ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong giai đoạn hiện nay, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh các đột phá chiến lược, tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh, giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định là nhiệm vụ đượt đặt lên hàng đầu (Thủ tướng Chính Phủ, 2014). Để làm được điều đó bên cạnh việc tập trung mọi nguồn lực để phát huy các ngành công nghiệp, dịch vụ thì chúng ta cũng không thể xem nhẹ vai trò của kinh tế nông thôn vì nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chính của đại bộ phận người dân Việt Nam. Vì thế, Chính phủ đã chú trọng đến việc phát triển kinh tế nông thôn nhằm xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Thủ tướng Chính phủ, 2010).
Thừa Thiên Huế trong những năm qua đã triển khai thực hiện chương trình xây dựng NTM. Công tác quản lý phát triển kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu nhất định, thu nhập bình quân khu vực nông thôn toàn tỉnh đạt mức 20,7 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn toàn tỉnh chỉ còn 6,64%, giải quyết việc làm mới cho 16.000 lao động, các hình thức tổ chức sản xuất rất đa dạng. Quảng Điền, một huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, địa phương được lựa chọn làm huyện điểm triển khai chương trình nông thôn mới đã đạt được nhiều thành tựu, trong đó nổi bậc là xã Quảng Phú đã đạt chuẩn xã nông thôn mới. Tuy nhiên, công tác quản lý phát triển kinh tế vẫn còn nhiều bất cập, chưa phát huy hết vai trò và nhiệm vụ.
Công tác giảm nghèo chưa thật sự hiệu quả, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao 6,98%, lao động có việc làm mới còn thấp chỉ 1. Hình thức tổ chức sản xuất chưa đa dạng, số lượng hợp tác xã vẫn duy trì mức 25 hợp tác xã trong 4 năm qua. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp. 1 Xuất phát từ những lý do trên nên em quyết định chọn đề tài: “Đánh giá công tác quản lý phát triển kinh tế trong chương trình nông thôn mới ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa thiên Huế” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu nghiên cứu - Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý phát triển kinh tế trong chương trình nông thôn mới - Đánh giá công tác quản lý phát triển kinh tế trong chương trình nông thôn mới ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế - Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác quản lý phát triển kinh tế trong chương trình nông thôn mới ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp thu thập số liệu - Thu thập số liệu thứ cấp: số liệu thứ cấp được thu thập từ niên giám thống kê huyện Quảng Điền, báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm huyện Quảng Điền, báo cáo về tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới huyện Quảng Điền. - Thu thập số liệu sơ cấp: số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc điều tra hộ trên địa bàn huyện Quảng Điền. Do hạn chế về thời gian nên tôi đã điều tra 60 hộ trên địa bàn huyện Quảng Điền để nghiên cứu sự đánh giá của họ về công tác xây dựng nông thôn mới vớ phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo tỷ lệ.
+ Quy mô mẫu: Chương trình NTM được triển khai trên toàn địa bàn của huyện, với điều kiện địa lý phía đông giáp với biển Đông, phía Tây giáp với đồng bằng, thông tin thu thập được sẽ cho thấy mức độ nhận thức của người dân sẽ khách quan hơn. Để đánh giá sự khác biệt khách quan nhất trên địa bàn tôi đã chọn điều tra 60 hộ thuộc 3 xã Quảng Phú, Quảng Phước và Quảng Ngạn thuộc huyện Quảng Điền (3 xã điều tra được xác định trên bản đồ 1. 2 Bản đồ 1: Bản hành chính huyện Quảng Điền (b) Bảng 1: Quy mô mẫu điều tra trên địa bàn huyện Quảng Điền Tổng số hộ Số mẫu điều tra Địa bàn SL CC SL CC (Hộ) (%) (Hộ) (%) Quảng Ngạn 1.665 25,35 15 25,35 Quảng Phước 1.569 100,00 60 100,00 (Nguồn: Phòng lao động, thương binh & xã hội huyện Quảng Điền, 2014) Phƣơng pháp xử lý và phân tích số liệu - Phương pháp xử lý số liệu: + Số liệu thứ cấp được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 + Số liệu sơ cấp được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 - Phương pháp phân tích số liệu: + Phương pháp thống kê mô tả + Phương pháp so sánh, chỉ số bình quân + Phương pháp kiểm định ANOVA 3 Kiểm định giả thiết: H0: không có sự khác biệt về biến phân tích. H1: có sự khác biệt về biến phân tích.
Dựa vào giá trị P (p-value) để kết luận là chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết H0 Dựa vào Sig. “Test of Homogeneity of Variances” (Sig.1 <= α (mức ý nghĩa, α=0,05), bác bỏ giả thiết H0: có nghĩa là có sự khác biệt về biến phân tích.1 > α thì xét đến Sig.2 > α, chưa có cơ sở để bác bỏ giả thiết H0: không có sự khác biệt về biến phân tích.2 <= α, bác bỏ giả thiết H0, thừa nhận giả thiết H1: có sự khác biệt về biến phân tích. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu Công tác quản lý phát triển kinh tế trong chương trình nông thôn mới ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thùa Thiên Huế. Phạm vi nghiên cứu - Không gian: huyện Quảng Điền, tỉnh Thùa Thiên Huế - Thời gian: + Số liệu thứ cấp từ: 2010 đến 2014 + Số liệu sơ cấp: 2015 4 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG CHƢƠNG TRÌNH NÔNG THÔNG MỚI 1.
Cơ sở lý luận về quản lý phát triển kinh tế trong chƣơng trình xây dựng nông thôn mới 1. Khái niệm quản lý phát triển kinh tế - Quản lý nhà nước về kinh tế Quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân (hoặc vắn tắt là quản lý nhà nước về kinh tế) là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và giao lưu quốc tế. Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế được thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính Phủ).
- Quản lý nhà nước về phát triển kinh tế trong chương trình nông thôn mới Quản lý nhà nước về phát triển nông thôn là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục đích ổn định và phát triển nông thôn (kể cả trong điều kiện có sự biến động của môi trường). Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để tạo môi trường và điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế cở nông thôn trong nền kinh tế thị trường. Bảo đảm sự ổn định về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, duy trì pháp luật trật tự an toàn xã hội, thi hành nhất quán các chính sách và thể chế theo hướng đổi mới, khống chế lạm phát, điều tiết các quan hệ thị trường. Tạo môi trường tâm lý trong 5 quá trình nhận thức của người nông dân về cơ chế thị trường, giúp họ nhận thức được tính hai mặt của cơ chế này.
Mục tiêu của quản lý nhà nƣớc về kinh tế Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế, các mục tiêu chỉ ra phương hướng và yêu cầu số lượng cho các hoạt động quản lý của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội cơ bản nhất như tăng trưởng kinh tế, rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, v.v… Những mục tiêu này phải thể hiện một cách tập trung, những biến đổi quan trọng nhất về lượng và chất của nền kinh tế và đời sống xã hội, những mốc mới phải đạt được trên con đường phát triển đất nước. Tăng trưởng kinh tế Tầm quan trọng của mục tiêu tăng trưởng kinh tế: có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta nhằm rút ngắn cự ly với các khu vực và đuổi kịp các nước phát triển. Biểu hiện của mục tiêu tăng trưởng kinh tế: - Tốc độ tăng trưởng GDP của các ngành kinh tế chủ yếu, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - Sự đóng góp của tiến bộ vào tăng trường kinh tế.
- Mức tăng trưởng của tỷ lệ vốn đầu tư trong nước trên GDP. - Mức tăng trưởng của xuất khẩu và vốn đầu tư nước ngoài. - Sự hoàn thiện thể chế kinh tế và phương thức quản lý. Ổn định kinh tế Vai trò của mục tiêu ổn định kinh tế: ổn định vật giá, ổn định công ăn việc làm và ổn định tăng trưởng kinh tế.
Nội dung của mục tiêu ổn định kinh tế: - Duy trì sụ ổn định cơ bản của mức vật giá, ngăn ngừa và kìm chế lạm phát. - Duy trì sự ổn định cơ bản của công ăn việc làm trong xã hội, hạn chế tỷ lệ thất nghiệp, tạo công ăn việc làm cho người lao động và xây dựng môi trường việc làm tốt để thu hút lao động. - Duy trì sự ổn định hài hòa cơ bản của tăng trưởng kinh tế, làm cho kinh tế tăng trưởng ổn định hài hòa. 6 - Đảm bảo sự cân bằng cơ bản của thu – chi ngân sách nhà nước và cán cân thanh toán quốc tế.