Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Sinh hoạt văn hóa dòng họ Nguyễn Quý tại phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội" do sinh viên Nguyễn Quý Hiển thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nghiêm Xuân Măng (ngành Quản lý văn hóa, Khoa Quản lý xã hội, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, năm 2022). Nghiên cứu tiếp cận dòng họ dưới góc độ một thiết chế xã hội trực tiếp tham gia cấu thành mạng lưới làng xã truyền thống ở đồng bằng Bắc Bộ, đóng vai trò liên kết huyết thống, khai hoang lập làng, duy trì sản xuất, ổn định đời sống và khuyến học. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường, các giá trị văn hóa dòng họ đứng trước nguy cơ mai một hoặc biến đổi dưới tác động của lối sống cá nhân và mặt trái kinh tế xã hội.
Tại phường Đại Mỗ (trước đây là làng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm), dòng họ Nguyễn Quý là một trong những dòng họ lớn, có bề dày lịch sử đặc biệt với truyền thống khoa bảng "kế thế đặng khoa, kế thế làm sư phó, kế thế làm Đại vương, kế thế thượng đẳng phúc thần". Đây cũng là cộng đồng còn bảo lưu nhiều di sản vật thể và tập tục sinh hoạt văn hóa phong phú của xứ Đoài xưa. Là người con của dòng tộc và là sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, tác giả thực hiện đề tài nhằm nhận diện, phân tích thực trạng sinh hoạt văn hóa dòng họ Nguyễn Quý, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa này trong giai đoạn hiện nay.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dòng họ, văn hóa dòng họ và các yếu tố cấu thành sinh hoạt văn hóa dòng họ.
- Khảo cứu bối cảnh lịch sử, địa lý, con người vùng đất Đại Mỗ cùng quá trình hình thành, phát triển và vị thế của dòng họ Nguyễn Quý.
- Nhận diện và thống kê toàn diện các giá trị văn hóa vật thể (nhà thờ, miếu mạo, bia ký, sắc phong, hoành phi câu đối, gia phả, lăng mộ, quỹ họ) và văn hóa phi vật thể (hệ thống giỗ chạp, nghi lễ xuân tế, hội họ, hội thi kéo lửa thổi xôi, hoạt động khuyến học).
- Đánh giá vai trò của sinh hoạt văn hóa dòng họ Nguyễn Quý đối với đời sống cộng đồng, phân tích những vấn đề thực tiễn đang đặt ra và đề xuất hệ thống khuyến nghị nhằm quản lý, bảo tồn văn hóa dòng họ bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các khía cạnh văn hóa của dòng họ Nguyễn Quý tại phường Đại Mỗ, bao gồm các thành tố văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể và các đặc trưng sinh hoạt văn hóa tương ứng.
- Phạm vi không gian: Địa bàn phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội (và một số địa điểm liên quan đến di tích mộ phần tại các khu vực lân cận như Tây Mỗ, La Phù, Vạn Phúc, Mễ Trì).
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát sinh hoạt văn hóa của dòng họ từ năm 2015 đến năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
Khóa luận tổng thuật các định nghĩa nền tảng về dòng họ của các học giả Ninh Viết Giao, Phan Đại Doãn và Ngô Đức Thịnh, từ đó xác lập khái niệm: Dòng họ là tập hợp của những thành viên có cùng một tổ tiên (huyết thống phụ hệ), được biểu tượng bằng một ông tổ chung, gắn kết và ràng buộc theo quy tắc nhất định, chi phối trực tiếp quan hệ hôn nhân và gia đình. Về tổ chức, dòng họ vận hành theo hai nguyên lý truyền thống: nguyên lý trưởng đích (tôn trọng chi trưởng, ngành trưởng) và nguyên tắc cửu tộc (quan hệ chín đời dọc - ngang).
Đối với khái niệm văn hóa dòng họ, tác giả tiếp thu quan điểm của PGS.TS. Nguyễn Quang Lê (2018): Văn hóa dòng họ là một bộ phận của văn hóa dân tộc, bao gồm toàn bộ hoạt động sống và tâm linh của một dòng họ với trung tâm là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, kết tinh qua hai phạm trù giá trị vật chất/vật thể và tinh thần/phi vật thể do cộng đồng huyết thống sáng tạo và tích lũy qua thực tiễn. Từ đó, sinh hoạt văn hóa dòng họ được định nghĩa là những hoạt động diễn ra thường xuyên của cộng đồng cùng huyết thống nhằm đồng sáng tạo, thực hành các giá trị vật chất và tinh thần để duy trì sự tồn tại và phát triển của dòng tộc.
Các yếu tố cấu thành văn hóa dòng họ được khóa luận phân định rành mạch thành hai nhóm:
- Nhóm văn hóa vật thể: Từ đường (nhà thờ tổ, nhà thờ chi), mộ tổ, gia phả (tộc phả, phả ký), ruộng hương hỏa và quỹ họ.
- Nhóm văn hóa phi vật thể: Tín ngưỡng thờ cúng (lễ giỗ họ, xuân tế, chạp họ), nghi lễ tế tự, phong tục tập quán, quy ước dòng họ, truyền thống hiếu học và hoạt động khuyến học - khuyến tài.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Tác giả sử dụng kết hợp ba phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Quản lý văn hóa:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, kế thừa các công trình nghiên cứu đã công bố về khoa bảng, lịch sử Thăng Long - Hà Nội (của Bùi Xuân Đính, Nguyễn Viết Chức, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú); dịch nghĩa và đối chiếu các bản chép gia phả, thần tích, sắc phong và văn bia của dòng họ Nguyễn Quý.
- Phương pháp điền dã dân tộc học/văn hóa học: Tiến hành khảo sát thực địa tại phường Đại Mỗ và các vùng lân cận; trực tiếp quan sát các nghi lễ xuân tế, hội họ, cuộc thi kéo lửa thổi xôi; phỏng vấn sâu các nhân chứng lịch sử, đại diện Hội đồng gia tộc (như ông Nguyễn Quý Hồng - Trưởng chi Ất) và ghi chép hiện trạng di tích.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích: Xử lý các nguồn dữ liệu điền dã kết hợp số liệu văn bản thành các bảng thống kê di tích, câu đối, sắc phong, mộ phần và danh sách đỗ đạt khoa bảng xưa và nay.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về văn hóa dòng họ và khái quát về dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Chương 1 phác thảo bức tranh không gian văn hóa làng cổ Đại Mỗ (tên cũ là Thiên Mỗ), diện tích 4,98 km², nằm cách trung tâm Hà Nội 20 km về phía Tây Nam, tiếp giáp Tây Mỗ, Trung Văn, Mễ Trì và Dương Nội. Vùng đất này có nghề dệt tơ lụa nổi tiếng từ thời nhà Hồ (1400–1407) qua câu ca "Lĩnh Mỗ, the La". Toàn phường có 10 dòng họ và 8 nhà thờ họ, trong đó họ Nguyễn Quý là dòng họ có thế thứ và bề dày khoa bảng hàng đầu.
Lịch sử dòng họ Nguyễn Quý bắt đầu từ thủy tổ Nguyễn Phúc Tâm (quê gốc làng Dũng Quyết, tỉnh Bắc Ninh, làm nghề buôn bán và làm ruộng) di cư đến lập nghiệp tại Thiên Mỗ. Trải qua ba đời đầu, họ Nguyễn chỉ có "độc đinh". Đến đời thứ tư, cụ Đô Đài Ngự sử Nguyễn Quý Cường (tự Phúc Chỉ) sinh được hai con trai là Nguyễn Quý Tinh và Nguyễn Quý Đức, từ đó thế độc đinh bị phá vỡ và phân tách thành hai chi lớn:
- Chi Giáp (chi trưởng): Do cụ Nguyễn Quý Tinh đứng đầu.
- Chi Ất (chi thứ): Do cụ Nguyễn Quý Đức đứng đầu.
Điểm nhấn lịch sử đặc sắc nhất của dòng họ Nguyễn Quý là hiện tượng hiếm có trong lịch sử phong kiến Việt Nam khi ba thế hệ liên tiếp (ông - cha - con) đều đỗ đại khoa, cùng làm quan đến chức Tham tụng (Tể tướng), làm thầy dạy chúa và đều được triều đình phong tước Đại vương, phong thần:
- Nguyễn Quý Đức (1648–1720): Đỗ Thám hoa khoa Bính Thìn (1676) đời vua Lê Hy Tông khi 29 tuổi. Ông làm quan hơn 40 năm, giữ chức Tham tụng (Tể tướng) suốt 10 năm, làm Chánh sứ sang nhà Thanh năm 1690 (soạn tập thơ Hoa Trình Thi Tập được vua Thanh và vua Lê khen ngợi), tham gia biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư (năm 1697), chủ trì trùng tu Văn Miếu - Quốc Tử Giám (1716–1717) và trực tiếp chỉ đạo dựng 21 tấm bia tiến sĩ. Về mặt xã hội, ông hiến ruộng lập chợ Khánh Nguyên (chợ Mỗ ngày nay) họp mỗi tháng 12 phiên, chia 10 mẫu ruộng tốt cho 8 giáp 3 thôn, soạn hương ước giản dị cho làng Đại Mỗ, được vua Lê ban tặng bốn chữ "Mỹ tục khả phong". Sau khi mất, triều đình truy tặng tước Đại tư không, thụy Trịnh Mục, phong Đại vương và sắc cho dân làng phụng thờ làm Phúc thần.
- Nguyễn Quý Ân (1673–1722): Con trưởng của Thám hoa Nguyễn Quý Đức, đỗ Đình nguyên Hoàng giáp khoa Ất Mùi (1715), giữ chức Hàn lâm viện Hiệu lý, Bồi tụng, Hình Giám sát Ngự sử. Năm 1713, ông chỉ đạo phát chẩn cứu đói tại 4 huyện (Thanh Trì, Thượng Phúc, Phú Xuyên, Thanh Oai). Ông nổi tiếng về thư pháp, soạn bộ sách mẫu Thiên tự văn và tứ tự đại thư cho sĩ tử cả nước luyện chữ. Sau khi qua đời, ông được truy phong Đại vương, sắc phong Phúc thần.
- Nguyễn Quý Kính (1692–1766): Con trưởng của Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân, đỗ Lương khoa trúng thức, giữ chức Thị giảng dạy chúa Trịnh Doanh. Mùa xuân năm Canh Thân (1740), ông có công dẹp loạn thần Hoàng Công Phụ, tôn lập chúa Trịnh Doanh yên định triều chính, được phong Tham tụng kiêm Kinh Đô Thượng thư, tước Kính Quận công, xếp vào hàng "Suy trung Dực vận Công thần". Khi qua đời, ông được truy tặng Đại tư đồ, phong tặng Định sách Khuông tá luân vọng Đại vương, sắc phong Thượng đẳng thần.
Nhờ công đức to lớn của "Tam vị Đại vương", dòng họ Nguyễn Quý đóng góp 3 vị nhân thần trong tổng số 5 vị Thành hoàng làng Đại Mỗ, được dân chúng quanh vùng suy tôn qua bức hoành phi "Tứ thánh nhất tâm" và câu đối: "Đỉnh giáp nhất môn thiên hạ hữu, phúc thần tam diệp cổ lai vô".
Chương 2: Giá trị văn hóa dòng họ Nguyễn Quý phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Chương 2 kiểm kê, miêu tả chi tiết thực trạng các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dòng họ:
Di sản văn hóa vật thể
- Hệ thống nhà thờ và miếu thờ:
- Nhà thờ tổ (chi Giáp - Nguyễn Quý Tinh): Tọa lạc tại xóm Đình, nguyên thủy có kết cấu vòm cuốn hướng Tây. Năm 1993 xây thêm 3 gian đại bái; năm 2005 trùng tu hậu cung bằng bê tông nhưng giữ đúng quy cách truyền thống. Đây là nơi thờ tự từ cụ Thủy tổ Nguyễn Phúc Tâm đến cụ đời thứ tư Nguyễn Quý Cường.
- Khu Từ đường thờ Tam vị Đại vương (chi Ất - Nguyễn Quý Đức): Xây dựng từ cuối năm 1720 đến cuối năm 1721 tại xóm Đình, trùng tu lớn vào các năm 1746, 1827, 1920 và năm 1925 (thời Khải Định). Khuôn viên xây dựng theo hướng Nam, trước mặt có "lưỡng hồ song đối" (hồ tròn có ụ đất tạo thế lưỡng long tranh châu và hồ bán nguyệt tụ thủy). Kiến trúc gồm cổng tam quan với 4 cột trụ gạch đắp hình phượng và rồng; sân gạch bát rộng; hai dãy nhà tả mạc và hữu mạc lưu giữ 3 tấm bia đá lớn lập năm Bính Dần (1746): Bia Thiên Mỗ đại vương từ đường bi kí (Hà Tôn Luân soạn), Bia Quốc sư đại vương miếu vũ bi kí (Nguyễn Bá Dĩnh soạn) và Bia Công vị đại vương từ đường bi kí (Nguyễn Thế Lịch soạn). Tòa tiền tế gồm 7 gian 2 dĩ; tòa hậu cung gồm 5 gian 2 dĩ. Nơi đây bảo lưu 2 bức tranh lụa cổ vẽ truyền thần chân dung cụ Nguyễn Quý Đức (vẽ năm 1718, khi 71 tuổi) và cụ Nguyễn Quý Kính (vẽ năm 1764, khi 72 tuổi); 40 câu đối cổ sơn son thếp vàng cùng 38 đạo sắc phong (12 đạo thời Lê, 26 đạo thời Nguyễn).
- Hệ thống 3 ngôi miếu: Miếu Động Biện (Lạc Thọ Đình tại làng Phú Thứ, Tây Mỗ - nơi dưỡng già của Thám hoa Nguyễn Quý Đức); Miếu Vườn Chùa (thờ cụ Nguyễn Quý Ân tại Đại Mỗ); Miếu Nhà Cảnh (thờ cụ Nguyễn Quý Kính tại thôn Phú Thứ, Tây Mỗ). Cả ba miếu đều xây theo mặt bằng hình chữ Quốc, bảo tồn nhiều hoành phi, câu đối, án thư và bát hương cổ.
- Hệ thống gia phả: Hiện lưu giữ 3 bản chính tại gia đình ông Nguyễn Quý Hồng (Trưởng chi Ất):
- Bản Từ Thiên Nguyễn Quý thị gia phả (1850 - năm Canh Tuất triều Tự Đức): giấy bản, khổ 30 x 17 cm, gồm 141 tờ, chia làm 40 chương.
- Bản Từ Thiên Nguyễn Quý thị gia phả (khởi soạn năm 1736 - Vĩnh Hựu thứ 2, sao lại năm 1882 - Tự Đức thứ 32): viết trên giấy dó vàng, khổ 30 x 17 cm, chép tiểu sử cụ Nguyễn Quý Đức và các đời sau.
- Bản Từ Thiên Nguyễn Quý thị gia phả: viết trên giấy bản, gồm 36 tờ, chép từ đời cụ Đô Đài Nguyễn Quý Cường.
- Ngoài ra còn có cuốn Nguyễn tộc gia phả lập năm 1879 của nhánh họ tại Hà Trì (Hà Đông), một tập chép sắc phong và một tập chép Sắc chỉ năm 1717 của chúa Trịnh cấp 60 mẫu ruộng lộc điền.
- Mộ phần tổ tiên qua 7 thế hệ: Phân bố tại nhiều xứ đồng thuộc khu vực Hà Nội cũ và Hà Tây cũ:
| Đời thứ |
Nhân vật |
Địa điểm an táng |
Đặc điểm vị trí, phong thủy |
| Đời 1 |
Thủy tổ Phúc Tâm & bà Từ Đức |
Mả Xuyên (góc Tây Nam tổ dân phố Đình, Đại Mỗ) |
Mộ hợp táng |
| Đời 2 |
Cụ Phúc An & bà Từ Hạnh |
Mả Lọ |
Song táng, thế mộ đặt vào "mắt ếch", không đắp cao |
| Đời 3 |
Cụ Tả Lễ Công (Phúc Thắng) & bà Từ Hiến (Tự Tâm) |
Ông táng tại Mả Lọ; bà táng tại Mả Kiệt |
Mộ bà Từ Hiến được xem là "ngôi mộ phát phúc" của dòng họ |
| Đời 4 |
Cụ Đô Đài Phúc Chỉ & bà Từ Ý |
Ông táng tại Đống Biện (Tây Mỗ); bà táng tại An Thái |
Mộ ông hiện nằm trong đất Bộ Nội vụ; mộ bà nằm tại sân trường THPT Đại Mỗ |
| Đời 5 |
Thám hoa Nguyễn Quý Đức & bà Nguyễn Thị Giáng |
Cụ ông táng tại xóm Đồi, thôn La Phù, Hoài Đức; cụ bà táng tại Bồ Nâu (Vạn Phúc, Hà Đông) |
Mộ cụ ông có khu ruộng 4 mẫu thủ lăng; mộ cụ bà xây lại năm 1997 |
| Đời 6 |
Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân & bà Trịnh Thị Chương |
Cụ ông táng tại Bồ Thung (Mễ Trì); cụ bà táng cùng xứ đồng |
Hướng Tốn long Càn hướng; mộ cụ bà xây lại năm 1996 |
| Đời 7 |
Cụ Nguyễn Quý Kính & bà Tạ Thị Lượn |
Cụ ông táng tại cửa Đình thôn Giao Quang; cụ bà táng tại Mả Lọ |
Mộ ông thế Ngọ long Tân hướng; mộ bà thế Canh long Mão hướng |
- Quỹ họ và ruộng hương hỏa: Sau Cải cách ruộng đất, Nhà nước để lại cho họ 4 sào 10 thước ruộng canh tác lấy hoa lợi lo hương khói. Quỹ họ hiện nay được bổ sung thông qua đóng góp đầu đinh tự nguyện và hòm công đức trong các dịp lễ tết để chi dùng cho việc tu bổ di tích, sửa sang mộ phần, thăm hỏi ốm đau và phát thưởng khuyến học.
Di sản văn hóa phi vật thể
- Lễ tiết và giỗ họ: Quy định cụ thể ngày giỗ tổ cho từng chi (chi Giáp có 8 ngày giỗ tổ ông - tổ bà; chi Ất có 6 ngày giỗ tổ ông - tổ bà). Lễ chạp họ diễn ra vào tiết Đông Chí, là dịp hai chi cùng đi đắp mộ tổ và họp bàn phân công chi đảm nhiệm việc làm cỗ ("chữa") cho kỳ tế xuân năm sau (dòng họ có 9 chi nhỏ, xoay vòng trung bình 9 năm một lần). Lễ Xuân tế tổ chức vào mùng 9 tháng Giêng âm lịch, thu hút dân cư 4 thôn lân cận (Huyền Phố, An Thái, Phú Thứ, Khê Ngang) cùng về Từ đường dâng lễ tạ ơn Tam vị Đại vương.
- Hội họ và thi kéo lửa thổi xôi: Mở hội từ ngày 15 đến 19 tháng Hai âm lịch, tổ chức rước kiệu Long ngai bài vị từ 3 miếu về Từ đường. Phần hội tổ chức hát chèo, hát quan họ, hát đúm, cờ người, đấu vật và độc đáo nhất là hội thi "Kéo lửa thổi xôi" bằng công cụ thô sơ (thanh gỗ xoan, giang/rang và rơm khô). Tác giả tổng hợp tư liệu thực địa về cuộc thi diễn ra ngày 03/4/2015 tại Từ đường:
| Bảng thi |
Đội tham gia |
Thời gian thi |
Nội dung thi |
Cơ cấu giải thưởng (VNĐ) |
Kết quả giải Nhất |
| Bảng A |
Chi trưởng, Chi ông Dậu, Chi ông Thinh, Chi cụ Đồng Thần |
Sáng 03/4/2015 |
Kéo lửa nhanh |
Nhất: 600.000 Nhì: 500.000 Ba: 400.000 Khuyến khích: 300.000 |
Chi trưởng |
| Bảng B |
Chi trưởng, Chi ông Thinh, Chi ông Dậu, Chi cụ Đồng Thần |
Chiều 03/4/2015 |
Nấu xôi ngon, đơm đẹp |
Nhất: 500.000 Nhì: 400.000 Ba: 300.000 Giải tư: 200.000 |
Chi trưởng |
- Hoạt động khuyến học, khuyến tài: Dòng họ trích quỹ khen thưởng sách vở, bút viết và tiền mặt vào dịp đầu xuân. Tiêu biểu cho thành tích thế hệ trẻ là trường hợp em Nguyễn Phương Thảo (sinh năm 2000), đạt Huy chương Vàng Olympic Sinh học Quốc tế năm 2018 với điểm số cao nhất thế giới.
Chương 3: Xây dựng văn hóa dòng họ Nguyễn Quý tại phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay
Chương 3 phân tích sâu sắc ba vai trò trụ cột của dòng họ Nguyễn Quý đối với lịch sử và xã hội:
- Truyền thống học hành, khoa bảng: Thời phong kiến triều Lê, tính từ cụ Nguyễn Quý Đức, dòng họ có 2 người đỗ đại khoa, 15 người đỗ trung khoa và hơn 10 người đỗ tiểu khoa. Thời Nguyễn, do biến động nội chiến cuối thời Lê khiến nhiều người chuyển ngạch võ, họ chỉ có 2 người đỗ Cử nhân. Trong thời kỳ hiện đại, tính đến thời điểm khảo sát, làng Đại Mỗ có hàng trăm người tốt nghiệp đại học, trong đó dòng họ Nguyễn Quý đóng góp 48 người có trình độ từ đại học trở lên (chiếm 20,8% toàn phường), gồm: 4 Tiến sĩ (Nguyễn Thị Hải - ngành Hóa học, Nguyễn Quý Hiến - ngành Điện tử, Nguyễn Quý Thanh Hóa - ngành Ngoại ngữ, Nguyễn Quý Thao - ngành Giáo dục), 1 Thạc sĩ (Nguyễn Quý Dương - ngành Nông nghiệp) và 43 Cử nhân thuộc các ngành khoa học tự nhiên và xã hội.
- Tham gia chính trị và đóng góp lịch sử: Ngoài ba vị Đại vương giữ chức Tham tụng triều Lê, gia phả ghi nhận cụ Nguyễn Quý Thọ giữ chức Phó Lãnh binh Hà Nội cuối thế kỷ XIX. Thời Cần vương chống Pháp, cụ Nguyễn Quý Tuấn tham gia khởi nghĩa Tự So - Vương Quốc Chính (1898); cụ Nguyễn Quý Khiêm che chở thủ lĩnh Nguyễn Thiện Thuật rồi bị đày và hy sinh tại Cao Bằng; cụ Nguyễn Quý Ích mở hiệu buôn Ích Thái, làm Hội trưởng Hội Tương tế Sài Gòn. Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, dòng họ có ông Nguyễn Quý Bình là 1 trong 3 đảng viên Cộng sản đầu tiên của phủ Hoài Đức; 24 người con dòng họ đã hy sinh vì nền độc lập của Tổ quốc. Bên cạnh đó, bà Nguyễn Thị Thai (thứ thất cụ Nguyễn Quý Ân) cùng con trai đã có công khai phá lập nên ấp Trung Hoàng (nay thuộc huyện Chương Mỹ), được dân làng tôn làm Phúc thần phụng thờ.
- Cố kết cộng đồng làng xã: Dòng họ Nguyễn Quý có mật độ dân số đông đinh (con trai), chia làm 9 chi thứ, tạo nên mối quan hệ huyết thống - xóm giềng đan cài sâu rộng tại Đại Mỗ. Tinh thần tương trợ trong sản xuất, kinh doanh, thăm hỏi hiếu hỷ đã tạo nên tính kết nối cộng đồng chặt chẽ.
Bên cạnh những điểm tích cực, khóa luận chỉ rõ các vấn đề thực tiễn đang đặt ra:
- Bảo tồn di tích vật thể: Một số phần mộ nằm xen lẫn trong khu dân cư hoặc công trình công cộng (như mộ cụ Phúc Chỉ nằm trong khuôn viên cơ quan Bộ Nội vụ, mộ bà Từ Ý nằm trong sân trường THPT Đại Mỗ); nguy cơ xuống cấp của nhà thờ, miếu cổ đòi hỏi kinh phí và kỹ thuật trùng tu bảo đảm nguyên gốc.
- Bảo tồn di sản phi vật thể: Nguy cơ mai một các nghi thức cổ truyền do tác động của đời sống đô thị hóa nhanh; hội thi kéo lửa thổi xôi có số lượng chi ngành tham gia dao động tùy theo nhân lực từng năm.
- Quan hệ dòng họ: Dòng họ chưa có "Quy ước dòng họ" thành văn bản mà việc điều hành vẫn dựa trên truyền khẩu, tập quán; tư tưởng gia trưởng, định kiến dòng họ lớn - họ nhỏ đôi lúc còn ảnh hưởng đến sự gắn kết dân chủ.
Khóa luận đề xuất hệ thống khuyến nghị gồm 6 nhóm giải pháp:
- Bảo tồn di sản vật thể: Thực hiện tu bổ Từ đường, miếu mạo và mộ phần định kỳ, bắt buộc có sự tham vấn của cơ quan chuyên môn để tránh tình trạng sửa chữa tùy tiện, lai căng, kệch cỡm.
- Duy trì lễ nghi và gia phong: Giữ vững nền nếp tế tự truyền thống, giáo dục đạo hiếu và nếp sống thuần phong mỹ tục ngay trong từng gia đình.
- Tuyên truyền, giáo dục truyền thống: Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, thi tìm hiểu lịch sử dòng họ trong dịp tế xuân; biên soạn tờ rơi, sách mỏng tóm tắt thân thế Tam vị Đại vương; dựng bảng chỉ dẫn giới thiệu di tích tại Từ đường.
- Đổi mới hoạt động khuyến học: Thực hiện nghi thức báo công trước bàn thờ tổ đối với học sinh giỏi, học sinh đạt giải cấp huyện trở lên và người tốt nghiệp đại học; nêu gương thực tế để khích lệ thế hệ trẻ.
- Xây dựng Quy ước dòng họ bằng văn bản: Hội đồng gia tộc cần sớm soạn thảo quy ước bằng văn bản để điều chỉnh các mối quan hệ nội tộc, quy định rõ trách nhiệm của các thành viên.
- Mở rộng kết nối và xã hội hóa: Đổi mới hoạt động lễ hội để thu hút thanh thiếu niên; kêu gọi con cháu thành đạt làm ăn xa quê và kiều bào ở nước ngoài đóng góp phát triển quỹ khuyến học; loại trừ các biểu hiện tiêu cực bè phái, gia trưởng, cục bộ.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khảo kê toàn diện hệ thống di sản vật thể: Thống kê chính xác vị trí, niên đại và hiện trạng của 1 nhà thờ tổ, 1 từ đường trung tâm, 3 ngôi miếu, 3 cuốn gia phả Hán - Nôm gốc (niên đại 1850, 1736/1882 và bản 36 tờ), 40 câu đối cổ, 38 đạo sắc phong (12 đạo thời Lê, 26 đạo thời Nguyễn) và tọa độ mộ phần của 7 thế hệ tổ tiên dòng họ Nguyễn Quý.
- Phục dựng bức tranh sinh hoạt phi vật thể: Hệ thống hóa lịch giỗ chạp của 2 chi lớn, mô tả chuẩn xác quy trình tế lễ mùng 9 tháng Giêng và hội họ ngày rằm tháng Hai âm lịch; cung cấp số liệu thực nghiệm nguyên vẹn về hội thi kéo lửa thổi xôi năm 2015.
- Thống kê khoa bảng và thành tựu hiện đại: Làm rõ dữ liệu khoa bảng thời phong kiến (2 đại khoa, 15 trung khoa, >10 tiểu khoa) và thống kê điều tra thực tế giai đoạn hiện nay với 48 cá nhân có học vị cử nhân trở lên (4 Tiến sĩ, 1 Thạc sĩ, 43 Cử nhân), chiếm 20,8% tổng số người có trình độ đại học của làng Đại Mỗ.
- Phát hiện lỗ hổng quản lý gia tộc: Xác định việc dòng họ Nguyễn Quý hiện vẫn điều hành sinh hoạt thông qua truyền khẩu, chưa ban hành Quy ước dòng họ bằng văn bản pháp lý nội bộ.
Đóng góp của khóa luận
Khóa luận là công trình chuyên khảo đầu tiên thuộc chuyên ngành Quản lý văn hóa tiếp cận trực tiếp, chuyên biệt và toàn diện về sinh hoạt văn hóa của dòng họ Nguyễn Quý tại phường Đại Mỗ. Khác với các tài liệu trước đây chỉ dừng lại ở mức độ truyền thông, tin báo hoặc biên khảo lịch sử chung chung, công trình đã vận dụng phương pháp nghiên cứu điền dã kết hợp lý luận văn hóa học để cung cấp một hệ thống dữ liệu nguyên gốc, chân xác về dòng họ Tam Đại Vương xứ Đoài, đồng thời đề xuất giải pháp quản lý văn hóa dòng họ có tính khả thi cao cho cấp cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện bởi sinh viên bậc đại học nên kinh nghiệm phân tích lý luận còn giới hạn. Phạm vi khảo sát thực tế mới tập trung chủ yếu từ năm 2015 đến thời điểm hoàn thành (2022). Nguồn tư liệu chữ Hán - Nôm trong các bản gia phả và văn bia dù đã tiếp cận trực tiếp nhưng chưa được dịch thuật và chú giải toàn tập do khuôn khổ đề tài khóa luận.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh sinh hoạt văn hóa dòng họ Nguyễn Quý với các dòng họ khoa bảng lân cận trong vùng "Tứ quý danh hương" (như họ Ngô, họ Nguyễn làng Canh, Cót, La); tiến hành dịch thuật và chú giải toàn văn 3 cuốn gia phả cổ và 3 tấm văn bia lập năm 1746 tại Từ đường Tam vị Đại vương; nghiên cứu giải pháp gắn kết di tích Từ đường và hội thi kéo lửa thổi xôi của dòng họ với tuyến du lịch di sản văn hóa làng nghề của quận Nam Từ Liêm và thành phố Hà Nội.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận tốt nghiệp là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Giảng viên và sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Lịch sử, Xã hội học trong việc nghiên cứu thiết chế văn hóa dòng họ, văn hóa làng xã vùng đồng bằng sông Hồng.
- Ban quản lý di tích địa phương và chính quyền phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm trong công tác kiểm kê, bảo vệ di sản văn hóa vật thể, lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa đối với Từ đường Tam vị Đại vương và các miếu mạo liên quan.
- Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Quý và các dòng họ truyền thống khác trong việc tham khảo phương pháp quản lý quỹ, xây dựng quy ước dòng tộc và tổ chức hoạt động khuyến học khuyến tài.
Câu hỏi thường gặp
1. Cụm từ "kế thế đặng khoa, kế thế làm sư phó, kế thế làm Đại vương" trong khóa luận chỉ những nhân vật lịch sử nào?
Cụm từ này tôn vinh ba thế hệ liên tiếp (ông - cha - con) của dòng họ Nguyễn Quý gồm: cụ Thám hoa Nguyễn Quý Đức (khoa 1676, làm Tể tướng, làm sư phó, được phong Đại vương), con trai là cụ Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân (khoa 1715, làm Bồi tụng, Hữu Tư giảng dạy thế tử Trịnh Giang, được phong Đại vương) và cháu đích tôn là cụ Nguyễn Quý Kính (đỗ Lương khoa trúng thức, làm Thị giảng dạy chúa Trịnh Doanh, làm Tể tướng, tước Kính Quận công, được phong Định sách Khuông tá luân vọng Đại vương).
2. Khu Từ đường dòng họ Nguyễn Quý tại Đại Mỗ hiện còn bảo lưu những hiện vật cổ tiêu biểu nào?
Từ đường hiện còn bảo tồn: 3 tấm văn bia lớn khắc năm Bính Dần (1746); 2 bức tranh lụa cổ vẽ truyền thần chân dung cụ Nguyễn Quý Đức (vẽ năm 1718) và cụ Nguyễn Quý Kính (vẽ năm 1764); 40 câu đối cổ sơn son thếp vàng; 38 đạo sắc phong của các triều vua ban tặng (12 đạo sắc thời Lê và 26 đạo sắc thời Nguyễn); cùng nhiều bát hương cổ, bài vị và đồ tế khí.
3. Hội thi "Kéo lửa thổi xôi" truyền thống của dòng họ Nguyễn Quý được tổ chức bằng những công cụ gì và quy chế thi ra sao?
Hội thi sử dụng các dụng cụ thô sơ truyền thống gồm gỗ xoan, thanh giang (rang) và rơm khô để cọ xát tạo lửa. Cuộc thi gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 thi kéo lửa nhanh (đội nào tạo ra lửa nhanh nhất sẽ thắng cuộc); Giai đoạn 2 dùng ngọn lửa vừa tạo được để nấu xôi (đội nào thổi xôi chín nục, thơm ngon và đơm đĩa đẹp nhất sẽ giành giải Nhất).
4. Khóa luận ghi nhận dòng họ Nguyễn Quý đóng góp bao nhiêu nhân sự có trình độ đại học và sau đại học cho địa phương hiện nay?
Dòng họ Nguyễn Quý có 48 người tốt nghiệp đại học trở lên (chiếm 20,8% số người có trình độ đại học toàn phường Đại Mỗ), trong đó có 4 Tiến sĩ (thuộc các ngành Hóa học, Điện tử, Ngoại ngữ, Giáo dục), 1 Thạc sĩ (ngành Nông nghiệp) và 43 Cử nhân.
5. Vấn đề cốt lõi nào trong công tác tổ chức dòng họ Nguyễn Quý mà tác giả khuyến nghị cần khắc phục ngay?
Khóa luận chỉ rõ dòng họ Nguyễn Quý hiện vẫn duy trì sinh hoạt nội tộc chủ yếu theo hình thức truyền khẩu và tập quán, chưa có bản "Quy ước dòng họ" thành văn bản. Do đó, khuyến nghị cấp thiết là Hội đồng gia tộc cần sớm soạn thảo và ban hành bản Quy ước dòng họ bằng văn bản để chuẩn hóa các quy tắc ứng xử, điều tiết quan hệ huyết thống và tạo cơ sở pháp lý nội bộ bền vững.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Quý Hiển là công trình nghiên cứu chuyên ngành Quản lý văn hóa có hệ thống, phản ánh chân thực và sinh động diện mạo sinh hoạt văn hóa của dòng họ khoa bảng Nguyễn Quý tại phường Đại Mỗ. Tác giả đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa thao tác lý luận và khảo sát điền dã để kiểm kê chi tiết khối di sản văn hóa vật thể quý báu cùng các phong tục tín ngưỡng, hội thi dân gian đặc sắc của dòng tộc. Bằng việc phân tích thực trạng biến đổi văn hóa và chỉ ra điểm khuyết thiếu về quy ước thành văn, công trình cung cấp cơ sở khoa học xác đáng và các khuyến nghị thiết thực nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản dòng họ trong dòng chảy văn hóa đô thị hiện đại.