Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Sư phạm Lịch sử của sinh viên Hoàng Văn Tuấn (Trường Đại học Thủ Dầu Một, 2016), do TS. Huỳnh Ngọc Đáng hướng dẫn, tiếp cận vấn đề tham nhũng và các biện pháp quản lý nhà nước dưới triều vua Minh Mạng (1820 – 1840).

  • Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Tham nhũng là hiện tượng gắn liền với sự hình thành và phát triển của nhà nước. Trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, nhà văn hóa Lê Quý Đôn trong tác phẩm Quần thư khảo biện đã chỉ rõ sự tràn lan của tham nhũng là một trong năm nguy cơ lớn dẫn đến mất nước (bên cạnh các yếu tố: trẻ không kính già, trò không trọng thầy, binh kiêu tướng thoái, sĩ phu ngoảnh mặt). Dưới triều Nguyễn, Minh Mạng là vị vua có nhiều nỗ lực cải cách bộ máy hành chính và kiên quyết bài trừ tham nhũng, lập lại kỷ cương xã hội. Việc phục dựng bức tranh lịch sử này cung cấp các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
  • Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nhiệm vụ một: Làm rõ nguyên nhân, thực trạng và tác động của nạn tham nhũng cùng các biện pháp phòng, chống tham nhũng của các triều đại phong kiến Việt Nam trước năm 1820 để làm cơ sở so sánh.
    2. Nhiệm vụ hai: Tập trung làm rõ nội dung cụ thể trong hoạt động phòng, chống tham nhũng dưới triều vua Minh Mạng (thực trạng theo lĩnh vực, biện pháp phòng ngừa, biện pháp trừng trị), từ đó đánh giá hiệu quả, mặt tích cực và hạn chế của các chính sách này.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phòng, chống tham nhũng dưới triều vua Minh Mạng giai đoạn 1820 – 1840.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Lãnh thổ Việt Nam dưới triều vua Minh Mạng gồm 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên thuộc Kinh Kỳ (từ Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Yên ở phía Bắc đến An Giang, Hà Tiên ở phía Nam).
    • Thời gian: Giai đoạn 1820 – 1840 (thời gian trị vì của vua Minh Mạng), đồng thời có sự khảo cứu mở rộng các giai đoạn lịch sử trước năm 1820 để đối chiếu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

  • Khung khái niệm và mô hình tham chiếu:
    • Tác giả tiếp cận thuật ngữ "tham nhũng" từ gốc Latinh corrumpere (biến chất, suy đồi, phá vỡ chuẩn mực).
    • Để nhận diện hành vi tham nhũng thời phong kiến, đề tài đối chiếu với 12 hành vi được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 của Việt Nam (tham ô, nhận hối lộ, lạm quyền, nhũng nhiễu, bao che...).
    • Phân định rõ "nguyên nhân" (động lực chủ quan bên trong: lòng tham, thói vị kỷ) và "điều kiện" (yếu tố tác động bên ngoài: bộ máy cồng kềnh, lương bổng thấp, tính quan liêu chuyên chế, tính tự trị của làng xã, sơ hở trong tuyển bổ quan lại).
    • Khảo cứu tác phẩm kinh điển Từ thụ yếu quy của Đặng Huy Trứ (bàn về 104 trường hợp người làm quan dứt khoát không được nhận quà và 5 trường hợp được nhận, nêu cao 8 chữ: cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư).
  • Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp lịch sử là phương pháp chủ đạo, kết hợp phương pháp logic, phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu từ chính sử, phương pháp phân tích - đối chiếu liên ngành.
  • Nguồn dữ liệu:
    • Chính sử triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Minh Mệnh chính yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam liệt truyện.
    • Công trình chuyên khảo: Các nghiên cứu của Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí), Ngô Sĩ Liên (Đại Việt sử ký toàn thư), Bùi Xuân Đính, Trương Giang Long, Lê Thị Hòa, Lê Nguyễn, Trần Đình Ba.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát vấn nạn tham nhũng qua các triều đại phong kiến Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa nhận thức, nguyên nhân, điều kiện, biểu hiện của tham nhũng và các biện pháp ứng phó từ thời dựng nước đến trước triều Minh Mạng:

  • Thực trạng qua các thời kỳ: Thời Bắc thuộc, các Thứ sử người Bắc tham lam vơ vét ngọc trai, đồi mồi, ngà voi; sự bóc lột của thứ sử phương Bắc là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Lý Bí, Phùng Hưng. Bước sang thời kỳ độc lập tự chủ (Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ), tham nhũng diễn ra ở nhiều mức độ, gắn liền với tệ nhũng lạm, bớt xén của công, nhận hối lộ và ức hiếp dân lành.
  • Các biện pháp phòng ngừa:
    • Chế độ đãi ngộ: Nhà Lý cấp bổng lộc, lúa và cá muối cho quan coi ngục để ngăn ngừa nhận đút lót. Vua Lê Thánh Tông (năm 1473) định lệ cấp bổng lộc theo tính chất công việc (nơi nhiều việc, nơi ít việc), ban cấp lộc điền, huệ lộc. Vua Gia Long định ra tiền "dưỡng liêm" cấp thêm cho quan lại cấp phủ, huyện.
    • Thiết chế thanh tra, giám sát: Thời Lý có chức Tả/Hữu Giám nghị đại phu; thời Trần lập Ngự sử đài với Lục Ngự sử, Đăng văn kiểm soát viện; thời Hồ lập chức Liêm phóng sứ tại các lộ; thời Lê Thánh Tông đặt Lục khoa để giám sát Lục bộ và cử người đi dò xét phẩm hạnh quan lại địa phương; thời Gia Long đặt chức Đô ngự sử và viên Ngự sử Đô sát ở Bắc Thành (1809).
    • Chính sách tuyển bổ và lệ Hồi tỵ: Vua Lê Thánh Tông quy định trách nhiệm liên đới của người tiến cử/bảo cử (cử sai bị phạt, cử đúng được thưởng); áp dụng chế độ thử việc 1 – 3 năm; ban hành lệ Hồi tỵ (cấm quan nhậm chức ở quê nhà, không lấy vợ người sở tại, không tậu ruộng đất ở nơi cai quản).
  • Các biện pháp xử lý: Chiếu năm 1042 thời Lý Thái Tổ xử phạt người thu thuế quá mức như tội trộm cắp; Chiếu năm 1044 thời Lý Thái Tông phạt trượng và bắt khổ sai người ở kho lụa nhận riêng của công. Bộ Quốc triều hình luật thời Lê Sơ có gần 30 điều khoản xử lý quan lại tham nhũng (nhận hối lộ từ 1 – 9 quan bị biếm/bãi chức; từ 10 – 19 quan bị đồ/lưu; từ 20 quan trở lên bị xử trảm).

Chương 2: Phòng chống tham nhũng dưới triều vua Minh Mạng (1820 – 1840)

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích thực trạng và toàn bộ các giải pháp trị tham nhũng của vua Minh Mạng:

  • Thực trạng tham nhũng theo các lĩnh vực chủ yếu:

    • Quản lý kho tàng: Là lĩnh vực xảy ra nhiều vụ án nhất do tài sản quốc gia tập trung lớn, dễ phát sinh lòng tham và cũng dễ kiểm tra, phát hiện qua sổ sách.
    • Lĩnh vực xây dựng: Tình trạng bớt xén vật tư, nâng khống khối lượng công trình. Điển hình: Vụ án lạm chi tiền đắp đê ở Bắc Thành (1829); Trấn thủ Thanh Hoa Hồ Văn Trương thông đồng lạm chi hơn 50.000 quan tiền mua gỗ lim (1831); Quản phủ Lâm Thao Phạm Nhữ Quá ăn chặn tiền thợ sửa thành (1832); nguyên Tuần phủ Nguyễn Đức Nhuận lạm chi 120.000 quan tiền đắp thành (1833); Quản đốc Mộc thương Hồ Văn Hạ nâng khống khối lượng gỗ để chiếm đoạt gỗ công bị xử chém đầu (1834).
    • Lĩnh vực tư pháp: Tình trạng tào lại sách nhiễu, đòi tiền án; Tư vụ Hình bộ Nguyễn Ngọc Giáp nhận hối lộ thêu dệt hồ sơ kết tội oan cho Nguyễn Tử Bộc; Hiệp trấn Hưng Hóa Trần Văn Thông không giam giữ Tri châu Sầm Nhân Tráng (kẻ nhũng lạm hơn 390 lạng bạc).
    • Lĩnh vực giáo dục và tuyển bổ quan lại: Gian lận thi cử năm 1826 do Tham tri Hình bộ Nguyễn Hữu Nghi và Thượng bảo khanh Hoàng Quýnh thực hiện (sửa điểm, lấy đỗ sai quy định hàng chục sinh đồ, hương cống); Đốc học Nam Định Thái Doãn Tư dung túng người nhà vòi tiền học trò (1828); Tham tri Nguyễn Công Hưng và Nguyễn Công Tiệp tiến cử sai kẻ tham mọt Nguyễn Đình Cấp (1827).
    • Lĩnh vực ruộng đất: Tỷ lệ ruộng tư chiếm ưu thế lớn (ở đồng bằng Bắc Bộ chiếm 65 – 70%, Nam Bộ chiếm 92,5% vào năm 1836; toàn quốc năm 1840 có 2,8 triệu mẫu tư điền trên tổng số 3,3 triệu mẫu). Vụ án lại dịch Bồng Hải (Ninh Bình) thông đồng giấu hơn 400 mẫu ruộng hoang bị Nguyễn Công Trứ phát hiện (1829); Tống Hữu Tài sách nhiễu tiền đạc điền ở Định Tường (1836).
    • Các lĩnh vực khác: Hoàng Công Lý tham nhũng hơn 2 vạn quan tiền (1821); Sứ bộ Phan Huy Chú, Hoàng Văn Đản, Trương Hảo Hợp bắt phu trạm chở đồ riêng (1832); Bố chính Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai gửi đồ biếu xén nhân việc công (1835); Trấn thủ Lê Văn Hiếu và Hiệp trấn Đoàn Viết Nguyên nhận hối lộ trong đấu thầu bến đò Thanh Hoa (1829).
  • Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng:

    • Giáo dục phẩm chất đạo đức: Nhà vua chủ trương "trước giáo hóa mà sau hình phạt", đích thân làm gương về đức cần kiệm (nhắc nhở hoàng tử Kiến An bổng lộc là "dầu mỡ của dân", yêu cầu làm hành cung đi tuần bằng cỏ tranh gỗ tạp).
    • Cải cách bộ máy và phân chia quyền lực: Thực hiện quy chế "tứ bất" (không lập Tể tướng, Hoàng hậu, Thái tử, Trạng nguyên); bãi bỏ chức Tổng trấn Bắc Thành và Gia Định Thành; quy định phẩm hàm quan chức Nội các (chỉ đặt quan hàm tứ phẩm) thấp hơn Lục bộ để tránh tiếm quyền; thiết lập quy chế kiểm soát chéo 4 nha hội đồng khi xuất nhập vật tư tại Phủ Nội vụ và Vũ khố.
    • Hoàn thiện cơ quan giám sát: Đặt thêm chức Cấp sự trung và Giám sát ngự sử (1827); thành lập Đô sát viện (1832) gồm Lục khoa Cấp sự trung và Giám sát ngự sử 16 đạo với quyền tham hặc mọi sai phạm của quan lại và hoàng thân quốc thích; cử Kinh lược sứ thanh tra đột xuất tại các địa phương (vụ xử chém viên quan tham nhũng Phạm Thanh tại chợ trấn Nam Định).
    • Chính sách tuyển bổ và đãi ngộ: Luật hóa lệ Hồi tỵ; tiến hành khảo khóa nghiêm ngặt; duy trì và mở rộng chế độ cấp tiền "dưỡng liêm" nhằm bảo đảm đời sống cho quan lại an tâm giữ mình thanh liêm.
  • Các biện pháp xử phạt: Thi hành kỷ luật nghiêm khắc từ xử phạt hành chính (lột mũ áo, giáng chức, cách chức, tịch thu tài sản sung công để bù đắp thất thoát) đến hình phạt nghiêm khắc nhất (xử trảm, giảo, trảm giam hậu, giảo giam hậu).

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính và số liệu lịch sử: Khóa luận đã thống kê, phân loại các vụ án tham nhũng được ghi chép trong chính sử thời Minh Mạng theo từng ngành, lĩnh vực cụ thể:
Lĩnh vực Vụ án / Nhân vật vi phạm tiêu biểu Năm Biểu hiện sai phạm Hình thức xử lý
Xây dựng Trấn thủ Thanh Hoa Hồ Văn Trương 1831 Dung túng người nhà lạm chi hơn 50.000 quan tiền mua gỗ lim Xử giảo giam hậu
Xây dựng Nguyên Tuần phủ Nguyễn Đức Nhuận 1833 Lạm chi 120.000 quan tiền đắp thành, vật tư sai cách thức Điều tra, truy thu
Xây dựng Quản đốc Mộc thương Hồ Văn Hạ 1834 Nâng khống khối lượng vật tư, ăn bớt gỗ công Xử chém đầu ngay
Tư pháp Tư vụ Hình bộ Nguyễn Ngọc Giáp 1826 Nhận hối lộ, làm sai lệch hồ sơ vụ án giết người Lột áo mũ, giải chức đợi án
Tư pháp Hiệp trấn Hưng Hóa Trần Văn Thông 1826 Không giam giữ Tri châu Sầm Nhân Tráng nhũng lạm 390 lạng bạc Luận tội theo luật
Giáo dục Tham tri Nguyễn Hữu Nghi, Hoàng Quýnh 1826 Gian lận trường thi, sửa điểm lấy đỗ sai quy định Đình thần xét tội
Hành chính Cai án Nam Định Phạm Thanh 1827 Tham lam, nhũng nhiễu, bỏ trốn khi Kinh lược sứ đến Xử chém ngang lưng tại chợ
Khác Hoàng Công Lý 1821 Lợi dụng chức vụ, tang vật tham nhũng trên 2 vạn quan Trừng trị nghiêm khắc
  • Giải pháp và bài học kinh nghiệm:
    • Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức quan lại với kỷ cương pháp luật ("trước giáo hóa, sau hình phạt").
    • Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đa tầng, kết hợp giám sát bên trong (giám sát chéo giữa các cơ quan, Lục bộ - Nội các) và giám sát bên ngoài (Đô sát viện, Giám sát ngự sử 16 đạo, tố giác của nhân dân).
    • Hoàn thiện chế độ tuyển bổ, thực hiện nghiêm luật Hồi tỵ và bảo đảm chế độ đãi ngộ qua tiền dưỡng liêm.
  • Đóng góp của đề tài: Hệ thống hóa các tư liệu chính sử rời rạc thành một công trình nghiên cứu chuyên đề về phòng, chống tham nhũng thời Minh Mạng; phân tích nguyên nhân, điều kiện, thực trạng và hiệu quả của các biện pháp quản lý nhà nước dưới triều Nguyễn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn sử liệu thời phong kiến chủ yếu tập trung ghi chép các vụ việc lớn liên quan đến quan chức từ cấp huyện, phủ, trấn, tỉnh trở lên; các hành vi tham nhũng nhỏ lẻ ở cấp làng xã bị hạn chế ghi nhận do tính chất tự trị, bưng bít của thiết chế làng xã.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh hoạt động phòng, chống tham nhũng dưới triều Minh Mạng với các thời kỳ tiếp nối của triều Nguyễn (thời Thiệu Trị, Tự Đức) hoặc so sánh với các triều đại phong kiến khác trong khu vực.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Lịch sử Việt Nam, Luật học, Quản lý nhà nước, Khoa học Hành chính.
  • Nội dung có giá trị cao:
    • Hệ thống tư liệu trích xuất từ các bộ chính sử triều Nguyễn (Đại Nam thực lục, Minh Mệnh chính yếu).
    • Phân tích cơ chế hoạt động của Đô sát viện và Lục khoa Cấp sự trung.
    • Các dẫn chứng lịch sử về luật Hồi tỵ và chế độ tiền dưỡng liêm thời phong kiến.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ chế kiểm soát thu chi và chống bớt xén vật tư tại Phủ Nội vụ và Vũ khố thời Minh Mạng được tổ chức như thế nào?

Nhà vua quy định việc chi phát đồ công, vàng bạc, vật tư tại Phủ Nội vụ và Vũ khố phải do 4 nha hội đồng cùng trực tiếp giám sát, ghi chép chi tiết kích thước, trọng lượng, tình trạng vật phẩm vào đơn lĩnh và lập hồ sơ lưu chiểu. Hàng tháng, Đô sát viện cử Cấp sự trung hoặc Ngự sử mang bài ngà đến kiểm tra, đối chiếu số liệu xuất nhập hàng ngày trước khi đóng dấu triện.

2. Đô sát viện được thành lập vào năm nào và có cơ cấu tổ chức ra sao?

Đô sát viện được vua Minh Mạng hoàn thiện quy chế vào năm 1832. Cơ cấu gồm 2 Tả/Hữu Đô ngự sử, 2 Tả/Hữu Phó đô ngự sử, Lục sự, Lục khoa Cấp sự trung (giám sát Lục bộ và các tự, viện tương ứng) cùng Giám sát ngự sử 16 đạo phụ trách thanh tra tại các địa phương.

3. Vì sao các vụ án tham nhũng được ghi nhận trong chính sử lại tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực kho tàng?

Kho tàng là nơi tập trung của cải, tài sản lớn của quốc gia nên dễ phát sinh lòng tham của người quản lý. Đồng thời, đây là lĩnh vực có sổ sách, định lượng rõ ràng, giúp nhà nước dễ dàng thanh tra, kiểm kê và phát hiện hao hụt hơn so với các lĩnh vực hành chính hay tư pháp.

4. Tác phẩm "Từ thụ yếu quy" của Đặng Huy Trứ có nội dung cốt lõi gì liên quan đến phòng chống tham nhũng?

Tác phẩm phân tích thái độ ứng xử giữa người cho và người nhận chốn quan trường, chỉ ra 104 trường hợp người làm quan dứt khoát phải từ chối quà biếu để tránh sa vào hối lộ, chỉ cho phép nhận trong 5 trường hợp mang tính ân nghĩa trong sáng, đồng thời đúc kết phẩm chất người làm quan trong 8 chữ: "cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư".

Kết luận

Khóa luận của Hoàng Văn Tuấn đã phục dựng một cách hệ thống bức tranh thực trạng và các biện pháp phòng, chống tham nhũng dưới triều vua Minh Mạng (1820 – 1840). Nghiên cứu làm rõ sự kết hợp giữa giáo dục đạo đức Nho giáo, cải cách thể chế hành chính, thiết lập Đô sát viện kiểm soát quyền lực và ban hành các quy định như luật Hồi tỵ, tiền dưỡng liêm. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật đối với sinh viên chuyên ngành lịch sử và những người quan tâm đến lịch sử hành chính, pháp luật Việt Nam thời phong kiến.