ĐẶT VẤN ĐỀ Hệ vi sinh vật đóng một vai trò rất quan trọng ở đường tiêu hóa, đặc biệt là ở đại tràng. Đại tràng có khoảng 400-500 loài vi khuẩn khác nhau. Các nhà khoa học khẳng định vi khuẩn chiếm 40% trọng lượng khô, trong 1 gam phân có 30- 40 tỷ vi khuẩn. Trong một ngày đêm, mỗi người thải ra 17 ngàn tỷ vi khuẩn.
Các loại vi khuẩn ngoài việc tham gia vào khâu cuối cùng của quá trình tiêu hóa còn đảm nhiệm chức năng bào vệ đại tràng.[9] Trong dinh dưỡng động vật, việc tăng cường sức khỏe hệ thống tiêu hoá của vật nuôi thông qua những tác động tới hệ vi sinh vật đường ruột được coi là một giải pháp rất hữu hiệu. Hệ vi sinh vật đường ruột của vật nuôi rất phong phú về chủng loại và số lượng, những biến động về cơ cấu, số lượng các loài vi sinh vật đường ruột là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những rối loạn trong tiêu hoá và hấp thu. Nên việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật thông qua thức ăn và nuôi dưỡng nhằm tạo thế cân bằng tối ưu giữa các loài vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi cho vật chủ đã và đang là hướng nghiên cứu được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm. Có nhiều biện pháp để cải thiện quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi khuẩn có lợi và có hại trong đường tiêu hoá của gia súc, gia cầm.
Biện pháp cổ điển được ứng dụng rộng rãi là sử dụng kháng sinh liều thấp. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi ngày càng bị hạn chế (từ ngày 01 tháng 01 năm 2006, các nước thuộc EU cấm hoàn toàn việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi -Hector Cervanter, 2006), nên nhu cầu tìm ra các giải pháp thay thế kháng sinh ngày càng trở thành cấp bách. Một trong những giải pháp hữu hiệu nhất hiện nay là dùng các chế phẩm probiotic. Probiotic - theo Fuller (1992)- là chất bổ sung vi sinh vật sống hữu ích trong thức ăn nhằm cải thiện sự cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi cho vật chủ.
Các sản phẩm probiotic nhập khẩu dùng trong chăn nuôi có mặt trên thị trường Việt Nam nhiều nhưng các đáp ứng tích cực cho vật nuôi chưa được rõ Sv: Huỳnh Thị Hồng Hoa Trang 1 Created with novaPDF Printer (www. Please register to remove this message. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TÔ MINH CHÂU ràng. Các nhà khoa học cho rằng có thể là các vi sinh vật đó do có sự thay đổi điều kiện môi trường sống nên đã không có tác dụng tốt nhất cho hệ vi sinh vật đường ruột của vật chủ bản địa.
Mặt khác, các nghiên cứu sản xuất các chế phẩm probiotic dùng trong chăn nuôi ở nước ta còn rất hạn chế. Cốm vi sinh Biobaby là sản phẩm sinh học có chứa vi khuẩn L.sporogenes là một trong các vi sinh vật sản xuất ra acid lactic, acid hoá đường ruột và ngăn ngừa được sự phát triển của các vi khuẩn gây thối rữa. Tính chất dược lý quan trọng của sản phẩm Biobaby, chính là thành phần vi sinh có trong sản phẩm.sporogenes được quan tâm có trong chế phẩm Biobaby là một loại vi khuẩn có lợi, có tác dụng ngăn chặn các vi khuẩn gây thối, gây bệnh đường tiêu hóa cho người và động vật. Vấn đề được đặt ra là phân lập vi khuẩn L.sporogenes và tiến hành khảo sát môi trường tăng sinh, môi trường sản xuất nhằm ứng dụng để sản xuất chế phẩm vi sinh dùng trong ngành chăn nuôi – thủy sản? Được sự chấp thuận của quý công ty TNHH thương mại –sản xuất thuốc thú-y Gaáu Vaøng, với sự giúp đỡ hướng dẫn của cô Tô Minh Châu, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Phân lập vi khuẩn L.
Khảo sát môi trường thích hợp. Tìm hiểu phương pháp sấy khô chế phẩm chứa vi khuẩn”. Với định hướng đưa ra được các giải pháp công nghệ để sản xuất các chế phẩm sinh học bằng các nguyên liệu trong nước. Đề tài này được thực hiện thành công sẽ mở ra triển vọng trong việc sản xuất các sản phẩm sinh học chất lượng cao, đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp ở nước ta, hạn chế nhập khẩu.
Sv: Huỳnh Thị Hồng Hoa Trang 2 Created with novaPDF Printer (www. Please register to remove this message. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TÔ MINH CHÂU Đề tài thực hiện nhằm những mục tiêu như sau: - Phân lập để tìm ra vi khuẩn L.sporogenes có trong chế phẩm sinh học Biobaby. - Tiến hành thử test sinh hóa để khẳng định lại vi khuẩn đã được định danh.
- Khảo sát các môi trường tăng sinh của vi khuẩn L.sporogenes: NB+1% glucose, NB. - Khảo sát môi trường sản xuất của vi khuẩn L.sporogenes: môi trường đậu nành và môi trường sữa. - Tìm hiểu phương pháp sấy khô chế phẩm với môi trường thích đã chọn và kiểm tra số lượng vi khuẩn sau khi sấy khô. • Thời gian và địa điểm thí nghiệm: 1.
Thời gian: từ tháng 02/2010 đến tháng 07/2010. Địa điểm thí nghiệm: - Phòng thí nghiệm vi sinh của công ty TNHH thương mại –sản xuất thuốc thú-y Gaáu Vaøng. Sv: Huỳnh Thị Hồng Hoa Trang 3 Created with novaPDF Printer (www. Please register to remove this message.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TÔ MINH CHÂU PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Sv: Huỳnh Thị Hồng Hoa Trang 4 Created with novaPDF Printer (www. Please register to remove this message. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TÔ MINH CHÂU 1. TỔNG QUAN VỀ PROBIOTIC [3].
Lịch sử probiotic. Vào thế kỷ 20, những nghiên cứu về probiotic mới chỉ bắt đầu, Henry Tisser (1900), một bác sỹ người Pháp đã quan sát và thấy rằng phân của những đứa trẻ mắc bệnh tiêu chảy có ít vi khuẩn lạ hình trứng hoặc hình chữ Y hơn những đứa trẻ khỏe mạnh. Năm 1907, Elie Metchnikoff - người Nga, đạt giải Nobel – đã chứng minh được rằng việc tiêu thụ Lactobacillus sẽ hạn chế các nội độc tố của hệ vi sinh vật đường ruột. Có thể nói Tisser và Metchnikoff là người đầu tiên đưa ra những đề xuất mang tính khoa học về probiotic, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về probiotic.
Năm 1930, nhà khoa học người Nhật Minoru Shirota phân lập các vi khuẩn lactic từ phân của các em thiếu nhi khỏe mạnh. Cùng năm đó, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã chứng minh là Lactobacillus acidophilus có khả năng làm giảm bệnh táo bón thường xuyên. Các nhà khoa học đại học Havard phát hiện ra các vi khuẩn đường ruột đóng một vai trò quyết định trong quá trình tiêu hóa, giúp tiêu hóa thức ăn, cung cấp một số vitamin và các chất dinh dưỡng khác nhau mà cơ thể vật chủ không tự sản xuất ra được. Sau đó 5 năm, một trong các đồ uống lên men – đặt tên là “Yakult” từ sữa được cho là hỗ trợ sức khỏe đường ruột được sản xuất.
Khái niệm chung probiotics được chấp nhận ở Châu Á trong nhiều năm khi các sản phẩm lên men từ sữa probiotic đầu tiên được giới thiệu ở Châu Âu những năm của thập niên 80. Ngày nay, các sản phẩm probiotic có chứa Bifidobacteria hoặc Lactobacillus được tiêu thụ rộng rãi và phổ biến trên khắp thế giới như những nguồn thực phẩm chính giúp tăng cường sức khỏe cho con người cũng như vật nuôi. Định nghĩa probiotic Theo ngôn ngữ Hi Lạp, probiotic có nghĩa là “vì sự sống”. Thuật ngữ probiotic được Parker đề nghị sử dụng lần đầu tiên vào năm 1974 để chỉ “những Sv: Huỳnh Thị Hồng Hoa Trang 5 Created with novaPDF Printer (www.
Please register to remove this message. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TÔ MINH CHÂU vi sinh vật và những chất làm cân bằng hệ vi sinh vật ruột” (Fuller, 1989). Từ đó đến nay thuật ngữ probiotic đã được cả thế giới sử dụng để chỉ những chế phẩm vi sinh vật sống hữu ích khi được đưa vào cơ thể động vật thông qua thức ăn hoặc nước uống tạo nên những ảnh hưởng có lợi cho vật chủ. Kể từ khi xuất hiện, khái niệm probiotic vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất.
Tuy nhiên, hiện có hai định nghĩa được cho là phản ánh khá đầy đủ bản chất của probiotic và được sử dụng nhiều trong các ấn phẩm khoa học: (1) theo Fuller (1989), probiotic là “chất bổ sung vi sinh vật sống vào thức ăn giúp cải thiện cân bằng của hệ vi sinh vật đường tiêu hóa theo hướng có lợi cho vật chủ”; (2) theo tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2001), probiotic là “các vi sinh vật sống khi đưa vào cơ thể theo đường tiêu hoá với một số lượng đủ sẽ đem lại sức khoẻ tốt cho vật chủ”. Vai trò và cơ chế hoạt động của probiotic. Vai trò của probiotic. Từ khi kháng sinh bị cấm sử dụng như chất kích thích sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi ở một số nước thuộc khối liên minh châu Âu (bắt đầu là Thụy Điển vào năm 1986) thì probiotic được coi là một trong những nguồn thay thế có triển vọng nhất vì có nhiều đặc tính ưu việt.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, Patterson (2003) đã tổng kết các ảnh hưởng có lợi của probiotic đối với đời sống động vật thể hiện ở các khía cạnh sau: - Thay đổi cấu trúc quần thể vi sinh vật đường ruột theo chiều hướng có lợi cho vật chủ. - Tăng cường khả năng miễn dịch. - Ngăn cản sự xâm nhập và ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh. - Tăng sản xuất các axit béo bay hơi.
- Tăng cường quá trình sinh tổng hợp các vitamin nhóm B. - Làm giảm cholesterol huyết thanh. - Làm tăng năng suất vật nuôi. - Giảm hàm lượng amoniac và urê trong chất thải.
Sv: Huỳnh Thị Hồng Hoa Trang 6 Created with novaPDF Printer (www. Please register to remove this message. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TÔ MINH CHÂU Ngoài ra probiotic còn rất an toàn với động vật và thân thiện với môi trường. Vì là chất bổ sung vi sinh vật sống hữu ích, việc sử dụng probiotic sẽ không tạo ra các chất tồn dư trong các sản phẩm chăn nuôi có hại cho sức khỏe người tiêu dùng.
Có rất nhiều cách giải thích khác nhau về cơ chế tác động, nhưng phần lớn các tài liệu về probiotic đề cập đến ba khía cạnh sau: (1) cạnh tranh loại trừ; (2) đối kháng vi khuẩn và (3) điều chỉnh miễn dịch (Steiner, 2006). Minh họa cơ chế hoạt động của probiotic thông qua hình 1. Cạnh tranh loại trừ là đặc tính đấu tranh sinh tồn điển hình của các vi sinh vật. Hình thức cạnh tranh loại trừ thường thấy ở các vi sinh vật ruột là cạnh tranh vị trí bám dính.