CHƯƠNG 1: MOT SÓ VAN ĐÈ LÝ LUẬN PHAP LUAT QUẢN LÝ RỦI RO TẠI DNBH PHI NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM 1. Kháiniệmvà đặc điềm của quản lý rủi ro tại các DNBH phi nhân the Việt Nam 1. Khái niệm, đặc diem và phân loại rùiro a. KháiniệmvÈrủiro Rủi ro là một khéi niêm rất phố biên trong đời sóng hàng ngày cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhién, trong kinh doanh không phải ai cũng hiểu đúng bản chất của rủi ro dé từ đó có phương thức nhận diện, đánh giá và quản lý rủi ro một cách liệu quả.
Theo định nghia của Tô chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO), rủi ro là ảnh hưởng của sự không chắc chan đối với kết quả mong đợi Theo Hội đẳng các tổ chức tai tro Uy ban Treadway (COSO), rủi ro là khả năng ma những sự kiện xây ra và ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu Hay định nghia của Vién kiểm toán nội bộ Hoa ky (IIA), rủi ro là khả năng xảy ra các sự kiện ma sẽ ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu. Như vậy, định nghiia của ISO, COSO hay ITA đều có một nghiia chung rằng rủi ro là các sự kiện có thé xảy ra và anh hưởng đến các mục tiêu hoạt động Việc ảnh thưởng này bao gồm hai hướng, tiêu cực và tích cực chứ không đơn thuân là tiêu cực. Rui ro là thách thức và cũng là cơ hôi đề đạt được muc tiêu. Tuy nhiên, theo khoản 2, Điều 3 Thông tư 70/2022/TT-BTC, hướng dẫn Luật kinh doanh bảo hiém 2022 đính nghia “rủi ro là kha nang xảy ra tên thất (ton that tai chính, tốn thất phi tai chink) làm giảm thu nhập, vồn tự có dan đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc han ché khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của DNBH, doanh nghiệp tái bảo hiém, chi nhánh nước ngoài”.
Định ngiữa rủi ro theo pháp luật về bảo hiểm tại Việt Nam có sự khác biệt so với các thông lệ quốc tế về rủi ro khi chỉ nhìn nhận rủi ro ở khía cạnh tiêu cực của các sự kiện rủi ro khi cho rằng chỉ có các sự kiện gây nên tôn that cho DNBH thì moi được coi là rủi ro. Nguyên nhân của sự khác biệt này xuất phát từ mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo 4 hiém. Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ loi ích của người tham gia bảo hiểm thông qua việc đưa các quy định dé dim bảo rang các DNBH có khả năng chi trả nghĩa vụ khi phát sinh. Đồng thời, nhà nước có trách nhiệm dam bảo thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển bên vững lành mạnh.
Xuất phát từ mục tiêu quan lý như vay, đúng trên khía cạnh quân trị rũi ro, quan điểm nhà nước coi rủi ro là những sự kiện sé xảy ra và ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt đông kinh doanh của DNBH là hoàn toàn phù hợp. Khái niém rủi ro trong bai khóa luận này cũng sẽ tập trung nghiên cứu trên quan điểm rủi ro là những sự kiện tiêu cực có thé xảy ra ảnh hưởng din muc tiêu hoạt động kinh doanh của DNBH. Bén cạnh khái niệm rủi ro của DNBH, tác giả cũng muốn phân tích về một khái niém được ding chủ yêu trong các DNBH phi nhân tho đó 1a “rủi ro được bảo hiểm” nhằm làm rõ hơn định ng†fa rủi ro thuộc phạm vi của khỏa luận này. “Rui ro được bảo liểm” là nhimg rủi ro về thiên tai, tại nạn, sự có bat ngờ duoc DNBH chap nhận bảo hiểm.
Nếu những rủi ro này xây ra sẽ gây thiệt hai cho người tham gia bão hiểm và làm phát sinh trách nhiệm bôi thường hoặc trả tiền bảo hiểm của DNBH. Rủi ro được bảo hiểm có thé bao gồm: rủi ro tai chính, rủi ro thuan tuý, rủi ro riêng Thông thường các rủi ro phi tải chính, rủi ro đầu cơ và rủi ro chung bị loại trừ, không thuộc rủi ro bảo hiém. Tuy nhiên, quan điểm của thị trường bảo hiém Lúc nay hay lúc khác có thé thay doi, do vậy, “rủi ro được bão hiểm” là những sự kiện dẫn dén tôn that cho khách hang của các doanh nghiệp được bảo hiểm va được DNBH chấp nhận bảo hiém. Còn rủi ro của DNBH là những sự kiện ảnh hưởng đến việc dat được mục tiêu của DNBH.
Ở khía cạnh về loại rủi ro, rủi ro của DNBH có thể cùng loại với rủi r0 được bảo hiểm nêu như những rủi ro nay ảnh hưởng đến hoạt động của DNBH. Do đó, “rủi ro được bảo hiểm” sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của khóa luận tốt nghiép này. Đặc điểm của rùire Để nhận biết được rủi ro, chúng ta co thể xem xét các đặc điểm chính của rủi ro nihư sau: Thứ nhất, ria ro là hướng tới tương lai. Rui ro là những sự kiện co thé sẽ xây ra trong tương lai chứ không phải là su kiên đã xảy ra.
Do do, khí nhận điện và đánh giá rủi ro, sự kiên đã xây ra có vai trò rihư là mat gơi ý đề xác đính một sự kiện tương tu có thé xây ra và có thé ảnh hưởng tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiép. Thứ hai, rũi ro có đặc điểm là không chắc chắn vi tại thời điểm đánh giá rủi ro, clưúng ta không thể biết rằng sự kiên đó có chắc chắn xảy ra hay không Còn nêu chắc chan đã xảy ra thì lại không được coi là rủi ro. Thứ ba, riit ro của một doanh nghiệp thì phải gắn với một hoặc nhiều mục tiểu của doamh nghiềp, nêu không có mục tiêu nào bị ảnh hưởng thi không được coi là rủi ro. Ví du, đối với DNBH sử dung hệ thông công nghệ thông tin trong quá trình cấp đơn, gãi quyết bôi thường, Sự kiện hệ thông công nghệ thông tin bị gián đoan, ảnh.
hưởng trực tiếp đến mục tiêu cung cap liên tục dich vụ sẽ được coi 1a một rủi ro nghiém trọng của DNBH. Ngược lai, cùng một sự kiên hệ thông công nghệ thông tin gián đoan sẽ không ảnh hưởng đến những doanh nghiệp chủ yêu sử dung hệ thong thi công mà không có sự hồ trợ của công nghệ thông tin. Trong trường hop nay, việc hệ thông công nghệ thông tin gián đoạn cũng không ảnh hưởng đến việc hoàn thành mục tiêu của tô chức nay, do đó không được coi 1a rủi ro của tô chức đó. Chính vì vậy, chỉ được coi là rủi ro của DNBH khi rủi ro đó xuất phat từ sự kiện ma có thé ảnh.
hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp nay. Cùng một sự kiện, có thé 1a rủi ro của tô chức này nhưng lại không phải là rủi ro của tô chức khác. Thử tư, ria ro là cách dé dat được kết qua. không có ria ro, không có thành quả.
Trong hoạt động kinh doanh, mỗi quyết đính kính doanh là một quyết định rủi ro. Nếu không chap nhận mức đô rủi ro thi sẽ không đạt được thành quả mong doi. Dai với DNBH, mỗi quyết định cấp đơn hay ky hợp đẳng bảo hiểm 14 một quyết định rủi ro. Trong trường hợp này, cắn cứ vào các yêu tố được xem xét, DNBH chap nhận bảo hiém cho khách hàng tức là chap nhận sẽ có rủi ro phải bồi thưởng cho tổn thất thuộc phạm vi phải bảo hiểm.
Nhung không có nghiia toàn bộ các sự kiện ma công ty bảo hiém chấp nhận đều sẽ xảy ra. Trên có sở tong số phi thu được của nhiều hợp đồng bảo hiểm, nêu có sự kiện phải bồi thường DNBH sẽ ding nguồn lực đó dé chi trả. Chính vì vay, nêu không chap nhận rủi ro có thé xảy ra tên that phải bôi thường thì DNBH sẽ không có doanh thu, lợi nhuận và trên hệt không dat được mục tiêu kinh doanh. Phan lairiire tạicác DNBH phinhan the ở Việt Nam Danh mục rủi ro chính của các DNBH phi nhân thọ ở Việt Nam được quy định cụ thể tại khoản 5, Điều3 Thông tư70/2022/TT-BTC như sau: “Rid ro trongyéu (của DNBH) bao gôm nhém ria ro bảo hiểm, ria ro thi trường rt ro hoạt động rid ro đỗi tác và các ria ro khác theo đánh giá của DNBH là có tác động trọng yên đến am toàn tài chính và hiệu qua hoạt động của DNBHTM trong do: i.
Ria ro bảo hiểm là các rồi ro phát sinh do biên động các yêu tô kỹ thuật liên quan đến tinh phi bảo hiém và trích lap dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, bao gồm: - Rid ro liên quan đền tính phí bảo hiểm: V›ậc thiệt lập các gia định tinh phi không phù hợp dẫn đến phí bảo hiém tinh toán không đủ dé chỉ trả các quyên lợi bảo hiểm cam kết trong thời hạn hop đông và bu dap các chi phí hoạt đông của DNBH. Các gia đính tính phí bao gôm: Tỷ lệ rủi ro tử vong, tỷ lệ rủi ro sông tho, ty lệ bôi thường, tỷ lệ chi phí, lãi suất dau tư, tỷ lệ hủy bỏ hợp đông và các giả đính khác sử dụng trong mô hình tinh phi bão hiểm”, Ban chất các rủi ro được bảo hiểm là các sự kiện xảy ra trong tương lai. Cac DNBH thu phí bảo hiém với một tỷ lệ nhật định trên số tiên được bảo hiểm (toàn bộ sự kiện tên thật thuộc pham vi bảo hiém xảy ra). Chính vi vậy, để đấm bảo cạnh tranh và dam bảo đạt được mục tiêu kinh doanh của mình, các DNBH phải xác định một tỷ lê phi bảo hiểm plu hợp để có thé đạt được mục tiêu kinh doanh (có lợi nhuận, phát triển bên vững, đảm bảo khả năng chi trả.
Các thông tin được sử dung dé tinh toán đó là dit liệu lịch sử về tai nan, về tôn that, các dir liệu ước tính theo các mô hình tính toán. Do tỷ lệ này là ước tính nên sẽ phát sinh kha năng tỷ lệ phí bảo hiểm sẽ không đảm bảo được mục tiêu hoạt động của DNBH. Do đó, việc sử dụng các dữ liệu, giả định để tính phí bảo hiểm không phù hợp dẫn tới việc đính phí bảo hiểm sai, đây được coi là sự kiên dẫn tới rủi ro trọng yêu của các DNBH. - Rid ro liên quan đền trích lập dự phòng bồi thường của bảo hiểm phi nhân thọ: Việc trích lập dur phòng béi thường không đủ dé chi trả tiên bôi thường đối với phân trách niệm của DNBH phí nhân thọ, chi nhánh DNBH phí nhân thọ nước ngoài.
Tại mối thời điểm lập báo cáo tài chính, các DNBH phải thực biên việc trích ' Khoản 6, Điều 3, Thông tư 70/2022/TT-BTC lập dự phòng cho các khoản chi phi bôi thường sé phải chỉ trả liên quan đền các tin that đã phát sinh.