Khóa luận tốt nghiệp phân lập và tuyển chọn các chủng nấm sợi và vi khuẩn có khả năng sinh enzyme protease cao trong thủy phân đậu tương

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu phân lập và tuyển chọn nấm sợi, vi khuẩn có khả năng sinh enzyme protease cao trong thủy phân đậu tương.

Trường đại học

Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

71
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1. Tìm hiểu chung về khô đậu tương

2.2. Một số chủng vi sinh vật được sử dụng trong lên men đậu tương

2.2.1. Nấm mốc

2.2.2. Vi khuẩn

2.3. Giới thiệu chung

2.4. Phân loại

2.4.1. Dựa vào cơ chế xúc tác

2.4.2. Dựa vào cấu tạo của trung tâm hoạt động

2.4.3. Dựa vào pH hoạt động

2.4.4. Dựa vào tính đặc hiệu của chúng với cơ chất tổng hợp hoặc đối với chuỗi β- insulin bị oxy hóa

2.5. Cơ chế thủy phân của protease

2.6. Ứng dụng của protease

2.6.1. Công nghiệp thực phẩm

2.6.2. Công nghiệp nhẹ

2.6.3. Nông nghiệp

2.6.4. Y học

2.7. Phương pháp lên men chìm và lên men bề mặt

2.7.1. Lên men chìm

2.7.2. Lên men bề mặt

2.8. Tình hình nghiên cứu về enzyme protease trong thủy phân đậu tương

2.8.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2.8.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

3. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mục tiêu nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Vật liệu, hóa chất, môi trường nuôi cấy

3.3.1. Môi trường nuôi cấy

3.3.2. Trang thiết bị

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp phân lập và giữ chủng

3.4.2. Phương pháp vi sinh

3.4.3. Hoạt hóa chủng

3.4.4. Phương pháp lên men chìm

3.4.5. Phương pháp quan sát hình thái

3.4.6. Phương pháp xác định hoạt tính protease bằng đo đường kính vòng phân giải casein

3.4.7. Phương pháp hóa sinh

3.4.7.1. Nguyên lý của phương pháp
3.4.7.2. Chuẩn bị đường chuẩn
3.4.7.3. Phương pháp tiến hành
3.4.7.4. Tính kết quả

3.4.8. Phương pháp tách chiết dịch enzyme thô từ môi trường lên men xốp và định tính enzyme

3.4.9. Phương pháp tối ưu điều kiện lên men xốp

3.4.9.1. Tối ưu tỉ lệ nguyên liệu
3.4.9.2. Tối ưu độ ẩm cơ chất khô đậu tương
3.4.9.3. Ảnh hưởng của tỉ lệ giống cấy
3.4.9.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy
3.4.9.5. Tối ưu thời gian lên men

3.4.10. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Phân lập và tuyển chọn các chủng nấm sợi và vi khuẩn có khả năng sinh protease từ chế phẩm

4.2. Tuyển chọn sơ bộ các chủng có hoạt tính protease

4.3. Tối ưu điều kiện sinh enzyme protease

4.3.1. Tối ưu tỉ lệ nguyên liệu

4.3.2. Ảnh hưởng của tỉ lệ giống cấy

4.3.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy

4.3.4. Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy

4.4. Một số đặc điểm sinh học và khả năng kháng sinh của nấm sợi N11

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phân lập và tuyển chọn nấm sợi và vi khuẩn sinh enzyme protease

Khóa luận này tập trung vào việc phân lập và tuyển chọn các chủng nấm sợi và vi khuẩn có khả năng sinh enzyme protease cao trong thủy phân đậu tương. Enzyme protease đóng vai trò quan trọng trong việc thủy phân protein, giúp cải thiện giá trị dinh dưỡng của đậu tương. Việc nghiên cứu này không chỉ mang lại lợi ích cho ngành thực phẩm mà còn cho ngành chăn nuôi.

1.1. Khái niệm về enzyme protease và vai trò của chúng

Enzyme protease là những enzyme xúc tác quá trình thủy phân liên kết peptide trong protein. Chúng có vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực như thực phẩm, y học và nông nghiệp. Việc hiểu rõ về enzyme này giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất.

1.2. Tầm quan trọng của nấm sợi và vi khuẩn trong sản xuất enzyme

Nấm sợi và vi khuẩn là nguồn cung cấp enzyme protease chính trong công nghiệp. Chúng có khả năng sinh enzyme cao và dễ dàng nuôi cấy, giúp giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu enzyme protease

Mặc dù enzyme protease có nhiều ứng dụng, nhưng việc sản xuất và tối ưu hóa chúng vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như điều kiện nuôi cấy, lựa chọn chủng vi sinh vật phù hợp và quy trình tinh chế enzyme cần được nghiên cứu kỹ lưỡng.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính của enzyme protease

Hoạt tính của enzyme protease phụ thuộc vào nhiều yếu tố như pH, nhiệt độ và thời gian nuôi cấy. Việc tối ưu hóa các yếu tố này là cần thiết để đạt được hiệu suất cao nhất.

2.2. Thách thức trong việc thu nhận và tinh chế enzyme

Quá trình thu nhận và tinh chế enzyme protease thường gặp khó khăn do sự hiện diện của các tạp chất. Cần có các phương pháp hiệu quả để tách chiết enzyme một cách sạch sẽ và an toàn.

III. Phương pháp phân lập và tuyển chọn chủng nấm sợi và vi khuẩn

Để phân lập và tuyển chọn các chủng nấm sợi và vi khuẩn, nhiều phương pháp khác nhau đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm nuôi cấy trên môi trường chọn lọc và xác định hoạt tính enzyme.

3.1. Phương pháp nuôi cấy và phân lập vi sinh vật

Việc nuôi cấy vi sinh vật trên môi trường chọn lọc giúp phân lập các chủng có khả năng sinh enzyme cao. Các điều kiện nuôi cấy như nhiệt độ, độ ẩm và pH cần được kiểm soát chặt chẽ.

3.2. Xác định hoạt tính enzyme protease

Hoạt tính enzyme protease được xác định thông qua các phương pháp định lượng như đo đường kính vòng phân giải casein. Phương pháp này giúp đánh giá khả năng sinh enzyme của các chủng vi sinh vật.

IV. Ứng dụng thực tiễn của enzyme protease trong thủy phân đậu tương

Enzyme protease có nhiều ứng dụng trong thủy phân đậu tương, giúp cải thiện giá trị dinh dưỡng và tạo ra các sản phẩm thực phẩm chất lượng cao. Việc ứng dụng enzyme này trong công nghiệp thực phẩm đang ngày càng trở nên phổ biến.

4.1. Ứng dụng trong sản xuất thực phẩm

Enzyme protease được sử dụng để sản xuất các sản phẩm như đậu phụ, nước tương và các sản phẩm từ đậu tương khác. Chúng giúp cải thiện hương vị và giá trị dinh dưỡng của sản phẩm.

4.2. Lợi ích trong ngành chăn nuôi

Việc sử dụng enzyme protease trong thức ăn chăn nuôi giúp tăng cường khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng của động vật. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi và giảm chi phí.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về phân lập và tuyển chọn các chủng nấm sợi và vi khuẩn có khả năng sinh enzyme protease cao trong thủy phân đậu tương mở ra nhiều triển vọng cho ngành công nghiệp thực phẩm và chăn nuôi. Cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa quy trình sản xuất và ứng dụng enzyme này.

5.1. Triển vọng phát triển công nghệ enzyme

Công nghệ enzyme đang phát triển mạnh mẽ, với nhiều nghiên cứu mới về enzyme protease. Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất enzyme sẽ giúp nâng cao hiệu quả và giảm chi phí.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc cải thiện hoạt tính enzyme, tối ưu hóa quy trình sản xuất và mở rộng ứng dụng của enzyme protease trong các lĩnh vực khác nhau.

12/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp phân lập và tuyển chọn các chủng nấm sợi và vi khuẩn có khả năng sinh enzyme protease cao trong thủy phân đậu tương

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Khô đậu tương là loại nguyên liệu rất sẵn và rẻ, công dụng của nó lại hữu ích một cách trái ngược so với giá thành. Trước đây người ta hay sử dụng acid hoặc H2SO4 để thủy phân protein trong khô đậu tương. Nhưng kết quả cho thấy bằng cách này không tạo ra được nhiều sản phẩm mong muốn và không đáp ứng được tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Vì thế hiện nay thủy phân protein trong khô đậu tương bằng enzyme protease đang được nghiên cứu, sử dụng nhiều và hiệu quả tương đối cao.

Mặt khác, protease là enzyme xúc tác thủy phân các mối liên kết peptide trong phân tử protein, được ứng dụng một cách rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghiệp chế biến thực phẩm, y học, nông nghiệp, công nghiệp thuộc da, công nghiệp sản xuất xà phòng. và chiếm khoảng 60% thị trường enzyme. Hiện nay trên thế giới, đa số các chế phẩm enzyme được thu nhận từ vi sinh vật do vi sinh vật là nguồn nguyên liệu thích hợp nhất để sản xuất enzyme ở quy mô lớn dùng trong công nghệ, đời sống và có nhiều ưu điểm vượt trội như chu kỳ phát triển 280 ngắn, môi trường nuôi cấy rẻ, dễ điều khiển…. Qua nhiều năm, việc gia tăng sử dụng vi sinh vật như là một nguồn cung cấp protease đã cải thiện đáng kể hiệu quả sản xuất và sản phẩm được tạo ra nhiều hơn.

Vì vậy, hai phần ba protease ứng dụng trong công nghiệp được sản xuất ra từ vi sinh vật. Hiện nay, trên thế giới, các chế phẩm protease đã được thương mại hóa và được đưa vào ứng dụng một cách rộng rãi. Tuy vậy, trong thời gian gần đây, trên thế giới, nhiều nhà khoa học vẫn tiếp tục tiến hành nghiên cứu thu nhận, tinh chế, xác định các tính chất của chế phẩm sản xuất từ enzyme protease. Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về protease vi sinh vật, tuy nhiên chỉ mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm nghiên cứu ứng dụng enzyme vẫn còn hạn chế.

Nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhận enzyme protease từ vi sinh vật, cũng như mong muốn tạo ra chế phẩm sản xuất từ enzyme protease có hoạt tính cao trong thủy phân đậu tương cơ chất tự nhiên sẵn có, tôi đã tiến hành 1 đề tài khóa luận: “Phân lập và tuyển chọn các chủng nấm sợi và vi khuẩn có khả năng sinh enzyme protease cao trong thủy phân đậu tương”. TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Tìm hiểu chung về khô đậu tương Khô đậu tương (có khi gọi là khô đậu) là sản phẩm phụ của ngành công nghiệp ép dầu đậu nành, là một thành phần quan trọng trong thức ăn chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu tăng cao đối với thức ăn protein cho động vật trong nước và xuất khẩu. Theo AAFCO (hiệp hội quản lý thức ăn chăn nuôi Mỹ), thì loại thức ăn này thu được khi đã xay nhuyễn phần đậu đã tách, ép dầu thông qua quá trình tinh chiết hoặc dùng dung môi hòa tan.

Khô đậu tương có hàm lượng protein, lysin tổng số, lysin tiêu hóa, năng lượng cao và hàm lượng chất xơ thấp là nguồn phế phụ phẩm cung cấp protein tốt nhất cho gia súc, gia cầm. Đặc biệt khô đậu tương là loại sản phẩm rất sẵn và rẻ, ở nước ta mỗi năm lượng KĐT thải ra từ các nhà máy là rất lớn phục vụ cho việc sản xuất thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Chế phẩm thức ăn chăn nuôi từ KĐT được xem như là loại thức ăn cung cấp năng lượng và bổ sung đạm cho gia súc, gia cầm, lượng tiêu thụ KĐT ước tính khoảng 3.8 triệu tấn (2013) và 4.05 triệu tấn (2014) và tăng dần đều lên hàng năm …[13] Bảng. TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

Thành phần dinh dưỡng của khô đậu tương Thành phần Hàm lượng (%) Protein 45,4 Lysin 2,42 Chất xơ 5,5 Photpho 0,65 Nguồn: http://vcn. Một số chủng vi sinh vật được sử dụng trong lên men đậu tương Các vi sinh vật thường được sử dụng trong lên men đậu tương như: các loại nấm mốc: Aspergillus oryaze, Mucor, Rhizopus, Oligosporus. Nấm men: Saccharomyces cerevisiae. Các loại vi khuẩn như: Streptococcus thermophiles, Bacillus subtilis….

Nấm  Nấm mốc: Nhiều loại nấm mốc có khả năng tổng hợp một lượng lớn protease được ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm là các chủng: Aspergillus oryzae, A. saitoi, Penicillium chysogenum…. Các loại nấm mốc này có khả năng tổng hợp cả 3 loại protease: acid, kiềm và trung tính. Nấm mốc đen tỏng hợp chủ yếu các loại protease acid, có khả năng thủy phân protein ở pH 2,5- 3 [23].

Một số nấm mốc khác như: A. roqueforti… cũng có khả năng tổng hợp protease có khả năng đông tụ sữa sử dụng trong sản xuất forrmat [17]. Trong thực tế A. oryzae có khả năng tiết ra môi trường các enzyme thủy phân như cellulase, pectinase… khi sống trên môi trường cơ chất khô đậu tương và được ứng dụng rất rộng rãi trong sản xuất chế biến thực phẩm [22] [12].

Vi khuẩn Vi khuẩn (bacteria) là những sinh vật đơn bào, nhỏ bé đến mức chỉ có thể thấy chúng được dưới kính hiển vi quang học hay kính hiển vi điện tử. Ba dạng chủ yếu ở vi khuẩn: trực khuẩn, cầu khuẩn, xoắn khuẩn [12]. 4 Protease của động vật hay thực vật chỉ chứa một trong hai loại endopeptidase hoặc exopeptidase, riêng vi khuẩn sinh ra cả hai loại trên, do đó protease của vi khuẩn có tính đặc hiệu cơ chất cao. Chúng có khả năng phân hủy tới 80% các liên kết peptid trong phân từ protein [9].

Trong các chủng vi khuẩn có khả năng tổng hợp mạnh protease là Bacillus subtilis, B. thermorpoteoliticus và một số giống thuộc chi Clostridium. subtilis có khả năng tổng hợp protease mạnh nhất. Các vi khuẩn thường tổng hợp các protease hoạt động thích hợp ở vùng pH trung tính và kiềm yếu [19].

Các protease trung tính của vi khuẩn hoạt động ở khoảng pH hẹp (pH 5-8) và có khả năng chịu nhiệt thấp. Các protease trung tính tạo ra dịch thủy phân protein thực phẩm ít đắng hơn so với protease đông vật và tăng giá trị dinh dưỡng. Các protease trung tính có khả năng ái lực cao đối với các amino acid ưa béo và thơm. Chúng được sinh ra nhiều bởi B.

thermorpoteoliticus và một số giống thuộc chi Clostridium [6]. Protease của bacillus ưa kiềm đẳng điện bằng 11, khối lượng phân ra từ 20.000, ổn định ở trong khoảng pH 6-12 và hoạt động trong khoảng pH rộng 7-12 [29]. Giới thiệu chung Protease hay peptide hydrolase là những enzyme thuỷ phân liên kết peptide (-O–NH-) trong phân tử protein và các polypeptide. Sản phẩm của quá trình thuỷ phân này có thể là các acid amin, các peptide, các polypeptide chuỗi ngắn.

Nhiều protease còn có thể xúc tác phản ứng thuỷ phân liên kết ester, liên kết amid và phản ứng chuyển vị gốc acid amin. Phản ứng xảy ra theo sơ đồ sau: 5 Hình. TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. Phản ứng thủy phân dưới xúc tác của enzyme protease 1.

Phân loại  Dựa vào cơ chế xúc tác [27] Theo IUBMB đã chia peptidase thành 2 nhóm: - Nhóm 1: Exopeptidase còn gọi là peptidase hay enzyme phân cách đầu mạch. Thuỷ phân đầu tận cùng của chuỗi polypeptidase. Nếu xúc tác ở đầu có gốc amin tự do thì gọi là enzyme aminopeptidase. - Nhóm 2: Endopeptidase còn gọi là proteinase hay enzyme phân cắt nội mạch.

Xúc tác phản ứng thuỷ phân liên kết peptide bên trong chuỗi polypeptidase Hình. TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. Cơ chế xúc tác của enzyme protease  Dựa vào cấu tạo của trung tâm hoạt động [28] 6 Dựa vào cấu trúc nhóm chức ở trung tâm hoạt động, endopeptidase được chia thành 4 nhóm: - Serin – proteinase (EC 3.21): là những protease có nhóm (-OH) của serine trong trung tâm hoạt động ở vùng kiềm và có tính đặc hiệu tương đối rộng. - Cystein – proteinase (EC 3.22): là các protein có nhóm thiol (-SH) của acid amin cysteine ở trung tâm hoạt động.

Cysteine protease bao gồm các protease thực vật như papain, bromelin, một vài protease kí sinh trùng. Các cyteine protease thường hoạt động ở vùng pH trung tính, có tính đặc hiệu cơ chất rộng. - Aspartic protease (EC 3.22): hầu hết các aspartic protease thuộc nhóm pepsin. Nhóm pepsin bao gồm các enzyme tiêu hoá như: pepsin, chymosin, cathepsin, renin.

Các aspartic protease có các nhóm carboxyl trong trung tâm hoạt động và thường hoạt động mạnh ở pH trung tính. - Metallo protease (EC 3.23): metallo protease là nhóm protease trong cấu tạo có kim loại được tìm thấy ở vi khuẩn, nấm sợi, sinh vật bậc cao hơn. Các metallo protease thường hoạt động ở vùng pH trung tính và hoạt động giảm mạnh dưới tác động của EDTA.  Dựa vào pH hoạt động [24] Dựa vào mức hoạt động trong dung dịch có trị số pH khác nhau mà enzyme protease được chia làm 3 loại: - Protease acid: pH ở trong khoảng 2÷5.

Loại protease này thường được thu nhận từ các loại NS đen như: A. - Protease trung tính: có pH trong khoảng hẹp, từ 6÷7,5, không bền với nhiệt độ cao. Thu nhận chủ yếu từ các loại NS vàng như: A. - Protease kiềm tính: có pH ở trong khoảng 8÷11 thường được tổng hợp nhiều bởi nấm men và VK.

Những protease kiềm tính là nhóm được quan tâm khá nhiều trong những năm gần đây vì có thể sử dụng chúng như chất 7 phụ gia trong việc giặt tẩy, trong quá trình thuộc da, xử lý chất thải môi trường.  Dựa vào tính đặc hiệu của chúng với cơ chất tổng hợp hoặc đối với chuỗi β- insulin bị oxy hóa [10] Năm 1975, Morihara đã phân loại các protease được chia ra thành bốn nhóm lớn, dựa vào tính đặc hiệu của chúng đối với cơ chất tổng hợp hoặc đối với chuỗi β – Insulin đã bị oxy hóa. - Nhóm I - Serin proteinase: Tính đặc hiệu đối với các gốc amino acid ở về phía nhóm –CO2 của liên kết peptide hoặc gọi là carbonxyendopeptidase - Nhóm II - Cystein proteinase: Giống như cách phân loại theo đặc điểm có cấu tạo của trung tâm hoạt động. - Nhóm III - Metallo proteinase: Có đặc hiệu đối với các gốc amino acid về phía nhóm –NH– của liên kết peptide, được gọi là aminoendopeptidase.

- Nhóm IV - Aspartic proteinase: Có tính đặc hiệu đối với các nguồn gốc amino acid ở cả hai phía của liên kết peptide. Cơ chế thủy phân của protease Hình. TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. Mô hình enzyme protease thủy phân phân tử protein Protease hay peptide hydrolase là những enzyme thuỷ phân liên kết peptide (-O–NH-) trong phân tử protein và các polypeptide.

Sản phẩm của 8 quá trình thuỷ phân này có thể là các acid amin, các peptide, các polypeptide chuỗi ngắn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này không có tiêu đề cụ thể, nhưng nội dung của nó có thể liên quan đến các nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực công nghệ sinh học, đặc biệt là trong việc sản xuất và ứng dụng enzyme. Một trong những điểm nổi bật có thể là việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất hydro từ bã mía, điều này không chỉ giúp giảm thiểu chất thải mà còn tạo ra nguồn năng lượng tái tạo.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các ứng dụng trong lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu tạo hydro h2 từ bã mía bằng phương pháp lên men kỵ khí, nơi bạn sẽ tìm hiểu sâu hơn về quy trình sản xuất hydro từ nguồn nguyên liệu tự nhiên.

Ngoài ra, tài liệu Pilot production of products rich in beta glucan from brewers yeast using protease sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về việc sản xuất các sản phẩm giàu beta glucan từ men bia, một ứng dụng thú vị của enzyme trong công nghiệp thực phẩm.

Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học thu nhận và khảo sát một số tính chất của protease từ trùn quế perionyx excavatus, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tính chất và ứng dụng của protease trong công nghệ sinh học.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn mà còn cung cấp những góc nhìn mới mẻ về các ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực công nghệ sinh học.