏ nhất do con người tạo ra ở cấp độ nguyên tứ và phân tử của thẻ giới tự nhiên |3]. Công nghệ nano liên quan đến việc lợi dụng những hiện tượng ở đơn vị nanomet đề thiết ké vật liệu và vật chat với những chức năng đặc biệt ngay tử thang nguyên tử hoặc phân tử.
GVHD: Nguyễn Anh Tiên SVTH: Châu Hằng [Diễm Năm 1959, Tiến si Richard Feynman (1918-1988, giải Nobel Vật lý 1965) đã có một du đoán tai tinh ve công nghệ nano trong một bai điển văn tai Hội nghị hằng năm của Hội Vật lý Hoa kỳ. dé xuất ý kiến hãy học tập các hệ sinh học để chế tạo các thiết bị có kích thước thu nhỏ đến nguyên tử, phân tử. Đến năm 1974, thuật ngữ “nanotechnology” được Norio Taniguchi sử dung lần dau tiên, và đến năm 1981, Kinh hiển vi quét đầu dé được phat minh cho phép thấy được từng phân tứ. bắt đầu cho ngành công nghệ nano hiện đại {6}.
Công nghệ nano có img dụng rat lớn trong cuộc sống vả la một công nghệ triển vọng ngay tại thời điểm hiện tại Lin tương lai. Nhiều nha nghiên cứu dự bảo ring, công nghệ nano sẽ đem lại một cuộc cách mạng mới, ma tiém năng ứng dung của no hiện nay mới chi đang được thao luận ở mức độ sơ khai. Hiện nay, công nghệ nano đã đạt được nhiều thành công trong việc chủ động biến đổi các tính chất điện. từ va quang học của vật chat, thông qua phương pháp làm biển đổi cau trúc nguyên tử chất rắn.
Công nghệ nano hứa hẹn sẽ thay đối cuộc sống của con người, đem lại những đóng góp to lớn cho đới sống kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng.2 Khái quát về vật liệu perovskite ABO Perovskite là tên gọi chung của các vật liệu gốm có cau trúc tinh thể giống với cấu trúc của vật liệu gốm calci titanate (CaTiOs). Tên gọi của perovskite được đặt theo tên của nhà khoáng vật học người Nga L. Perovski (1792-1856), người có công nghiên cứu và phát hiện ra vật liệu này ở vùng núi Uran của Nga vào năm 1839. Công thức phan tử chung của các hợp chất perovskite là ABOs với A và B là các ion (cation) có bán kính khác nhau.
Ở vị trí của ion oxy, có thé là một số nguyén tổ khác, nhưng phỏ biến nhất vẫn là oxy. Tùy theo nguyên tế 6 vị trí B ma có thé phân thành nhiều họ khác nhau. ví dụ như họ manganite khi B = Mn, họ titanate khi B = Ti hay ho cobaltite khi B = Co.1 Vật liệu perovskite thuan Hợp chat perovskite ABO) thuận có cầu trúc tinh thé với 6 mạng cơ sở là hình lap phương tâm khỏi với các thông s6 mạng a = b = c và œ = [3 = y = 909. Thông thường, bán kính cation A nằm tại tâm các mặt hình lập phương lớn hơn so với cation B tại tâm hình lập phương.
Cầu trúc của perovskite thường là biển thé GVHD. Nguyễn Anh Tiến SVTH. Châu Hồng Diễm từ cu trúc lập phương với các cation A nắm ở đính của hinh lập phương, có tâm là cation B. Cation này cũng la tam của một bát diện tao ra bởi các anion O O Vitrication aa") © Vitrication B“(B") © Vị tri cation O” Hinh !.1 Cau trúc ABO; thuần 1.2 Vat liệu perovskite pha tap Vật liệu ABO; pha tạp là vật liêu có ion A hoặc B được thay thé một phan bởi các ion khác, có thê viet dưới dạng công thức (A1.
A có thể là các nguyên tế đất hiểm như La, Nd, Y., A’ là kim loại kiểm thé như Sr, Ba, Ca. hoặc các nguyễn tế Ti, Ag, Pb.; B cỏ thé là Mn, Fe., B' là Ni, Co. Dé đặc trưng cho mức độ méo mạng tinh thé A BO (điều kiện bén ving cấu trúc perovskite), V Gold Schmitdt (1958) đã đưa ra định nghĩa vẻ thừa số Gold Schmitdt t= La.45,+) (trong đó rạ, r, f> lan lượt lả bán kính của các ion ở vi tri A, B, O) Cau trúc perovskite được coi là ôn định khi 0.Os với ion Y** (r, = 0.094 nm) và Fe** (m = 0. có thé dự đoán vật liệu này sé có dạng tỉnh thé trực thoi.
Các perovskite ABO) khi được pha tạp thay thé sẽ tạo ra trạng thái hỗn hợp hỏa trị vả sai lệch cau trúc làm cho hợp chat nên trở thánh vật liệu có nhiều ứng dụng như: hiệu ứng nhiệt điện, hiệu ứng tử trở không 16, hiệu ứng tử nhiệt. vật liệu perovskite ho ferrite được quan tim không chỉ vi chúng đồng thời thé hiện các tinh chất sắt tử và sắt điện ma cũng con do chúng có “hiệu ứng điện từ”, phân cực từ va phân cực điện được tạo ra có thể được điều khiển bởi cả từ trường và điện trường ngoài. Những nghiên cứu gan đây cho thay sự thay thé vị trí ion Fe** bằng ion cua nguyên tổ khác có thé thu được những cúc chat với nhiều tính chất hóa học va vật lý mới. Kết quả nghiên cửu trong luận án Neghién cứu chế tạo và các tính chất của cảm bién nhạy hơi con trên cơ sở vật liệu oxit perovskit (Đỗ Thị Anh Thư) cho thay sự pha tạp từng phin Co trong hệ LaFe;.0) không chỉ tao ra trạng thái hỗn hợp hóa trị ở vị trí B, mà còn làm thay đỏi tinh dẫn điện va hiệu ứng xúc tác của hệ.
với cảm biến làm từ LaCoo «Feo 6O3 cho độ nhạy cực đại S = 52 ở nhiệt độ 228°C, khác với vật liệu thuần LaFeO› cho S = 27.3 Công nghệ chế tạo nano perovskite Phương pháp hóa học thông thường và dễ nhất để điều chế perovskite là tổng hợp gôm. Các nguyên liệu ban đâu được nghiền trộn trong thời gian dai dé tạo hỗn hợp đồng nhất. Hồn hợp này sau đó được ép viên vả thiêu kết ở nhiệt độ cao đẻ tạo phản úng perovskite hóa. Phản ứng xảy ra khi nung mẫu ở khoảng 2/3 nhiệt độ nóng chảy.
Ở nhiệt độ nay, các chất phản ứng vẫn ở pha rắn nên phan ứng xảy ra chậm. Dé tăng độ đồng nhất trong vật liệu và pha tinh chế tạo thành có cau trúc tinh thé như mong muốn. khâu công nghệ nghiên, tron, ép viên va nung thường được lặp lại vải lin và kéo dai thời gian nung mẫu |3]. Phương pháp phản ứng pha rắn có ưu điểm là đơn giản về mặt hóa học nhưng lại có nhiều hạn chế như sản phẩm thu được có độ dong nhất va tinh khiết hóa học không cao.
kích thước hạt lớn. sự phân bố kích thước hạt rộng. bẻ mặt riêng nhỏ. khó thực hiện khi trong hệ phan ứng có chất dé bay hơi.
Vi vậy, ngày nay, để tổng hợp vật liệu gốm có kích thước nano, người ta thường hay sử dung một số phương pháp hóa học khác như sol-gel hay đồng kết tủa. 10 GVHD: Nguyễn Anh Tiền SVTH: Châu Hồng Diễm 1.1 Phương pháp sol-gel Các phương pháp sol-gel thường được sử dụng là: sol-gel thủy phân muỗi. sol- gel thủy phan alkoxide và sol-gel tạo phức. Dé tổng hợp vật liệu theo phương pháp nay, trước hét cần chẻ tạo sol trong một chất lỏng thích hợp bảng một trong hai cách sau: * Phan tán chất rin không tan tử cắp hạt lớn chuyển sang cắp hạt của sol trong các máy xay kco.
+ Dùng dung môi đề thuỷ phân một precusor tạo thành dung dich keo. Ví dụ ding nước dé thuy phân alkoxide kim loại dé tạo thành hệ keo oxide của kim loại đó. [3] Trong quá trình sol-gel, giai đoạn dau tiên là sự thuỷ phan va đông ty tiền chất đẻ hình thành sol, dang đồng nhất của các hạt oxide siêu nhỏ trong chất lỏng. Chat đầu dé tổng hợp sol này là các hợp chat hoạt động của kim loại như các alkoxide của silic, nhôm, titan.
Giai đoạn này có thé điều khiển bằng sự thay đối pH, nhiệt độ va thời gian phan ứng xúc tac, nông độ tác nhân, tý lệ nước. Các hat sol cỏ thé lớn lên và đông tụ đẻ hình thành mạng polime liên tục hay gel chứa các bẫy dung môi. Phương pháp làm khô sẽ xác định các tính chat của sản phẩm cuôi cùng: gel có thé được nung nóng để loại trừ các phân tử dung môi, gây áp lực lên mao quản va làm sụp dé mạng gel, hoặc làm khô siêu tới hạn. cho phép loại bỏ các phan tử dung môi ma không sụp đỏ mang gel.
Sản phẩm cuối cùng thu được tử phương pháp lam khô siêu tới hạn gọi là acrogel, theo phương pháp nung gọi là xerogel. Bên cạnh gel còn có thé thu được nhiều sản phẩm khác. Một số nano oxide kim loại thu được bing phương pháp sol-gel được đưa ra trong bảng sau: Bang 1.