Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp tập trung vào việc nghiên cứu nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự (TTDS) tại Việt Nam. Về mặt thực tiễn, công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và đẩy mạnh cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 (được ghi nhận trong văn bản là Nghị quyết số 40-NQ/TW) của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Hoạt động tố tụng đòi hỏi việc xác định rõ vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng (THTT) và người tham gia tố tụng (TGTT) nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng, bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh.

Thực tế kiểm tra và xét xử cho thấy hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) và người THTT đôi khi vẫn còn biểu hiện thiếu khách quan, chưa bảo đảm sự bình đẳng giữa một bên nắm giữ quyền lực nhà nước và một bên là các đương sự. Điều này đặt ra yêu cầu phải làm rõ cơ chế tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến sự vô tư của người THTT và người TGTT để đề xuất các giải pháp hoàn thiện và thực thi pháp luật.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:

  1. Làm rõ nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong pháp luật TTDS Việt Nam cũng như mối liên hệ giữa nguyên tắc này với các nguyên tắc khác của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015.
  2. Làm rõ thực trạng thực thi nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong luật TTDS Việt Nam, chỉ ra các ưu điểm và hạn chế của thực trạng đó.
  3. Đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong pháp luật TTDS; lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc qua các thời kỳ; các quy định của pháp luật thực định hiện hành và thực tiễn áp dụng trong những năm gần đây.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về văn bản và thời gian: Hệ thống quy định pháp luật TTDS Việt Nam từ năm 1945 đến nay, trọng tâm là BLTTDS năm 2015.
    • Về chủ thể: Tập trung vào người THTT và người TGTT (người giám định, người phiên dịch).
    • Về không gian: Giới hạn trong khuôn khổ pháp luật TTDS Việt Nam, không so sánh hay đối chiếu với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới.
    • Về dữ liệu thực tiễn: Phân tích số liệu thống kê, báo cáo tổng kết công tác giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự của ngành Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết và pháp lý dựa trên:

  • Các khái niệm nền tảng: Khái niệm "vô tư" (trạng thái chủ quan không vụ lợi, không thiên vị), "vô tư trong lĩnh vực tư pháp" (trạng thái công tâm của người giải quyết vụ án khi thu thập, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật) và "nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong TTDS".
  • Các văn bản pháp luật và văn kiện chính trị: Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) các năm 1960, 1981, 1992, 2002; Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) các năm 1981, 1992, 2002; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND năm 1993; Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 1993; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996; BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011); BLTTDS năm 2015; Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Điều 10 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR).

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm đường lối của Đảng.
  • Phương pháp lịch sử: Phân tích, xâu chuỗi các văn bản quy phạm pháp luật và tư liệu lịch sử pháp lý qua 3 giai đoạn (1945 - 1989, 1989 - 2004, 2004 đến nay).
  • Phương pháp phân tích quy phạm: Mổ xẻ từng điều luật của BLTTDS năm 2015 để làm rõ nội hàm, căn cứ, thẩm quyền và trình tự thủ tục thay đổi người THTT, người TGTT.
  • Phương pháp tổng hợp: Tổng thuật và đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết chuyên ngành (tác giả Trịnh Phương Thảo, Nguyễn Vinh Hưng, Bùi Thị Huyền, Triệu Hoàng Lan Hương, Nguyễn Thị Hằng).
  • Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu từ Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân năm 2022 về kết quả thụ lý, giải quyết án dân sự và tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy, sửa.

Nguồn dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn kiện của Đảng, các giáo trình, bài báo khoa học pháp lý trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học Kiểm sát và số liệu báo cáo thống kê chính thức của TANDTC.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận mang tính xuất phát điểm của nguyên tắc:

  • Khái niệm: Tác giả phân định "sự vô tư" ở hai phương diện hành động vật chất (không vụ lợi) và tư duy nhận thức (đánh giá không thiên lệch). Trong lĩnh vực tư pháp, sự vô tư là trạng thái của chủ thể giải quyết tranh chấp khi xem xét, đánh giá vụ án khách quan, công bằng, bảo đảm công lý và không thiên vị bất kỳ bên nào. Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người THTT và người TGTT là hệ thống các tư tưởng chỉ đạo định hướng cho hoạt động lập pháp, thực thi và giám sát pháp luật TTDS, đòi hỏi sự kết hợp của 3 yếu tố: quy định pháp luật, điều kiện bảo đảm thực thi và cơ chế giám sát.
  • Cơ sở của nguyên tắc: Gồm cơ sở thực tiễn (nhằm loại bỏ các mối quan hệ thân tình, xung đột lợi ích làm ảnh hưởng đến tính đúng đắn của phán quyết) và cơ sở pháp lý (bắt nguồn từ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật).
  • Ý nghĩa: Là cơ sở thực thi công lý; góp phần bảo vệ quyền con người theo chuẩn mực quốc tế (Điều 10 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948); tạo dựng niềm tin của người dân vào nền tư pháp; củng cố Nhà nước pháp quyền theo Nghị quyết số 27-NQ/TW.
  • Lịch sử hình thành và phát triển (1945 đến nay):
    • Giai đoạn 1945 - 1989: Đặt nền móng ban đầu. Luật Tổ chức TAND năm 1960 chuyển sang cơ chế bầu Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (HTND) và lần đầu tiên ghi nhận quyền của đương sự được yêu cầu thay đổi Thẩm phán, HTND nếu có quan hệ làm ảnh hưởng đến sự công bằng (Điều 26, 27). Luật Tổ chức TAND và VKSND năm 1981 tiếp tục bổ sung tiêu chuẩn cán bộ.
    • Giai đoạn 1989 - 2004: Đánh dấu bằng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (Điều 17, 18 quy định cụ thể các trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi đối với Thẩm phán, HTND, Kiểm sát viên, Thư ký). Tiếp theo là các Pháp lệnh năm 1993, 1994, 1996, 2002. Hạn chế của giai đoạn này là các quy định còn tản mạn, xé lẻ giữa nhiều văn bản chuyên biệt.
    • Giai đoạn 2004 đến nay: Ban hành BLTTDS năm 2004 thống nhất pháp luật TTDS; Luật sửa đổi năm 2011 bổ sung chức danh Thẩm tra viên, Kiểm tra viên vào diện loại trừ tại Điều 16; BLTTDS năm 2015 hoàn thiện toàn diện cơ chế loại trừ và bổ sung quy định: "Việc phân công người tiến hành tố tụng phải bảo đảm để họ vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình".

Chương 2: Nội dung nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Chương 2 phân tích chi tiết quy định thực định của BLTTDS năm 2015:

  • Quy định tại Điều 16 BLTTDS năm 2015: Mở rộng danh mục các chủ thể phải từ chối hoặc bị thay đổi gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, HTND, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng định giá khi có lý do xác đáng cho thấy họ có thể không vô tư, khách quan.
  • Mối liên hệ với các nguyên tắc khác:
    • Mối liên hệ với nguyên tắc Thẩm phán, HTND xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 11, Điều 12).
    • Mối liên hệ với nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể (HĐXX biểu quyết theo đa số, đòi hỏi từng thành viên độc lập về nhận thức, không bị chi phối bởi quan hệ cá nhân).
    • Mối liên hệ với nguyên tắc bảo đảm chế độ hai cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) và giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 17).
    • Mối liên hệ với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh (Điều 94, Điều 95 về tính khách quan, hợp pháp của nguồn chứng cứ).
  • Các căn cứ từ chối hoặc thay đổi người THTT (Khoản 2 Điều 46, Điều 52, 53, 54, 60 BLTTDS năm 2015):
    • Căn cứ 1: Đồng thời là đương sự, người đại diện (theo Điều 85) hoặc người thân thích của đương sự (theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP).
    • Căn cứ 2: Đã tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ việc.
    • Căn cứ 3: Có căn cứ rõ ràng khác cho rằng họ có thể không vô tư khi làm nhiệm vụ (được phân tích qua 3 yếu tố: tác động tình cảm cá nhân, yếu tố vật chất - vụ lợi, yếu tố quyền lực - tinh thần).
    • Căn cứ 4: Thẩm phán và HTND cùng trong một Hội đồng xét xử là người thân thích với nhau (Khoản 2 Điều 53 - chỉ một người được tiến hành tố tụng).
    • Căn cứ 5: Một người không được giữ nhiều tư cách người THTT trong cùng một vụ việc (Khoản 3 Điều 53, Khoản 2 Điều 54, Khoản 2 Điều 60 loại trừ việc một người vừa xét xử vừa thực hiện quyền kiểm sát, giám sát hoặc đã ra bản án, quyết định ở các cấp/thủ tục trước đó).
  • Căn cứ từ chối, thay đổi người giám định, người phiên dịch (Điều 80, Điều 82): Áp dụng tương tự các trường hợp liên quan đến tư cách đương sự, người thân thích, đã tham gia vụ án ở tư cách khác hoặc có căn cứ rõ ràng không vô tư.
  • Quyền đề nghị, yêu cầu thay đổi: Đương sự (Khoản 14 Điều 70), Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Khoản 4 Điều 76), Chánh án Tòa án (Điều 47).
  • Thẩm quyền và thủ tục thay đổi:
    • Đối với Thẩm phán, HTND, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án (Điều 55, Điều 56): Trước phiên tòa do Chánh án quyết định (nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án thì do Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp quyết định); tại phiên tòa do HĐXX thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số sau khi nghe ý kiến người bị yêu cầu thay đổi.
    • Đối với Kiểm sát viên, Kiểm tra viên (Điều 61, Điều 62): Trước phiên tòa do Viện trưởng VKS cùng cấp quyết định (nếu là Viện trưởng thì do Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp quyết định); tại phiên tòa do HĐXX quyết định.
    • Đối với Người giám định, người phiên dịch (Điều 83, Điều 84): Trước phiên tòa, phiên họp do Chánh án quyết định; tại phiên tòa, phiên họp do Thẩm phán, HĐXX hoặc Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự và một số kiến nghị hoàn thiện

Chương 3 phân tích thực trạng áp dụng trên cơ sở số liệu thực tiễn và chỉ ra các tồn tại:

  • Những kết quả đạt được:
    • Chất lượng giải quyết án dân sự được nâng lên, phản ánh qua số liệu tổng kết công tác năm 2022 của ngành Tòa án nhân dân.
    • Người THTT đã chủ động từ chối tiến hành tố tụng khi thấy có các căn cứ theo luật định, bảo đảm uy tín của cơ quan tư pháp.
    • Đương sự ngày càng nhận thức rõ hơn về quyền yêu cầu thay đổi người THTT, chủ động tìm kiếm sự trợ giúp pháp lý từ luật sư.
  • Những tồn tại, hạn chế:
    • Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận người THTT còn hạn chế; việc thu thập thông tin chưa triệt để; công tác đào tạo, bồi dưỡng còn thụ động do thiếu kinh phí và chuyên gia; việc điều động, luân chuyển Thẩm phán về vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến năng lực đội ngũ không đồng đều.
    • Ý thức tự giác nhận thức về sự "thiếu vô tư" của người THTT và người TGTT chưa cao; còn tâm lý né tránh, chỉ chấp nhận rút lui khi có bằng chứng rõ ràng.
    • Tình trạng sa sút phẩm chất đạo đức, hành vi tiêu cực, vi phạm quy tắc nghề nghiệp (khóa luận dẫn chứng trường hợp ngày 13/02/2018, TAND tỉnh Khánh Hòa xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Thư ký TAND Thành phố Nha Trang là ông Huỳnh Công Thoại do đứng ra làm chứng trong giao dịch mua bán nhà đất đang có tranh chấp thụ lý tại Tòa án nơi công tác).
  • Các nhóm kiến nghị:
    • Về xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTDS.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của người THTT và người TGTT.
    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho người tham gia tố tụng và toàn xã hội.

Kết quả và đóng góp

Số liệu thực tiễn trích xuất từ văn bản

Số liệu thống kê công tác giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động của hệ thống Tòa án nhân dân trong năm 2022 được khóa luận tổng hợp như sau:

Chỉ tiêu công tác năm 2022 Số lượng vụ việc thụ lý Số lượng vụ việc đã giải quyết, xét xử Tỷ lệ giải quyết (%) So sánh với năm 2021 / Chỉ tiêu
Tổng số vụ việc 444.402 386.944 87,07% Thụ lý tăng 33.103 vụ việc; Tỷ lệ đạt vượt 2,07% chỉ tiêu
- Xét xử sơ thẩm 426.279 370.676 86,96% —
- Xét xử phúc thẩm 17.165 15.430 89,89% —
- Giám đốc thẩm, tái thẩm 958 838 87,47% —

Về chất lượng xét xử trong năm 2022:

  • Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy là 0,61% (trong đó tỷ lệ do nguyên nhân chủ quan chiếm 0,49%).
  • Tỷ lệ bản án, quyết định bị sửa là 1,2% (trong đó tỷ lệ do nguyên nhân chủ quan chiếm 0,5%).

Các đề xuất và đóng góp khoa học của tác giả

  • Đề xuất các giải pháp: Hoàn thiện các quy định pháp luật về căn cứ loại trừ người THTT/TGTT; đổi mới toàn diện công tác bồi dưỡng nghiệp vụ và giáo dục đạo đức nghề nghiệp; khắc phục khó khăn về kinh phí đào tạo và cơ chế luân chuyển cán bộ Tòa án giữa các vùng miền; tăng cường tuyên truyền quyền tố tụng cho người dân.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây (như công trình của Bùi Thị Huyền, Triệu Hoàng Lan Hương, Nguyễn Thị Hằng, Trịnh Phương Thảo, Nguyễn Vinh Hưng) chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ quyền hạn, nhiệm vụ của từng chức danh riêng lẻ (Thẩm phán, Viện kiểm sát) hoặc chỉ xem nguyên tắc vô tư như một tiểu mục phụ. Khóa luận này là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện trực tiếp về nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong toàn bộ cơ chế TTDS Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong hệ thống pháp luật thực định Việt Nam, không thực hiện việc đối chiếu hay so sánh kinh nghiệm lập pháp với các nước trên thế giới.
    • Nguồn dữ liệu thực tiễn phụ thuộc vào các báo cáo tổng kết chung của ngành Tòa án do cơ quan có thẩm quyền chưa xây dựng hệ thống tiêu chí thống kê chuyên biệt, độc lập đối với các vi phạm nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh pháp luật quốc tế về cơ chế bảo đảm sự vô tư, độc lập của Thẩm phán và các chủ thể tư pháp khác trong tố tụng dân sự.
    • Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí khoa học nhằm lượng hóa và kiểm soát các yếu tố tác động phi vật chất (tình cảm, quan hệ công tác, áp lực hành chính) đối với người tiến hành tố tụng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự tham khảo nguồn tài liệu nghiên cứu chuyên đề về các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng.
    • Giảng viên, nhà nghiên cứu pháp luật sử dụng để giảng dạy các học phần Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam.
    • Người làm thực tiễn tư pháp (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư) tham khảo trong việc áp dụng quy định từ chối, thay đổi người THTT và người TGTT.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Mục phân tích lịch sử lập pháp từ năm 1945 đến nay về các quy định liên quan đến người THTT và việc thay đổi người THTT.
    • Phần luận giải chi tiết về các căn cứ thay đổi Thẩm phán, HTND, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án theo BLTTDS năm 2015 kết hợp với văn bản hướng dẫn áp dụng của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

Câu hỏi thường gặp

1. "Căn cứ rõ ràng khác" để xác định người tiến hành tố tụng không vô tư được hướng dẫn và nhận diện gồm những yếu tố nào?
Theo hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 13 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP được khóa luận phân tích, căn cứ này bao gồm các trường hợp ngoài quan hệ thân thích luật định mà có chứng cứ chứng minh sự tồn tại của quan hệ tình cảm thân thiết, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế hoặc quan hệ phụ thuộc về mặt quyền lực/tinh thần làm phát sinh nguy cơ thiên vị hoặc xử sự không công tâm.

2. Thẩm quyền quyết định thay đổi Thẩm phán là Chánh án TAND cấp huyện trước khi mở phiên tòa thuộc về ai?
Theo quy định tại Điều 56 BLTTDS năm 2015 được trích dẫn trong văn bản, trường hợp Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án TAND cấp huyện thì thẩm quyền quyết định việc thay đổi thuộc về Chánh án TAND cấp tỉnh.

3. Quy định xử lý thế nào khi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong cùng một Hội đồng xét xử là người thân thích với nhau?
Căn cứ Khoản 2 Điều 53 BLTTDS năm 2015, nếu Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong cùng một Hội đồng xét xử là người thân thích của nhau thì chỉ một người được tiến hành tố tụng, người còn lại phải từ chối hoặc bị thay đổi nhằm bảo đảm tính khách quan khi thảo luận và biểu quyết phán quyết theo đa số.

4. Kết quả xét xử vụ việc dân sự và tỷ lệ bản án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan trong năm 2022 được khóa luận nêu là bao nhiêu?
Năm 2022, Tòa án các cấp đã thụ lý 444.402 vụ việc và giải quyết được 386.944 vụ việc (đạt tỷ lệ 87,07%). Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy là 0,61% (nguyên nhân chủ quan chiếm 0,49%) và tỷ lệ bị sửa là 1,2% (nguyên nhân chủ quan chiếm 0,5%).

5. Văn bản dẫn chứng trường hợp kỷ luật cụ thể nào để minh chứng cho việc vi phạm quy tắc ứng xử của người tiến hành tố tụng?
Khóa luận dẫn chứng trường hợp ngày 13/02/2018, TAND tỉnh Khánh Hòa kỷ luật cảnh cáo đối với ông Huỳnh Công Thoại (Thư ký TAND Thành phố Nha Trang) do vi phạm quy tắc ứng xử khi đứng ra làm chứng trong giao dịch mua bán nhà đất đang có tranh chấp tại chính Tòa án nơi ông Thoại công tác.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Phương Thanh đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận, quá trình phát triển lịch sử và các quy định thực định của BLTTDS năm 2015 về nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự. Dựa trên số liệu tổng kết công tác xét xử năm 2022 và các dẫn chứng thực tế, công trình đã chỉ rõ những ưu điểm, tồn tại trong nhận thức và thực thi của đội ngũ cán bộ tư pháp. Các kiến nghị được đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện thể chế pháp luật, nâng cao năng lực, đạo đức nghề nghiệp và đẩy mạnh giáo dục ý thức pháp luật cho đương sự và cộng đồng.