CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG 1. Khái niệm, đặc điểm của tiền lương 1. Khái niệm tiền lương Tại Điều 1 Công ước số 95 của Tổ chức Lao động Quốc tế, tiền lương đã được định nghĩa chi tiết như sau: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ hoặc bằng pháp luật quốc gia, do NSDLĐ phải trả cho NLĐ theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng lời nói cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho hoặc cho những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm”. Từ khái niệm trên, chung ta có thể rút ra một số dấu hiệu đặc trưng để nhận biết về tiền lương.
Thứ nhất, tiền lương là sự trả công lao động dựa trên thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc có thể do pháp luật của một quốc gia quy định. Thứ hai, nguyên tắc của thỏa thuận là “thỏa thuận theo quy định của pháp luật quốc gia”. Nhìn vào đúng bản chất của tiền lương, Tổ chức Lao động Quốc tế cho rằng dù được gọi bằng bất kỳ tên nào hay được tính theo phương cách nào thì nếu có bản chất là việc trả thù lao cho một công việc hoặc một người lao động nào đó theo thỏa thuận, phân công, hoặc theo quy định của pháp luật một quốc gia nào đó, thì đó vẫn là tiền lương. Ở đây, yếu tố “thỏa thuận” và “theo quy định pháp luật quốc gia” giữa vai trò thiết yếu để phân biệt quan hệ pháp luật lao động với các quan hệ pháp luật khác.
Thứ ba, tiền lương có thể biểu hiện bằng tiền. Quy định này là một quy định mở bởi lẽ tiền có thể không phải là phương thức duy nhất để trả công hay để mua sức lao động. Những người tham gia quan hệ lao động có thể lựa chọn phương thức trả công khác, ví dụ bằng tài sản, hiện vật khác tiền. Cho đến nay, quy định mở này vẫn còn giữ nguyên giá trị.
Thứ tư, tiền lương được trả khi người lao động đã hoặc sẽ thực hiện một công việc hoặc dịch vụ nào đó cho người sử dụng lao động mà bằng chứng của sự thỏa thuận đó là hợp đồng lao động hay cơ sở của việc trả lương. Như vậy, phần nội dung này của định nghĩa về tiền lương đã quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động, trong đó quyền của bên này chính là nghĩa vụ của bên kia. Khi một bên có nghĩa vụ trả tiền lương, thì bên còn lại có trách nhiệm thực hiện một công việc/dịch vụ nào đó như đã cam kết. Như vậy, khái niệm về tiền lương của Tổ chức Lao động Quốc tế là một khái niệm toàn diện, đa chiều, nhìn tiền lương từ khía cạch pháp lý trong quan hệ lao động.
Khái niệm này đã được áp dụng, vận dụng một cách linh hoạt tại nhiều quốc gia là Pháp, Canada, Việt Nam. 7 Thực tế, có nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau về tiền lương ở các quốc gia. Tại Pháp, pháp luật quy định rằng “sự trả công được hiểu là tiền lương hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà NSDLĐ trả cho NLĐ theo việc làm của họ”. Còn tại Nhật Bản, thì tiền lương được hiểu là “thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc, ví dụ như nghỉ mát hàng năm, nghỉ có hưởng lương hoặc nghỉ lễ”.
Ở Đài Loan thì tiền lương hàm chỉ tới “mọi khoản thù lao mà NLĐ nhận được do làm việc bất luận là lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác nhau để trả cho họ theo ngày, giờ, tháng hoặc theo sản phẩm”.1 Tại Việt Nam, từ góc độ kinh tế thì tiền lương “là giá cả của sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ phù hợp với cung - cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”.2 Tại Điều 90 BLLĐ 2019 có nêu khái niệm về tiền lương, theo đó “tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương, các khoản bổ sung khác”. Như vậy, tiền lương được thể hiện khá đa dạng khi được trả cho NLĐ làm những công việc khác nhau với các yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ khác nhau. Tóm lại, từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản rằng tiền lương là số tiền hoặc số lượng tài sản mà người sử dụng lao động có nghĩa vụ phải trả cho người lao động theo thỏa thuận cho một công việc/dịch vụ đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương, các khoản bổ sung khác cho lương. Tiền lương đóng vai trò như một công cụ pháp lý bảo vệ quyền lợi cho NLĐ, bảo vệ công bằng cho họ trong quan hệ lao động; tiền lương giữ vai trò làm cơ sở để hai bên trong quan hệ lao động thỏa thuận trước khi đi đến ký kết hợp đồng lao động; tiền lương cũng là một công cụ hiệu quả để Nhà nước có thể điều tiết thu nhập của người dân trong đất nước mình, đảm bảo công bằng xã hội; tiền lương là một nguồn thu quan trọng của Nhà nước; là công cụ kích thích người lao động và tích lũy của cải.
Đặc điểm của tiền lương 1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Lao động Việt Nam Tập I, NXB. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2021. 2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật lao động Việt Nam, NXB. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2013, tr.
3 Nguyễn Mạnh Tuân, Pháp luật Lao động về tiền lương trong doanh nghiệp, Tạp chí Việt Nam hội nhập, Số 250 - Tháng 5/2022. 8 Từ cách tiếp cận về tiền lương căn cứ vào các khái niệm và định nghĩa khác nhau ở trên, tiền lương có thể được nhận biết với các đặc điểm như sau: Người sử dụng lao động là bên có trách nhiệm thực hiện trả lương. Thông thường, người sử dụng lao động và người lao động sẽ ký kết hợp đồng lao động, trong đó xác định rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động đó là người sử dụng lao động có trách nhiệm trả lương, còn người lao động có nghĩa vụ thực hiện một công việc/dịch vụ theo như thỏa thuận đã ghi trong HLLĐ hoặc theo quy định của pháp luật. Với tư cách là người nắm giữ tiền và trả tiền cho người lao động, thì người sử dụng lao động thường ở vị trí chiếm ưu thế hơn trong một quan hệ lao động.
Vì vậy, pháp luật đã đặt ra vấn đề phải bảo vệ người lao động tốt nhất, đảm bảo rằng người sử dụng lao động sẽ thực hiện nghĩa vụ của họ trong các quan hệ pháp luật nói chung, trong vấn đề tiền lương nói riêng bằng cách quy định người sử dụng lao động phải trả lương một cách thống nhất, công khai, minh bạch thông qua một hệ thống thang lương, bảng lương đã được xây dựng. Đồng thời, người sử dụng lao động phải đảm bảo tuân thủ về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, mức lương tối thiểu theo như quy định của pháp luật và phải phải ghi rõ những mục này vào trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể. Người lao động là bên được nhận lương. Là một bên chủ thể tham gia ký kết hợp đồng lao động, người lao động sẽ thực hiện một công việc/dịch vụ nào đó cho người sử dụng lao động và được nhận lương.
Tiền lương sẽ được người lao động dùng để phục vụ các nhu cầu cơ bản của cuộc sống, để tích lũy hoặc dùng cho các mục đích khác. Như vậy, tiền lương giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống xã hội, do đó khi có hiện tượng chậm lương, cắt lương, trả thiếu lương, không trả lương thì cuộc sống của người lao động sẽ bị ảnh hưởng, không thể tiếp tục duy trì, từ đó gây ra hiện tượng mất cân bằng xã hội. Tiền lương được biểu hiện dưới dạng tiền. Theo pháp luật dân sự hiện hành, việc trả công lao động có thể được thực hiện bằng tiền, bằng hiện vật hoặc hoán đổi công cho nhau.
Tuy nhiên, trong pháp luật lao động thì người sử dụng lao động chỉ có thể trả công cho người lao động bằng tiền lương. Đây là một quy định cứng của pháp luật lao động. Tại Điều 95 BLLĐ 2019 có quy định “tiền lương được trả cho người lao động là tiền đồng và có thể là ngoại tệ nếu người lao động là người nước ngoài”. Về hình thức thanh toán tiền lương, trước đây tiền lương chỉ được trả bằng tiền mặt, tuy nhiên hiện nay tiền lương có thể được trả thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng.
Trong một quan hệ lao động thì tiền lương chịu sự điều chỉnh nghiêm ngặt của pháp luật và việc thực hiện tiền lương phải tuân thủ đầy đủ các quy định của 9 pháp luật. Mang đặc tính mấu chốt trong quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người sử dụng lao động, do đó vấn đề về tiền lương rất dễ xảy ra tranh chấp lao động, không thống nhất giữa các bên. Đây có thể là lý do mà tiền lương đã được pháp luật các quốc gia quy định từ rất sớm. Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định về tiền lương tương đối chặt chẽ và đầy đủ tại BLLĐ 2019 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
Quan hệ giữa tiền lương và năng suất lao động là mối quan hệ theo chiều thuận. Cụ thể là, khi một người lao động làm việc có năng suất lao động tăng cao, thì người đó có thể được xem xét tăng lương cao hơn và từ đó sẽ tích lũy được của cải nhiều hơn, giúp cho nền kinh tế tăng trưởng tốt hơn. Khái niệm, vai trò, nguyên tắc và nội dung của pháp luật về tiền lương 1. Khái niệm, vai trò của pháp luật về tiền lương 1.
Khái niệm pháp luật về tiền lương Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của Nhà nước.