Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cấu trúc của hệ thống tài chính hiện đại, thị trường trái phiếu giữ vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, bổ trợ cho thị trường cổ phiếu và hệ thống tín dụng ngân hàng. Việc phát triển thị trường trái phiếu cho phép huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để phục vụ cho các dự án đầu tư phát triển dài hạn. Đặc biệt, huy động vốn qua phát hành trái phiếu giúp giảm thiểu sự phụ thuộc quá mức vào hệ thống ngân hàng thương mại, tạo sự cân xứng trong kỳ hạn huy động và cho vay, từ đó hạn chế hiện tượng "sai lệch kép" (kỳ hạn và tiền tệ) – nguyên nhân từng dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính châu Á giai đoạn 1997–1998.

Ở các nền kinh tế phát triển, phát hành trái phiếu là phương thức huy động vốn phổ biến của khối doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu, thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TTTPDN) vẫn đang ở giai đoạn sơ khai. Hoạt động phát hành chủ yếu tập trung vào một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tổ chức tín dụng quy mô lớn như Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)... Phần lớn các doanh nghiệp còn lại, đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, gặp nhiều rào cản khi tiếp cận kênh huy động vốn này do khung pháp lý chưa đồng bộ, cơ sở hạ tầng thị trường còn thiếu thốn, chưa có đường cong lãi suất chuẩn, thiếu vắng các tổ chức định mức tín nhiệm độc lập và nhận thức của công chúng đầu tư còn hạn chế.

Trước yêu cầu đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn, giảm áp lực cung ứng vốn lên hệ thống ngân hàng và nâng cao mức độ an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia, đề tài "Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Việt Nam" được tác giả Phạm Thị Thanh Loan (Lớp TCDN 21.35) lựa chọn thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ trọng tâm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về trái phiếu doanh nghiệp, cơ chế vận hành của thị trường sơ cấp, thứ cấp và các điều kiện phát triển thị trường.
  2. Khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng hoạt động phát hành, niêm yết, giao dịch và khung khổ pháp lý điều chỉnh TTTPDN tại Việt Nam giai đoạn 2000–2011 (cập nhật đầu năm 2012).
  3. Đánh giá những kết quả đạt được, chỉ rõ các điểm nghẽn, tồn tại của thị trường; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy thị trường phát triển bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bao gồm các chủ thể phát hành, nhà đầu tư, các tổ chức trung gian, hạ tầng giao dịch và cơ chế chính sách quản lý thị trường.
  • Phạm vi không gian: Thị trường tài chính Việt Nam trong mối tương quan so sánh với một số thị trường trong khu vực Đông Á mới nổi (EEA) và Nhật Bản.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào chuỗi dữ liệu thực tế từ năm 2000 đến năm 2011, cập nhật các biến động chính sách và đợt phát hành tiêu biểu đến đầu năm 2012 (thời điểm áp dụng Nghị định số 90/2011/NĐ-CP).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết tài chính doanh nghiệp và thị trường chứng khoán, làm rõ bản chất của các công cụ nợ và cơ chế vận hành thị trường:

  • Khái niệm và đặc điểm công cụ: Trái phiếu doanh nghiệp là chứng khoán nợ xác nhận nghĩa vụ của doanh nghiệp phát hành phải hoàn trả nợ gốc và lãi định kỳ cho trái chủ theo các điều khoản cam kết. Khác với cổ đông, trái chủ không có quyền biểu quyết tham gia quản trị doanh nghiệp nhưng được ưu tiên thanh toán trước khi doanh nghiệp giải thể hoặc thanh lý.
  • Phân loại công cụ TPDN: Phân loại theo hình thức sở hữu (ghi tên, vô danh); theo cơ chế trả lãi (lãi suất cố định, lãi suất thả nổi/biến đổi căn cứ lãi suất tham chiếu như LIBOR hoặc lãi suất tiền gửi ngân hàng, trái phiếu có lãi suất bằng không/zero-coupon); theo mức độ đảm bảo (trái phiếu có tài sản cầm cố, trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ, trái phiếu không bảo đảm); theo tính chất quyền kèm theo (trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền, trái phiếu có thể mua lại trước hạn).
  • Cấu trúc thị trường và phương thức giao dịch: Phân định rõ thị trường sơ cấp (nơi huy động vốn mới thông qua bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành, đấu thầu phát hành) và thị trường thứ cấp (nơi tạo thanh khoản qua hệ thống khớp lệnh định kỳ/liên tục hoặc thỏa thuận điện tử/thông thường tại các Sở Giao dịch Chứng khoán và thị trường OTC).
  • Lý thuyết thông tin bất cân xứng: Áp dụng mô hình bất cân xứng thông tin để giải thích ba trở ngại lớn trên thị trường tài chính: Hiện tượng lựa chọn đối nghịch (Adverse Selection), rủi ro đạo đức (Moral Hazard) và vấn đề suy giảm thanh khoản do nhà đầu tư không phân biệt được chất lượng tín nhiệm của doanh nghiệp phát hành.
  • Hệ thống tiêu chí đo lường phát triển thị trường: Bao gồm nhóm chỉ tiêu định lượng (Tỷ lệ dư nợ TPDN/GDP, tổng giá trị phát hành thành công hàng năm, tổng giá trị giao dịch thứ cấp) và nhóm chỉ tiêu định tính (sự hoàn thiện của khung pháp lý, sự đa dạng của sản phẩm, mức độ chuyên nghiệp của nhà đầu tư tổ chức, sự hiện diện của nhà tạo lập thị trường và tổ chức xếp hạng tín nhiệm).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp lý luận; phương pháp thống kê mô tả nhằm xử lý số liệu chuỗi thời gian; phương pháp so sánh đối chiếu giữa quy mô thị trường trái phiếu với kênh tín dụng ngân hàng, giữa phát hành riêng lẻ với phát hành ra công chúng, và giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo chính thức của Bộ Tài chính (BTC), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), hệ thống giám sát thị trường trái phiếu châu Á (AsianBondOnline, AsianBondMonitor thuộc ADB), và báo cáo từ Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về công cụ trái phiếu và cơ chế hoạt động của TTTPDN:

  • Cơ chế phát hành và giao dịch: Trình bày chi tiết hai phương thức phát hành cơ bản gồm phát hành riêng lẻ (chào bán trong phạm vi dưới 100 nhà đầu tư có tổ chức, điều kiện đơn giản) và phát hành ra công chúng (chào bán rộng rãi, yêu cầu công bố thông tin minh bạch, tạo tiền đề niêm yết trên thị trường thứ cấp). Làm rõ các kỹ thuật bảo lãnh phát hành như cam kết chắc chắn, cố gắng cao nhất, tất cả hoặc không, tối thiểu - tối đa, và bảo lãnh dự phòng.
  • Chủ thể tham gia thị trường: Phân tích chức năng, nhiệm vụ của từng nhóm chủ thể: Tổ chức phát hành (chủ yếu là công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước), nhà đầu tư (cá nhân và định chế đầu tư như quỹ hưu trí, quỹ tương hỗ, công ty bảo hiểm), nhà tạo lập thị trường (Market Maker / Primary Dealer), các tổ chức trung gian (đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, tổ chức định mức tín nhiệm), cùng cơ quan điều hành thị trường (UBCKNN, SGDCK).
  • Điều kiện phát triển thị trường: Phân tích tương quan giữa các điều kiện vĩ mô (khung khổ pháp lý, sự phát triển của hệ thống ngân hàng và thị trường vốn, quy mô nền kinh tế) và các điều kiện vi mô (chất lượng tổ chức phát hành, trình độ nhận thức của nhà đầu tư, tính minh bạch thông tin).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Đúc kết bài học từ thị trường Nhật Bản (qua nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Nomura) và các nước Đông Á mới nổi. Nghiên cứu chỉ ra rằng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc phát hành trái phiếu độc lập luôn đối mặt với rào cản lớn về niềm tin của nhà đầu tư, đòi hỏi các mô hình liên kết phát hành hoặc sự bảo lãnh của chính quyền địa phương.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Chương 2 tập trung phân tích sâu thực trạng TTTPDN Việt Nam trong bối cảnh kinh tế giai đoạn 2000–2011:

  • Bối cảnh kinh tế vĩ mô: Năm 2010, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng 1.160 USD; giải ngân FDI đạt 11 tỷ USD (chiếm 25,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội). Tuy nhiên, giai đoạn 2010–2011 nền kinh tế chịu sức ép lạm phát cao (khoảng 15%), thị trường tài chính đối mặt với chính sách thắt chặt tiền tệ, chỉ số VN-Index năm 2011 giảm 28%, thị trường bất động sản trầm lắng làm gia tăng nợ xấu ngân hàng.
  • Thực trạng phát hành TPDN:
    • Chủ thể phát hành: Dư nợ TPDN tập trung lớn vào các doanh nghiệp đầu ngành, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và các ngân hàng thương mại. Nhóm sản xuất, thương mại và bất động sản chiếm 55% tổng khối lượng phát hành; nhóm ngân hàng thương mại chiếm 45%. 15 doanh nghiệp lớn nhất chiếm tới 93% tổng dư nợ TPDN lưu hành toàn thị trường.
    • Quy mô và doanh số phát hành: Giá trị phát hành có sự biến thiên lớn: Năm 2006 đạt 0,0082 tỷ USD; năm 2007 tăng vọt lên 0,3236 tỷ USD; năm 2008 đạt 0,2619 tỷ USD; năm 2009 đạt 0,6335 tỷ USD; và 6 tháng đầu năm 2011 đạt 0,0122 tỷ USD do thị trường trầm lắng. Trong giai đoạn 2006–2009, tổng vốn huy động qua 35 đợt phát hành của các tổng công ty lớn đạt gần 32.000 tỷ đồng, trong đó Vinashin chiếm 41% (10.871 tỷ đồng qua 13 đợt) và EVN chiếm 36% (10.200 tỷ đồng qua 10 đợt). Ngoài ra, Công ty Cổ phần Vincom ghi nhận các đợt phát hành quốc tế lớn như đợt phát hành 185 triệu USD trái phiếu chuyển đổi tại Singapore vào tháng 3/2012 với kỳ hạn 5 năm, lãi suất coupon 5%/năm.
    • Cấu trúc kỳ hạn và lãi suất: Đa số trái phiếu phát hành có kỳ hạn ngắn dưới 5 năm; các đợt phát hành 10–15 năm rất hiếm và không có kỳ hạn trên 15 năm. Khoảng 75% các đợt phát hành sử dụng cấu trúc lãi suất thả nổi (lãi suất tiền gửi bình quân của các NHTM lớn cộng biên độ từ 2,75% đến 5%/năm), trong khi lãi suất cố định chỉ chiếm 25%. Chênh lệch lãi suất phát hành TPDN so với TPCP cùng kỳ hạn dao động từ 2,5% đến 3%.
    • Phương thức phát hành: Hình thức phát hành riêng lẻ theo Nghị định số 52/2006/NĐ-CP chiếm ưu thế tuyệt đối. Số lượng doanh nghiệp chào bán ra công chúng chỉ đếm trên đầu ngón tay (như SHB, REE, Nhà Thủ Đức).
  • Thực trạng niêm yết và giao dịch thứ cấp: Hoạt động niêm yết TPDN còn rất hạn chế. Tính đến cuối năm 2010, quy mô niêm yết toàn thị trường trái phiếu đạt 12% GDP (so với tổng dư nợ 15,1% GDP), nhưng TPCP chiếm tới 99,3% giá trị niêm yết. Đến tháng 8/2011, HOSE chỉ có 3 doanh nghiệp niêm yết TPDN (giá trị 9.982,1 triệu đồng) và HNX có 5 doanh nghiệp (giá trị 6.662 triệu đồng). Giao dịch thứ cấp chủ yếu diễn ra qua phương thức thỏa thuận với thanh khoản rất thấp (năm 2010, HNX chỉ thực hiện 6.410 giao dịch TPDN với giá trị 753,67 tỷ đồng).

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Trên cơ sở đánh giá các hạn chế nội tại và đón đầu xu thế điều hành kinh tế vĩ mô (chủ trương kiểm soát tăng trưởng tín dụng ngân hàng dưới 20%), Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện:

  1. Hoàn thiện khung chính sách, pháp lý: Triển khai đồng bộ và hướng dẫn chi tiết Nghị định số 90/2011/NĐ-CP (ban hành ngày 14/10/2011 thay thế Nghị định 52/2006/NĐ-CP và Nghị định 53/2009/NĐ-CP), hoàn thiện các quy định về điều kiện phát hành, chuẩn hóa chế độ công bố thông tin và báo cáo tài chính kiểm toán.
  2. Đa dạng hóa sản phẩm trái phiếu: Khuyến khích phát hành các cấu trúc trái phiếu mới như trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền, trái phiếu xanh, trái phiếu có bảo đảm bằng tài sản hoặc bảo lãnh thanh toán nhằm đáp ứng khẩu vị rủi ro đa dạng của nhà đầu tư.
  3. Phát triển hạ tầng thị trường: Hiện đại hóa hệ thống đăng ký, lưu ký, thanh toán bù trừ tập trung; thiết lập đường cong lãi suất chuẩn từ thị trường trái phiếu chính phủ để làm cơ sở định giá TPDN.
  4. Phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức: Ban hành chính sách thu hút các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện, công ty bảo hiểm và nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường vốn nợ dài hạn.
  5. Xây dựng hệ thống nhà tạo lập thị trường (Primary Dealers): Áp dụng thí điểm hệ thống nhà tạo lập thị trường cho thị trường trái phiếu chính phủ, tạo nền tảng lan tỏa cơ chế cung cấp thanh khoản sang thị trường TPDN.
  6. Thành lập tổ chức định mức tín nhiệm trong nước: Xây dựng cơ chế cấp phép và vận hành các công ty xếp hạng tín nhiệm độc lập, có uy tín để giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin, hỗ trợ định giá rủi ro chính xác.
  7. Nâng cao vai trò của hiệp hội nghề nghiệp: Phát huy vai trò của Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) trong việc chuẩn hóa hợp đồng mẫu, quy chế giao dịch và cầu nối đối thoại chính sách giữa cơ quan quản lý và các thành viên thị trường.

Kết quả và đóng góp

Bảng số liệu tổng hợp các doanh nghiệp phát hành TPDN lớn nhất

Thực trạng phát hành TPDN tại Việt Nam giai đoạn khảo sát được phản ánh rõ qua cơ cấu dư nợ của 15 doanh nghiệp dẫn đầu:

STT Tên Doanh nghiệp Giá trị TPDN lưu hành (Tỷ đồng) Tình trạng niêm yết Ngành nghề kinh doanh
1 Công ty Cổ phần Vincom 5.000,00 Có Bất động sản
2 Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) 3.850,00 Không Tài chính - Ngân hàng
3 Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) 3.599,93 Có Tài chính - Ngân hàng
4 Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) 3.000,00 Có Tài chính - Ngân hàng
5 Công ty Chứng khoán Agribank (Agriseco) 2.000,00 Có Tài chính - Chứng khoán
6 Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) 2.000,00 Không Tài chính - Ngân hàng
7 Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) 2.000,00 Có Tài chính - Chứng khoán
8 Công ty Cổ phần Vinpearl 1.000,00 Không TTTM, Du lịch nghỉ dưỡng
9 Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) 1.000,00 Không Tài chính - Ngân hàng
10 Ngân hàng TMCP Quân đội (MBBank) 1.000,00 Có Tài chính - Ngân hàng
11 Công ty Cổ phần Cơ Điện Lạnh (REE) 810,42 Có Công nghiệp
12 Tập đoàn Hòa Phát 800,00 Có Công nghiệp
13 CTCP Phát triển Nhà Thủ Đức (Thuduc House) 600,00 Có Bất động sản
14 Tổng Công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc 500,00 Có Bất động sản
15 CTCP Xuất nhập khẩu và Đầu tư TP.HCM (Imexco) 450,00 Có Thương mại
Tổng 15 Doanh nghiệp dẫn đầu 27.610,35 — Chiếm 93% tổng dư nợ TPDN

Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu AsianBondMonitor và báo cáo nghiên cứu.

Đóng góp chính của công trình

  • Về mặt học thuật: Cung cấp bức tranh tổng thể, có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của TTTPDN Việt Nam từ giai đoạn triển khai Nghị định 120/CP, Nghị định 52/2006/NĐ-CP đến thời điểm ban hành Nghị định 90/2011/NĐ-CP.
  • Về mặt thực tiễn: Chỉ rõ sự chênh lệch lớn giữa quy mô dư nợ TPDN (chỉ chiếm khoảng 2,5% GDP cuối năm 2011) so với kênh tín dụng ngân hàng (tăng trưởng bình quân 33,5% giai đoạn 2006–2010), từ đó làm rõ tính cấp bách của việc tái cấu trúc thị trường vốn nhằm giảm thiểu rủi ro cho hệ thống ngân hàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của tài liệu:
    • Chuỗi số liệu phân tích tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2000–2011; các số liệu giao dịch thứ cấp của thị trường phi tập trung (OTC) chưa được thống kê đầy đủ do tính chất giao dịch riêng lẻ, bảo mật của các định chế tài chính.
    • Tác giả chưa sử dụng các mô hình định lượng phức tạp để kiểm định mối quan hệ giữa biến động lãi suất điều hành và biên độ rủi ro tín dụng của TPDN.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng:
    • Đánh giá tác động thực tế của Nghị định số 90/2011/NĐ-CP đối với hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ và chào bán quốc tế sau năm 2012.
    • Nghiên cứu mô hình thiết lập hệ thống đường cong lãi suất chuẩn và tác động của tổ chức định mức tín nhiệm nội địa đến chi phí vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu có giá trị cho:

  • Sinh viên và học viên: Thuộc các chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Tài chính Doanh nghiệp, Thị trường Chứng khoán cần tài liệu tham khảo về cấu trúc công cụ nợ, cơ chế bảo lãnh phát hành và thực tiễn phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2000–2012.
  • Chuyên viên phân tích và doanh nghiệp: Các tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại có thể tham khảo cấu trúc các đợt phát hành thực tế (lãi suất thả nổi, điều khoản chuyển đổi, chi phí phát hành) của các tổ chức lớn như Vincom, EVN, Vinashin, Techcombank.
  • Cơ quan quản lý chính sách: Tham khảo hệ thống đề xuất về việc hoàn thiện tổ chức định mức tín nhiệm, nhà tạo lập thị trường và vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp trong quản lý thị trường tài chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại thời điểm nghiên cứu, tỷ trọng dư nợ TPDN của các doanh nghiệp lớn tập trung như thế nào?

Theo số liệu từ AsianBondMonitor trong văn bản, dư nợ trái phiếu của 15 doanh nghiệp lớn nhất chiếm tới 93% tổng dư nợ TPDN tại Việt Nam (với tổng giá trị 27.610,35 tỷ đồng). Về cơ cấu ngành nghề, nhóm doanh nghiệp sản xuất, thương mại và bất động sản chiếm 55%, trong khi nhóm ngân hàng thương mại chiếm 45% tổng khối lượng phát hành.

2. Vì sao phần lớn TPDN tại Việt Nam trong giai đoạn này sử dụng cấu trúc lãi suất thả nổi và kỳ hạn ngắn?

Khoảng 75% các đợt phát hành áp dụng cấu trúc lãi suất thả nổi (thường cố định năm đầu từ 13,5%, các năm sau tính bằng bình quân lãi suất tiền gửi tiết kiệm 12 tháng của 4 NHTM lớn cộng thêm biên độ từ 2,75% đến 5%/năm) và kỳ hạn chủ yếu dưới 5 năm. Nguyên nhân là do bối cảnh kinh tế vĩ mô có lạm phát cao (khoảng 15% năm 2011), rủi ro biến động lãi suất lớn và thiếu đường cong lãi suất chuẩn dài hạn, khiến nhà đầu tư e ngại rủi ro khi nắm giữ trái phiếu lãi suất cố định kỳ hạn dài.

3. Hai doanh nghiệp nhà nước nào phát hành trái phiếu với quy mô lớn nhất trong giai đoạn 2006–2009?

Trong giai đoạn 2006–2009, hai doanh nghiệp phát hành lớn nhất là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) với 13 đợt phát hành, huy động 10.871 tỷ đồng (chiếm 41% tổng vốn huy động của khối tổng công ty) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) với 10 đợt phát hành, huy động 10.200 tỷ đồng (chiếm 36%).

4. Văn bản quy phạm pháp luật nào được ban hành vào cuối năm 2011 để điều chỉnh hoạt động phát hành TPDN?

Đó là Nghị định số 90/2011/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 14/10/2011 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, có hiệu lực thay thế cho Nghị định số 52/2006/NĐ-CP và Nghị định số 53/2009/NĐ-CP nhằm chuẩn hóa lại các điều kiện phát hành riêng lẻ và phát hành ra thị trường quốc tế.

5. Thực trạng niêm yết và giao dịch TPDN trên hai Sở Giao dịch Chứng khoán (HOSE và HNX) giai đoạn 2010–2011 như thế nào?

Hoạt động niêm yết TPDN rất khiêm tốn khi TPCP chiếm tới 99,3% tổng giá trị niêm yết toàn thị trường. Tính đến tháng 8/2011, HOSE chỉ có 3 doanh nghiệp niêm yết TPDN (gồm BIDV, HFIC, Nhà Thủ Đức với quy mô 9.982,1 triệu đồng) và HNX có 5 doanh nghiệp (quy mô 6.662 triệu đồng). Giao dịch thứ cấp rất thấp và chủ yếu thực hiện qua phương thức thỏa thuận (năm 2010, HNX chỉ ghi nhận 6.410 trái phiếu doanh nghiệp giao dịch với giá trị 753,67 tỷ đồng).


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp "Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Việt Nam" của tác giả Phạm Thị Thanh Loan đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về công cụ trái phiếu và cơ chế vận hành thị trường vốn nợ. Công trình phản ánh trung thực thực trạng phát triển của TTTPDN Việt Nam giai đoạn 2000–2011 với quy mô dư nợ còn nhỏ bé (khoảng 2,5% GDP), phụ thuộc lớn vào phương thức phát hành riêng lẻ của một số ít tập đoàn và ngân hàng lớn. Hệ thống 8 nhóm giải pháp đề xuất tập trung vào hoàn thiện chính sách (Nghị định 90/2011/NĐ-CP), thành lập tổ chức định mức tín nhiệm nội địa và phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức là cơ sở tham khảo có giá trị cho công tác quản lý và nghiên cứu thị trường tài chính.