CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI UBND CẤP XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Khái niệm đánh giá và chỉ số đánh giá a) Khái niệm về Đánh giá Khái niệm về đánh giá đã tồn tại cách đây rất lâu, ở Trung Quốc đã có hệ thống đánh giá chức năng 2000 năm trước công nguyên.
Đánh giá có thể đồng nghĩa với các trắc nghiệm, mô tả các tài liệu hoặc thậm chí là quá trình quản lý, nhiều định nghĩa về đánh giá đã được đưa ra, song định nghĩa toàn diện nhất chỉ ra rằng đánh giá là “những điều tra hệ thống về giá trị hoặc giới hạn của một đối tượng”. Đây là định nghĩa của Ủy ban hợp tác về các tiêu chuẩn đánh giá giáo dục (1994). Định nghĩa này chú trọng vào mục đích của sự đánh giá. Theo đó, đánh giá cần được tiến hành theo các lý do liên quan đến hoạt động và thông tin thu được phải hỗ trợ quyết định hoạt động hoặc quá trình hoạt động.
Đánh giá là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng định tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có kết quả. Đánh giá thường xuyên cung cấp cái nhìn mới hoặc những thông tin mới mà trước đây chưa được dự tính. Nó là quá trình mà qua đó ta quy cho đối tượng một giá trị nào đó. Quan điểm hiện nay về đánh giá (Evaluation) là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện đo lường được qua các kỳ kiểm tra/lượng giá (assessement) trong quá trình và kết thúc bằng cách đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã được xác định rõ ràng trước đó trong các mục tiêu.
13 z Như vậy, có thể hiểu đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác nhận giá trị thực trạng về: mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự phát triển, những kinh nghiệm được hình thành ở thời điểm hiện tại đang xét so với mục tiêu hay những chuẩn mực đã được xác lập. Mặt khác, có thể nói đánh giá là việc xem xét một hoạt động bên trong hoặc bên ngoài để đánh giá hiệu quả, hiệu suất hoặc quá trình can thiệp thông qua việc sử dụng có hệ thống các quy trình nghiên cứu xã hội. Nếu can thiệp không tạo được thay đổi mong đợi, đánh giá thường sẽ xác định những rào cản tác động đến năng lực thực hiện và sử dụng các bài học rút ra được cho các can thiệp tiếp theo. Có 5 tiêu chí phổ biến được sử dụng trong đánh giá bao gồm (1) tính phù hợp; (2) hiệu suất; (3) hiệu quả; (4) tác động; và (5) tính bền vững.
Chỉ số là linh hồn của đánh giá. Vậy chỉ số và chỉ số đánh giá là gì? b) Khái niệm về Chỉ số đánh giá Để hiểu rõ khái niệm về chỉ số, trước tiên cần hiểu khái niệm về tiêu chí (criterion) là các yêu cầu, chuẩn mực được đề ra để kiểm định hay đánh giá một đối tượng. Các yêu cầu thường về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng, tuân thủ các qui tắc và qui định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả đó. Tiêu chí còn có thể là các tính chất, dấu hiệu mang tính đặc trưng để nhận biết, xem xét hay đánh giá một đối tượng.
Đặc điểm khi xây dựng tiêu chí là phản ánh quan điểm của chủ thể. Vì vậy nó cần mang tính khách quan, khoa học và thúc đẩy phát triển bền vững. Chỉ số là một biến định lượng hoặc định tính cung cấp một phương tiện đơn giản và đáng tin cậy để đo lường phản ánh những thay đổi liên quan đến một sự can thiệp. Theo Cẩm nang theo dõi và đánh giá - Mođun 14 z thực hành theo dõi (tài liệu của Chính phủ VIệt Nam do Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo năm 2006): Chỉ số có thể được gọi đơn giản hơn là Thước đo sự thay đổi.
Có 2 loại chỉ số thường được đề cập đến và ít nhiều còn gây gây tranh cãi: (1) Chỉ số thông thường (indicator) - là loại chỉ số đúng như định nghĩa nêu trên, đơn giản và đo lường trực tiếp. Chỉ số này thường được yêu cầu phải: đơn giản; đo lường được; có thể quy chiếu; phù hợp; và kịp thời (SMART - Simple; Measurable; Attributable; Relevant; Timely); (2) Chỉ số tổng hợp: (Index) - là các chỉ số được tổng hợp theo những công thức nhất định từ các chỉ số thành phần (ví dụ như PCI - chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; PAPI – chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh). Như vậy, có thể hiểu Chỉ số đánh giá là tổng hợp các tiêu chí thành phần. Các tiêu chí thành phần được đánh giá theo cách tổng hợp lại theo định lượng có điểm số.
Sự định lượng có thể do hội đồng đánh giá cho điểm, hoặc người được hỏi cho điểm,. Ủy ban nhân dân cấp xã Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “UBND là cơ quan chính quyền nhân dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được lập ra ở các cấp xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện; huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” Theo từ điển luật học: “UBND là tên gọi của các cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”. Điều 114 Hiến pháp 2013 quy định: “UBND ở cấp chính quyền địa phương do HĐND cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Điều 2 Luật tổ chức của HĐND và UBND năm 2003 quy định: “Uỷ 15 z ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên”.
Theo đó, UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do HĐND cấp xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước HĐND cấp xã và cơ quan nhà nước cấp trên về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Như vậy, UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có thẩm quyền chung, hoạt động với tư cách: Cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp; Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Là cơ quan chấp hành của HĐND cấp xã: UBND cấp xã chịu sự giám sát của HĐND cấp xã, chịu trách nhiệm và báo cáo các hoạt động của mình trước HĐND cấp xã. Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương: UBND cấp xã có nhiệm vụ triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội và dân cư trên địa bàn. UBND cấp xã chính là đầu mối giải quyết các công việc thường ngày của nhân dân và có quan hệ trực tiếp và gắn bó mật thiết với nhân dân, là cầu nối để chuyển tải mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.
Vì vậy mà hiệu quả hoạt động của UBND cấp xã có ảnh hưởng rất lớn tới sự thành công của các chủ trương, chính sách được hoạch định từ cấp trên và quyền, lợi ích của nhân dân trên địa bàn. Thủ tục hành chính 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục hành chính 1. Khái niệm thủ tục hành chính PGS.
Nguyễn Văn Thâm, TS. Võ Kim Sơn, thủ tục (procedure) là phương thức, cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất2, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn. Theo Từ điển tiếng Việt3, thủ tục được hiểu là những việc phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức. Một thủ tục là một loạt các hành động hoặc hoạt động đã được thực thi trong cùng một cách thức để luôn luôn có được cùng một kết quả trong các trường hợp tương tự4.
Trong khoa học pháp lý, khái niệm “thủ tục” thường được áp dụng ở khía cạnh thực hiện quy phạm của luật vật chất. Theo cách nói của Mác, thủ tục là hình thức sống của đạo luật và luật vật chất có hình thức thủ tục riêng của nó. Chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau trong cặp phạm trù nội dung - hình thức. Vì vậy, thủ tục ở đây được hiểu là trình tự thực hiện hành động.
Có thể xem xét TTHC dưới những góc độ khác nhau, Khoa học Luật Hành chính hiện nay chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm TTHC. Một trong những vấn đề về TTHC gây nhiều tranh luận trong khoa học luật hành chính là việc xác định phạm vi của TTHC. Trong quan hệ với pháp luật, TTHC là một bộ phận cấu thành của thể chế hành chính. TTHC là những quy phạm hình thức, có chức năng làm cho các quy phạm nội dung của luật pháp được thực hiện.
Trong hoạt động HCNN, TTHC là cách thức thực hiện thẩm quyền của cơ quan HCNN. Nguyễn Văn Thâm, TS. Võ Kim Sơn (2002), Thủ tục hành chính – Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 3 Nguyễn Như Ý (1999), Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.vn/translate?hl=vi&langpair=en|vi&u=http://en.org/wiki/Procedure 17 z Trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, TTHC là cách thức được áp dụng để xử lý các mối quan hệ khi Nhà nước thực hiện trách nhiệm và thẩm quyền theo luật định giải quyết yêu cầu của người dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
TTHC là sự thiết lập các thao tác QLNN theo những trình tự, quy trình nhất định của cơ quan HCNN đáp ứng những loại dịch vụ hành chính khác nhau mà người dân cần tới sự cung cấp một cách tốt nhất (dễ dàng, đơn giản và đem lại sự hài lòng của người dân). Nói cách khác, TTHC là cách mà cơ quan công quyền phục vụ người dân từ trách nhiệm nhân dân giao cho họ5. Giáo trình Thủ tục hành chính của Học viện Hành chính quốc gia6, đưa ra khái niệm: TTHC là trình tự, cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ hành chính và mối quan hệ giữa cơ quan HCNN với tổ chức, công dân.