Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Quá trình phát triển kinh tế và thực thi các chiến lược đầu tư cơ sở hạ tầng đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc huy động các nguồn vốn trung và dài hạn cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) cũng như khu vực doanh nghiệp. Bên cạnh kênh tín dụng ngân hàng truyền thống, thị trường trái phiếu – đặc biệt là kênh phát hành trái phiếu Chính phủ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước – đóng vai trò công cụ phân bổ vốn, hỗ trợ bù đắp thâm hụt ngân sách và kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, quá trình vận hành thực tế bộc lộ nhiều điểm nghẽn về thể chế, cơ chế điều hành lãi suất và thanh khoản thị trường. Đề tài được tác giả nghiên cứu trong thời gian thực tập tại Phòng Thị trường Tài chính, Vụ Tài chính Ngân hàng, Bộ Tài chính.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về trái phiếu và thị trường trái phiếu.
- Phân tích vị trí, vai trò của thị trường trái phiếu đối với nền kinh tế quốc dân, Chính phủ, doanh nghiệp và công chúng đầu tư.
- Đánh giá toàn diện thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2000–2010, chỉ ra các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và định hướng nhằm thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển đồng bộ, mở rộng quy mô và gia tăng thanh khoản cho thị trường vốn trong các giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công cụ trái phiếu (Trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu chính quyền địa phương, Trái phiếu doanh nghiệp) và cơ chế vận hành, quản lý thị trường trái phiếu sơ cấp và thứ cấp.
- Phạm vi không gian: Thị trường tài chính Việt Nam, tập trung vào hoạt động phát hành và giao dịch tại Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN/HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (SGDCK TP.HCM).
- Phạm vi thời gian: Khảo cứu tiến trình hình thành và phát triển từ năm 1991, phân tích số liệu thực trạng trọng tâm giai đoạn 2000–2010 và cập nhật khung pháp lý đến năm 2011.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận về thị trường chứng khoán nợ và cơ chế luân chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường:
- Khái niệm và đặc tính công cụ: Trái phiếu được định nghĩa là chứng nhận nợ dài hạn (kỳ hạn từ một năm trở lên) xác lập nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi định kỳ của tổ chức phát hành đối với chủ sở hữu. Các tham số cấu thành gồm mệnh giá, lãi suất danh nghĩa (trái suất), giá phát hành (ngang giá, gia tăng, chiết khấu) và kỳ hạn. Công thức xác định tiền lãi định kỳ: $\text{Số tiền lãi} = \text{Mệnh giá} \times \text{Trái suất}$.
- Phân loại công cụ nợ:
- Phân loại theo chủ thể: Trái phiếu Chính phủ (Tín phiếu kho bạc, Trái phiếu kho bạc), Trái phiếu chính quyền địa phương, Trái phiếu doanh nghiệp (trái phiếu mua lại trước hạn, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền, trái phiếu có bảo đảm bằng tài sản cầm cố/thế chấp, trái phiếu không bảo đảm, trái phiếu thu nhập, trái phiếu zero-coupon, trái phiếu seri, trái phiếu đầu cơ/junk bond).
- Phân loại theo hình thức sở hữu: Trái phiếu vô danh (bearer bond) có đính kèm coupon nhận lãi và trái phiếu ghi danh (registered bond).
- Cấu trúc thị trường và định chế trung gian: Thị trường sở giao dịch tập trung và thị trường phi tập trung (OTC); các tổ chức bảo lãnh phát hành với 4 phương thức nghiệp vụ (cam kết chắc chắn, cố gắng cao nhất, bán tất cả hoặc không, tối thiểu - tối đa); tổ chức định mức tín nhiệm (áp dụng thang đo từ AAA đến D theo chuẩn quốc tế như Moody’s, Standard & Poor’s); tổ chức đại diện người sở hữu trái phiếu; các tổ chức kinh doanh và môi giới chứng khoán.
- Hệ thống văn bản pháp quy: Đánh giá dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ, bao gồm Nghị định 72/CP (1994), Nghị định 120/CP (1994), Luật Ngân sách Nhà nước (1996), Nghị định 48/1998/NĐ-CP, Nghị định 01/2000/NĐ-CP, Nghị định 141/2003/NĐ-CP, Nghị định 144/2003/NĐ-CP, Luật Chứng khoán (2006), Nghị định 52/2006/NĐ-CP, Quyết định 86/QĐ-BTC (2008), Luật Quản lý nợ công (2009), Nghị định 84/2010/NĐ-CP, Nghị định 01/2011/NĐ-CP và Nghị định 90/2011/NĐ-CP.
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu số liệu thứ cấp qua các giai đoạn kinh tế và phương pháp nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà nước.
- Nguồn dữ liệu: Số liệu thứ cấp từ Bộ Tài chính (Vụ Tài chính Ngân hàng), Kho bạc Nhà nước (KBNN), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về trái phiếu và thị trường trái phiếu
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về trái phiếu và sự vận hành của thị trường trái phiếu trong hệ thống tài chính:
- Bản chất và cấu trúc sản phẩm: Phân tích chi tiết đặc tính pháp lý, cơ chế chiết khấu của tín phiếu ngắn hạn, cơ chế chi trả lãi định kỳ của trái phiếu trung và dài hạn, cùng các điều khoản kỹ thuật của trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền và tài sản bảo đảm.
- Vai trò của thị trường trái phiếu:
- Đối với nền kinh tế: Huy động nguồn lực nhàn rỗi trung - dài hạn, giảm áp lực cung ứng vốn dài hạn lên hệ thống ngân hàng thương mại, san sẻ rủi ro tín dụng.
- Đối với Chính phủ: Tạo nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách bền vững thay cho việc phát hành tiền, cung cấp công cụ cho Ngân hàng Trung ương thực thi chính sách tiền tệ qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO), hỗ trợ quản trị nợ và định hướng vĩ mô.
- Đối với doanh nghiệp: Cung cấp kênh huy động vốn quy mô lớn không bị giới hạn bởi vốn tự có như vay ngân hàng, bảo toàn tỷ lệ kiểm soát quyền sở hữu và giảm thiểu chi phí vốn so với phát hành cổ phiếu.
- Đối với công chúng đầu tư: Cung cấp công cụ đầu tư có mức độ rủi ro thấp hơn cổ phiếu, phân tán rủi ro danh mục tài sản.
- Các định chế tham gia thị trường: Xác định chức năng của chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư (cá nhân và tổ chức như quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí), tổ chức bảo lãnh, tổ chức định mức tín nhiệm (ĐMTN), tổ chức đại diện trái chủ và tổ chức kinh doanh chứng khoán.
- Tiêu chuẩn đánh giá và điều kiện phát triển: Sự phát triển của thị trường được đo lường bằng giá trị giao dịch, khối lượng lưu hành và mức độ tham gia của các định chế trung gian. Các điều kiện tiên quyết gồm: môi trường kinh tế vĩ mô ổn định; khung khổ pháp lý hoàn chỉnh; lòng tin của nhà đầu tư; thị trường sơ cấp vững mạnh; hệ thống hạ tầng đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ tập trung.
Chương 2: Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay
Chương 2 phân tích thực trạng phát triển thị trường giai đoạn 2000–2010 trên cả hai phương diện khung pháp lý và diễn biến thị trường thực tế:
- Tiến trình hoàn thiện thể chế: Khung pháp lý Trái phiếu Chính phủ chuyển biến từ Nghị định 72/CP (1994) sang Nghị định 01/2000/NĐ-CP (thiết lập cơ chế đấu thầu qua sàn tập trung và bảo lãnh), Nghị định 141/2003/NĐ-CP (bổ sung quy chế trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương), Luật Chứng khoán 2006, Quyết định 86/QĐ-BTC (2008 phê duyệt đề án thị trường trái phiếu chuyên biệt) và Nghị định 01/2011/NĐ-CP (chuẩn hóa TPCP gồm 3 loại: Tín phiếu kho bạc, Trái phiếu kho bạc và Công trái xây dựng Tổ quốc). TPDN chuyển từ Nghị định 120/CP (1994) sang Nghị định 52/2006/NĐ-CP và Nghị định 90/2011/NĐ-CP điều chỉnh phát hành riêng lẻ.
- Bất cập pháp lý tồn đọng: Tồn tại mâu thuẫn giữa Quyết định 139/1999/QĐ-TTg (cho phép khối ngoại nắm giữ tối đa 40% số lượng trái phiếu lưu hành) và Nghị định 01/2000/NĐ-CP (không cho phép tổ chức/cá nhân nước ngoài sinh sống ở nước ngoài mua TPCP, thiếu quy định cụ thể cho thị trường thứ cấp).
- Thực trạng phân khúc Trái phiếu Chính phủ:
- Tín phiếu kho bạc: Đấu thầu qua NHNN phát triển mạnh từ năm 2005. Từ tháng 9/2005, NHNN bổ sung kỳ hạn 182 ngày bên cạnh kỳ hạn 364 và 273 ngày. Năm 2006 đạt 52 phiên đấu thầu với giá trị trúng thầu 21.382 tỷ đồng.
- Trái phiếu kho bạc qua sàn: Năm 2006, việc tập trung đấu thầu tại TTGDCK HN theo Quyết định 2276/QĐ-BTC giúp giá trị trúng thầu đạt 7.885 tỷ đồng (gấp 3,3 lần năm 2005). Đầu năm 2007, KBNN phát hành thí điểm thành công lô lớn đầu tiên (1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm, lãi suất 7,8%/năm) và lô thứ hai (gọi thầu 2.000 tỷ đồng, trúng thầu 1.570 tỷ đồng, đạt 78,5%). Tuy nhiên, tỷ lệ thành công giảm dần trong nửa cuối năm 2007 (quý I đạt 99%, quý IV còn 67,3%; phiên ngày 04/10/2007 khối lượng trúng thầu bằng 0). Đầu năm 2008 và năm 2009, thị trường sơ cấp suy giảm mạnh; năm 2009 chỉ huy động được 5.000 tỷ đồng trên tổng mức 71.400 tỷ đồng gọi thầu (tỷ lệ thành công ~4%) do cơ chế áp trần lãi suất không theo kịp kỳ vọng thị trường.
- Bảo lãnh phát hành TPCP: Tính đến 30/04/2008, phát hành qua bảo lãnh đạt 52.816 tỷ đồng đối với KBNN và 61.000 tỷ đồng đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPTVN), với 46 tổ chức thành viên bảo lãnh (24 ngân hàng thương mại).
- Thực trạng phân khúc Trái phiếu Doanh nghiệp:
- Trước năm 2006 chỉ có 5 doanh nghiệp phát hành: REE (5 triệu USD năm 1996), EIS (10 tỷ đồng năm 1998), PVN (300 tỷ đồng năm 2003), EVN (300 tỷ đồng năm 2003) và Tổng công ty Xi măng (200 tỷ đồng năm 2003).
- Từ năm 2006 đến thời điểm nghiên cứu, sau khi có Nghị định 52/2006/NĐ-CP, có 26 doanh nghiệp phát hành TPDN với tổng giá trị gần 36.000 tỷ đồng. Năm 2007, dư nợ TPDN tương đương 2,6% GDP, chiếm 11% toàn thị trường trái phiếu. Các tổ chức phát hành tiêu biểu gồm EVN, Vinashin (3.000 tỷ đồng kỳ hạn 10 năm), Vinaconex, Vincom, Novaland (1.922 tỷ đồng), PVFC. Tháng 8/2008, Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) phát hành 500 tỷ đồng với lãi suất trần và trúng thầu 16%/năm.
- Thực trạng niêm yết và giao dịch thứ cấp:
- TPCP chiếm 85–95% tổng giá trị niêm yết. Từ ngày 02/06/2008, toàn bộ TPCP niêm yết tại SGDCK TP.HCM được chuyển sang TTGDCK HN. Đến năm 2010, hệ thống có 484 mã TPCP niêm yết với tổng giá trị 280,1 nghìn tỷ đồng (tăng 30,2% so với 2009), quy mô bình quân gần 600 tỷ đồng/mã.
- TPDN niêm yết rất thứ cấp: Trước năm 2006 chỉ có 2 đợt phát hành của BIDV (mã BID1-100 trị giá 83 tỷ đồng và BID1-200 trị giá 74 tỷ đồng). Đến hết năm 2010, TTGDCK HN chỉ có 9 mã TPDN giao dịch thuộc 3 tổ chức phát hành (EVN, VEC, Ngân hàng Chính sách Xã hội) với tổng giá trị niêm yết 5.000 tỷ đồng.
| Tiêu chí |
Trái phiếu Chính phủ (TPCP) |
Trái phiếu Doanh nghiệp (TPDN) |
| Quy mô niêm yết (đến năm 2010) |
484 mã; tổng giá trị 280,1 nghìn tỷ đồng |
9 mã (tại HNX); tổng giá trị 5.000 tỷ đồng |
| Tỷ trọng trên thị trường niêm yết |
Chiếm 85% – 95% tổng giá trị niêm yết |
Chiếm tỷ phần nhỏ (dư nợ 2007 chiếm ~11% TTTP) |
| Chủ thể phát hành chủ yếu |
Kho bạc Nhà nước, NHPT Việt Nam |
EVN, Vinashin, Vincom, Novaland, VEC, BIDV, PVFC |
| Phương thức phát hành chính |
Đấu thầu qua HNX, Bảo lãnh phát hành |
Phát hành riêng lẻ theo Nghị định 52/2006/NĐ-CP |
| Vướng mắc cốt lõi |
Cơ chế trần lãi suất hành chính, thanh toán lãi 1 lần/năm |
Thiếu định mức tín nhiệm, rào cản minh bạch thông tin |
Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu
Chương 3 xây dựng định hướng và 10 nhóm giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam:
- Mở rộng quy mô, đa dạng hóa và tăng thanh khoản:
- Đối với TPCP: Duy trì phát hành theo lô lớn định kỳ, giảm số lượng mã trái phiếu phân tán, áp dụng phương thức hoàn trả linh hoạt.
- Đối với TPCQĐP: Mở rộng phạm vi phát hành cho các địa phương có nhu cầu vốn hạ tầng lớn, nâng cao năng lực quản lý dự án.
- Đối với TPDN: Khuyến khích doanh nghiệp phát hành đa dạng các kỳ hạn, chuẩn hóa điều kiện phát hành ra công chúng và quốc tế.
- Phát triển công cụ phái sinh liên quan đến trái phiếu: Nghiên cứu áp dụng các hợp đồng tương lai, quyền chọn trái phiếu nhằm hỗ trợ nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro biến động lãi suất.
- Xây dựng và phát triển hệ thống định mức tín nhiệm (ĐMTN): Thành lập các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập theo tiêu chuẩn quốc tế để cung cấp cơ sở định giá rủi ro khách quan cho TPDN.
- Thu hút và phát triển đội ngũ nhà tạo lập thị trường (Market Makers): Lựa chọn các định chế tài chính đủ năng lực thực hiện cam kết chào giá mua - bán hai chiều, tạo thanh khoản thường xuyên cho thị trường thứ cấp.
- Xây dựng đường cong lãi suất chuẩn cho TPCP: Hình thành hệ thống lãi suất chuẩn dựa trên các kỳ hạn thanh khoản cao làm căn số tham chiếu cho toàn bộ thị trường tài chính và phát hành TPDN.
- Nâng cao nhận thức thị trường: Đào tạo, tuyên truyền cho các doanh nghiệp về lợi ích huy động vốn qua trái phiếu và phổ biến kiến thức cho công chúng đầu tư.
- Thực hiện công khai hóa thông tin: Chuẩn hóa quy định công bố thông tin tài chính của tổ chức phát hành, phương án sử dụng vốn và nghĩa vụ trả nợ.
- Hoàn thiện hệ thống pháp lý và quản lý: Ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết Luật Quản lý nợ công 2009, hoàn thiện chế tài giám sát giao dịch và xử lý thao túng thị trường.
- Xây dựng thị trường trái phiếu chuyên biệt và phát triển OTC: Vận hành hiệu quả hệ thống giao dịch trái phiếu chuyên biệt tại HNX và chuẩn hóa cơ chế giao dịch trên thị trường phi tập trung.
- Phát triển dịch vụ ngân hàng hỗ trợ và bảo đảm an ninh tài chính: Nâng cao chất lượng dịch vụ lưu ký, thanh toán bù trừ đa tiền tệ, kết hợp quản trị an toàn nợ công quốc gia.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên số liệu thực tế:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở dữ liệu thực trạng: Khóa luận tập hợp chuỗi số liệu về thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2000–2010, phản ánh sự biến động của giá trị trúng thầu qua các thời kỳ kinh tế (năm 2006 đạt 7.885 tỷ đồng; năm 2009 sụt giảm còn 5.000 tỷ đồng/71.400 tỷ đồng gọi thầu; năm 2010 tăng trưởng đạt 280,1 nghìn tỷ đồng giá trị niêm yết với 484 mã TPCP).
- Chỉ rõ nguyên nhân thất bại của các phiên đấu thầu: Tác giả phân tích cơ chế áp trần lãi suất của Bộ Tài chính trong các giai đoạn lạm phát tăng cao (điển hình là đầu năm 2008 khi trần lãi suất 8,5% thấp hơn mức lãi suất đăng ký 8,9%–9,5%), làm triệt tiêu tính cạnh tranh của thị trường sơ cấp.
- Đánh giá đúng thực trạng thị trường TPDN: Phản ánh bức tranh phân khúc TPDN với quy mô dư nợ nhỏ (2,6% GDP năm 2007), số lượng niêm yết thứ cấp hạn chế (chỉ 9 mã tại HNX đến cuối năm 2010) và tập trung chủ yếu ở một số tập đoàn lớn (EVN, Vinashin, Novaland, VEC).
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn với thực tiễn cơ quan quản lý: Khóa luận đóng góp hệ thống giải pháp đồng bộ xuất phát từ góc độ cơ quan quản lý (Vụ Tài chính Ngân hàng - Bộ Tài chính), nhấn mạnh vào việc thiết lập đường cong lãi suất chuẩn, xây dựng tổ chức định mức tín nhiệm và xóa bỏ rào cản trần lãi suất hành chính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do giới hạn thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2011), các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành như Nghị định 01/2011/NĐ-CP và Nghị định 90/2011/NĐ-CP chưa có đủ dữ liệu thực tế để đánh giá hiệu lực thi hành; nguồn dữ liệu về thị trường TPDN phát hành riêng lẻ và giao dịch OTC chưa được thống kê toàn diện do hạn chế về công bố thông tin thời kỳ đó.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đánh giá tác động thực tế của Luật Quản lý nợ công 2009 và Nghị định 01/2011/NĐ-CP đối với hoạt động tái cơ cấu kỳ hạn nợ Chính phủ trong giai đoạn tiếp theo.
- Nghiên cứu mô hình tổ chức và khung pháp lý chi tiết cho việc cấp phép thành lập các công ty định mức tín nhiệm nội địa tại Việt Nam.
- Phân tích định lượng mối quan hệ giữa biến động lãi suất thị trường liên ngân hàng và đường cong lãi suất trái phiếu Chính phủ.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng và nội dung sau:
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Chứng khoán, Kinh tế đầu tư; các chuyên viên nghiên cứu chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước và bộ phận thị trường vốn tại các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán.
- Các nội dung tham khảo giá trị:
- Tư liệu lịch sử - pháp lý: Bức tranh tổng kết quá trình tiến hóa của khung pháp lý thị trường trái phiếu Việt Nam từ Nghị định 72/CP (1994) đến Nghị định 01/2011/NĐ-CP.
- Dữ liệu thực nghiệm: Các bảng thống kê số liệu đấu thầu tín phiếu kho bạc (2006–2009), các đợt phát hành thí điểm theo lô lớn năm 2007 và hồ sơ các đợt phát hành TPDN tiêu biểu giai đoạn 2006–2009.
- Luận cứ chính sách: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc hình thành đường cong lãi suất chuẩn và phát triển tổ chức định mức tín nhiệm trong giai đoạn đầu của thị trường vốn.
Câu hỏi thường gặp
1. Kho bạc Nhà nước thực hiện đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ theo lô lớn đầu tiên vào thời điểm nào và kết quả ra sao?
Đầu năm 2007, KBNN phát hành thành công lô TPCP lớn đầu tiên với tổng khối lượng 1.000 tỷ đồng (kỳ hạn 5 năm, lãi suất 7,8%/năm) chia làm 3 đợt vào các ngày 19/03, 27/04 và 17/05/2007, có cùng ngày đáo hạn là 19/03/2012. Lô thứ hai năm 2007 gọi thầu 2.000 tỷ đồng và trúng thầu 1.570 tỷ đồng (đạt tỷ lệ 78,5%).
2. Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm tỷ lệ trúng thầu TPCP trong giai đoạn cuối năm 2007 đến năm 2009?
Nguyên nhân chủ yếu do cơ chế áp trần lãi suất đấu thầu của Bộ Tài chính không theo kịp kỳ vọng của nhà đầu tư. Trong bối cảnh lạm phát tăng, Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 5% lên 10% khiến chi phí vốn của hệ thống ngân hàng thương mại tăng cao; các mức lãi suất đăng ký dự thầu (8,9%–9,5%/năm) vượt qua mức lãi suất trần (8,5%/năm), dẫn đến nhiều phiên đấu thầu có khối lượng trúng thầu bằng 0 (năm 2009 chỉ huy động được 5.000 tỷ/71.400 tỷ đồng gọi thầu).
3. Xung đột pháp lý giữa Quyết định 139/1999/QĐ-TTg và Nghị định 01/2000/NĐ-CP liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài là gì?
Quyết định 139/1999/QĐ-TTg cho phép các tổ chức, cá nhân nước ngoài (cả trong và ngoài nước) được nắm giữ tối đa 40% tổng số trái phiếu lưu hành của một tổ chức phát hành. Tuy nhiên, Nghị định 01/2000/NĐ-CP (Điều 14 và 18) lại quy định không cho phép các đối tượng là tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động, sinh sống ở nước ngoài được mua TPCP và chưa quy định tỷ lệ tham gia trên thị trường thứ cấp.
4. Tình hình niêm yết Trái phiếu Doanh nghiệp trên các Sở Giao dịch Chứng khoán diễn ra như thế nào tính đến năm 2010?
Trước năm 2006, thị trường chỉ có 2 mã trái phiếu của BIDV (BID1-100 và BID1-200) niêm yết tại SGDCK TP.HCM. Đến hết năm 2010, tại TTGDCK HN chỉ có 9 mã TPDN đang giao dịch thuộc 3 tổ chức phát hành (EVN, VEC và Ngân hàng Chính sách Xã hội) với tổng giá trị niêm yết đạt 5.000 tỷ đồng, phản ánh tính thanh khoản và quy mô niêm yết thứ cấp của TPDN còn rất thấp.
5. Khóa luận trình bày những phương thức bảo lãnh phát hành chứng khoán nào?
Khóa luận nêu 4 phương thức bảo lãnh phát hành cơ bản: (1) Bảo lãnh với cam kết chắc chắn; (2) Bảo lãnh với cố gắng cao nhất; (3) Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không; (4) Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa.
Kết luận
Khóa luận đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về trái phiếu, cấu trúc thị trường chứng khoán nợ và vai trò của các định chế trung gian tài chính trong nền kinh tế. Qua phân tích chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2000–2010, nghiên cứu đã phản ánh trung thực những bước tiến về thể chế cũng như các điểm nghẽn về thanh khoản, cơ chế trần lãi suất và sự thiếu vắng hạ tầng định mức tín nhiệm tại Việt Nam. Hệ thống 10 giải pháp đề xuất cung cấp luận cứ tham khảo phục vụ công tác hoạch định chính sách nhằm xây dựng thị trường trái phiếu chuyên biệt, minh bạch và đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn của nền kinh tế.