Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thiết chế dòng họ trong xã hội truyền thống Việt Nam đóng vai trò là một đơn vị liên kết huyết thống căn bản, trực tiếp tham gia vào cấu trúc làng xã, góp phần khai hoang lập làng, ổn định đời sống kinh tế và duy trì truyền thống văn hóa - giáo dục. Bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, các mối quan hệ gia tộc và sinh hoạt văn hóa dòng họ đứng trước những biến đổi sâu sắc, vừa có cơ hội phục hồi mạnh mẽ nhưng cũng đối mặt với nguy cơ phai nhạt các giá trị cổ truyền.

Tại phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội (xưa là làng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm), dòng họ Nguyễn Quý là một dòng họ lớn có lịch sử lâu đời, giữ vị thế đặc biệt trong lịch sử vùng đất "Tứ quý danh hương". Dòng họ nổi danh với truyền thống khoa cử khi sản sinh ra "Tam vị Đại Vương" (Thám hoa Nguyễn Quý Đức, Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân, Quốc lão Nguyễn Quý Kính) – ba thế hệ liên tiếp giữ chức Tham tụng (Tể tướng), đại thần triều Lê - Trịnh và được triều đình cùng nhân dân tôn vinh làm Thành hoàng làng, Phúc thần của địa phương. Nhằm hệ thống hóa các giá trị di sản và giải quyết những vấn đề thực tiễn trong quản lý văn hóa cơ sở, tác giả Nguyễn Quý Hiển đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Quản lý văn hóa tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dòng họ, văn hóa dòng họ và sinh hoạt văn hóa dòng họ của người Việt;
  2. Khảo sát diện mạo lịch sử, các giá trị văn hóa vật thể (nhà thờ, miếu mạo, bia ký, sắc phong, gia phả, mộ phần, quỹ họ) và văn hóa phi vật thể (nghi lễ giỗ chạp, tế tự, lễ hội, hội thi dân gian, khuyến học) của dòng họ Nguyễn Quý tại phường Đại Mỗ;
  3. Đánh giá vai trò của dòng họ trong đời sống làng xã và đề xuất hệ thống giải pháp, khuyến nghị nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dòng họ trong bối cảnh xã hội đương đại.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các khía cạnh văn hóa vật thể và phi vật thể của dòng họ Nguyễn Quý tại phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội cùng các đặc trưng cấu thành.
  • Phạm vi không gian: Tập trung tại phường Đại Mỗ (quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) và các di tích, cơ sở phụng thờ liên quan trực tiếp tại các địa bàn lân cận như Tây Mỗ, Mễ Trì, La Phù (Hoài Đức), Văn Phúc (Hà Đông).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng sinh hoạt văn hóa dòng họ trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2022.
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận dưới góc độ quản lý văn hóa đối với các thành tố di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và sinh hoạt cộng đồng gia tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống lý thuyết văn hóa học và xã hội học về thiết chế gia tộc người Việt:

  • Khung lý thuyết và khái niệm: Tác giả tiếp thu quan niệm của PGS.TS. Nguyễn Quang Lê (2018), xác định văn hóa dòng họ là một bộ phận của văn hóa dân tộc, bao gồm toàn bộ hoạt động sống và tâm linh với trung tâm là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, kết tinh qua hai phạm trù giá trị vật thể và phi vật thể. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng các luận điểm của Ninh Viết Giao, Phan Đại Doãn và Ngô Đức Thịnh về hai nguyên lý tổ chức dòng họ truyền thống: nguyên lý trưởng đích (chi trưởng, ngành trưởng giữ vai trò quản lý tế tự) và nguyên tắc cửu tộc (mối quan hệ huyết thống 9 đời từ Cao, Tằng, Tổ, Phụ, Thân đến Tử, Tôn, Tằng, Huyền).
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp tư liệu từ các công trình nghiên cứu đã công bố về khoa bảng Hà Nội (Bùi Xuân Đính, Nguyễn Viết Chức), các bộ chính sử (Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Đại Việt sử ký toàn thư), các bản gia phả Hán Nôm, văn bia và sắc phong của dòng họ.
    • Phương pháp nghiên cứu điền dã: Tác giả trực tiếp khảo sát thực địa tại khu Từ đường Tam vị Đại vương, nhà thờ tổ chi Giáp, 3 ngôi miếu, các khu mộ tổ; quan sát tham dự nghi lễ Xuân Tế, giỗ họ, hội thi kéo lửa thổi xôi; tiến hành phỏng vấn sâu các bậc cao niên và thành viên Hội đồng gia tộc.
    • Phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu: Xử lý các số liệu điều tra điền dã về học vấn, cơ cấu tài chính quỹ họ và thực trạng di sản phục vụ cho việc đánh giá và đề xuất giải pháp.
  • Nguồn dữ liệu: Nguồn văn bản Hán Nôm gồm 3 bộ gia phả (Từ Thiên Nguyễn Quý thị gia phả), 3 văn bia đá thời Cảnh Hưng (1746), 38 đạo sắc phong các triều đại Lê - Nguyễn; kết hợp số liệu khảo sát thực tế tại địa phương từ năm 2015 đến năm 2022.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về văn hóa dòng họ và khái quát về dòng họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Chương này làm rõ khung lý luận về văn hóa dòng họ và phác thảo diện mạo lịch sử của vùng đất Đại Mỗ cùng tiến trình phát triển của dòng họ Nguyễn Quý. Về lý luận, văn hóa dòng họ gồm các yếu tố vật thể (từ đường, mộ tổ, gia phả, ruộng hương hỏa, quỹ họ) và phi vật thể (giỗ họ, quy ước, lễ nghi, truyền thống hiếu học). Về bối cảnh địa bàn, phường Đại Mỗ có diện tích 4,98 km², là làng cổ ven sông Nhuệ, trước thời vua Minh Mạng có tên là Thiên Mỗ gồm 4 thôn: Thôn Đình, Thôn Ngang, Thôn Tháp, Thôn Chợ; nổi tiếng với nghề dệt tơ lụa ("Lĩnh Mỗ, the La") và truyền thống khoa bảng ("Nhất Mỗ, nhì La, thứ ba Canh Cót"). Toàn phường có 10 dòng họ, 8 nhà thờ, trong đó họ Nguyễn Quý là dòng họ đông đinh và có vị thế lớn nhất.

Về lịch sử dòng họ, Thủy tổ là cụ Nguyễn Phúc Tâm (người làng Dũng Quyết, Bắc Ninh) di cư đến Thiên Mỗ. Sau 3 đời độc đinh, đến đời thứ tư, cụ Nguyễn Quý Cường (tự Phúc Chỉ) sinh ra hai người con trai là Nguyễn Quý Tinh và Nguyễn Quý Đức, chính thức phá vỡ thế độc đinh và phân nhánh thành hai chi lớn: Chi trưởng (Chi Giáp - Nguyễn Quý Tinh) và Chi thứ (Chi Ất - Nguyễn Quý Đức). Từ đây, dòng họ phát triển rực rỡ với ba thế hệ danh nhân "Tam Đại Vương":

  1. Nguyễn Quý Đức (1648–1720): Đỗ Đình nguyên Thám hoa khoa Bính Thìn (1676) đời Lê Hy Tông lúc 28 tuổi; làm quan hơn 40 năm, giữ chức Tham tụng (Tể tướng) suốt 10 năm, Thiếu phó; làm Chánh sứ sang nhà Thanh năm 1690 (tác giả tập thơ Hoa Trình Thi Tập được vua Thanh ban tặng bốn chữ "Hoa Quốc Văn Chương", vua Lê ngự bút "Quốc Trâu Bảo Gia"); tham gia biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư; chủ trì đại trùng tu Quốc Tử Giám (1716–1717) và trực tiếp chỉ đạo dựng 21 tấm bia Tiến sĩ; hiến ruộng lập chợ Khánh Nguyên (chợ Mỗ) và soạn hương ước cho làng; khi mất được truy tặng Thái Tể Đại tư không, thụy Trịnh Mục, phong Đại Vương, sắc phong làm Thành hoàng làng.
  2. Nguyễn Quý Ân (1673–1722): Con trưởng Thám hoa Nguyễn Quý Đức, đỗ Đình nguyên Hoàng giáp năm Ất Mùi (1715), giữ chức Bồi tụng, Hàn Lâm Viện Hiệu Lý, Hình Giám Sát Ngự Sử; nổi tiếng tài viết chữ đẹp, tác giả tập thiếp Thiên tự văn và tứ thứ đại chư; năm 1734 được vua Lê Thuần Tông sắc phong Đại Vương, Phúc thần.
  3. Nguyễn Quý Kính (1692–1766): Con trưởng Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân, dạy chúa Trịnh Doanh; năm Canh Thân (1740) lập mưu đưa Trịnh Doanh lên ngôi chúa, dẹp trừ bè đảng hoạn quan; giữ chức Tham tụng kiêm Kinh Đô Thượng thư, phong Kính Quận Công, tước "Suy Trung Dực Vận Công Thần", Thái Phó, Quốc Lão; khi mất được truy tặng Đại Tư Đồ, bao phong Định sách Khuông tể luân vọng Đại Vương, Thần Thượng Đẳng.

Chương 2: Giá trị văn hoá dòng họ Nguyễn Quý phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Chương 2 trình bày chi tiết kết quả khảo sát điền dã về các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của dòng họ Nguyễn Quý:

1. Di sản văn hóa vật thể:

  • Hệ thống nhà thờ và miếu mạo:
    • Nhà thờ tổ chi Giáp (thờ Thủy tổ Phúc Tâm đến đời thứ tư Quý Cường) tại xóm Đình, xây thêm đại bái năm 1993, trùng tu hậu cung bằng bê tông năm 2005.
    • Khu Từ đường Tam vị đại vương (chi Ất) tại xóm Đình: xây dựng từ năm 1720–1721, trùng tu lớn năm 1925; bố cục theo thế phong thủy "lưỡng long tranh châu" phía trước có hồ bán nguyệt, cổng tam quan 4 cột trụ đắp hình rượng và đầu rồng; sân gạch bát; hai dãy tả mạc và hữu mạc lưu giữ 3 tấm bia đá lớn cùng soạn năm Bính Dần (1746) gồm: Bia Thiên Mỗ đại vương từ đường bi kí (Tiến sĩ Hà Tôn Luân soạn), Bia Quốc sư đại vương miếu vũ bi kí (Tiến sĩ Nguyễn Bá Dĩnh soạn), Bia Công vị đại vương từ đường bi kí (Tiến sĩ Nguyễn Thế Lịch soạn); nhà tiền tế 7 gian 2 dĩ và hậu cung 5 gian 2 dĩ lưu giữ 40 câu đối cổ sơn son thiếp vàng, 38 đạo sắc phong (12 đạo thời Lê, 26 đạo thời Nguyễn) và 2 bức tranh lụa cổ vẽ truyền thần Thám hoa Nguyễn Quý Đức (vẽ năm 1718, 71 tuổi) và Nguyễn Quý Kính (vẽ năm 1764, 72 tuổi).
    • 3 ngôi miếu thờ kiến trúc hình chữ Quốc: Miếu Động Biện / Lạc Thọ Đình (Tây Mỗ, thờ Nguyễn Quý Đức), Miếu Vườn Chùa (Đại Mỗ, thờ Nguyễn Quý Ân), Miếu Nhà Cảnh (Tây Mỗ, thờ Nguyễn Quý Kính).
  • Gia phả: Lưu giữ 3 cuốn gia phả gốc tại gia đình ông Nguyễn Quý Hồng (Trưởng chi Ất), gồm: bản Từ Thiên Nguyễn Quý thị gia phả năm Canh Tuất 1850 (141 tờ, 40 chương, khổ 30x17 cm), bản chép năm 1736 sao lại năm 1882 viết trên giấy dó vàng, bản 36 tờ chép từ đời cụ Đô Đài; cùng 1 quyển Nguyễn tộc gia phả lập năm 1879 của nhánh Hà Trì (Thanh Oai) và văn bản ghi sắc chỉ chúa Trịnh cấp 60 mẫu ruộng lộc điền năm 1717.
  • Hệ thống mộ phần: Phân bố tại nhiều vị trí lịch sử được bảo tồn qua các thế hệ: mộ Thủy tổ Phúc Tâm và phu nhân Từ Đức tại Mả Xuyên; mộ Phúc An tại Mả Lọ; mộ Phúc Thắng tại Mả Lọ; mộ bà nội Thám hoa (cụ Từ Tâm) tại Mả Kiệt (ngôi mộ phát phúc); mộ cụ Quý Cường tại Đống Biện; mộ cụ bà thân sinh Quý Đức tại sân trường THPT Đại Mỗ; mộ Thám hoa Nguyễn Quý Đức tại xóm Đồi (thôn La Phù, Hoài Đức, có 4 mẫu ruộng thủ lăng bao quanh); mộ cụ bà Nguyễn Thị Giảng tại Bồ Nâu (Văn Phúc, Hà Đông, xây lại 1997); mộ Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân tại Bồ Thung (Mễ Trì); mộ phu nhân Trịnh Thị Chương tại Mả Cả (kho Bộ Công An, xây lại 1996); mộ cụ Nguyễn Quý Kính tại cửa Đình Giao Quang.
  • Quỹ họ: Kế thừa nguồn gốc từ 4 sào 10 thước ruộng đèn hương sau cải cách ruộng đất, hiện nay quỹ họ vận hành theo cơ chế đóng góp tự nguyện theo đầu đinh kết hợp nguồn thu hòm công đức vào các dịp lễ tết để phục vụ tu sửa di tích, tế tự và khuyến học.

2. Di sản văn hóa phi vật thể:

  • Lịch tế lễ và giỗ chạp: Quy định chi tiết ngày giỗ các vị tổ chi Giáp và chi Ất; lễ chạp họ diễn ra vào tiết Đông Chí hàng năm (đi đắp mộ tổ và họp 9 phân chi luân phiên đăng cai tổ chức cỗ tế cho năm sau); lễ Xuân Tế tổ chức vào mùng 9 tháng Giêng âm lịch quy tụ 4 thôn quanh vùng về Từ đường tế bái Tam vị Đại Vương.
  • Lễ giỗ tổ rằm tháng Hai: Nghi thức tế lễ cổ truyền với chủ tế (trưởng họ) và các bồi tế mặc áo thụng, dâng lễ vật gồm xôi, thịt lợn, chuối, oản; tiếp nối là phần hội với các trò chơi dân gian: hát chèo, hát quan họ, hát đúm, hát trống quân, kéo co, đánh cờ người.
  • Hội thi kéo lửa thổi xôi: Nét sinh hoạt văn hóa độc đáo diễn ra trong ngày hội họ, sử dụng dụng cụ truyền thống gồm thanh xoan, cật giang và rơm khô để tạo lửa đun xôi thi tài giữa các chi.
Thành phần tham gia Bảng đấu Lịch thi đấu (ngày 3/4/2015) Nội dung thi Cơ cấu giải thưởng Địa điểm tổ chức
4 chi đăng ký: Chi trưởng, Chi ông Dậu, Chi ông Thinh, Chi cụ Đồng Thần (mỗi chi lập 2 đội) Bảng A (Đội 1): Chi trưởng, Chi ông Dậu, Chi ông Thinh, Chi cụ Đồng Thần Buổi sáng Kéo lửa - Giải nhất: 600.000đ (Chi trưởng)
- Giải nhì: 500.000đ
- Giải ba: 400.000đ
- Khuyến khích: 300.000đ
Đảo Ngọc, trước cửa Từ đường dòng họ Nguyễn Quý
Bảng B (Đội 2): Chi trưởng, Chi ông Thinh, Chi ông Dậu, Chi cụ Đồng Thần Buổi chiều Thổi xôi - Giải nhất: 500.000đ (Chi trưởng)
- Giải nhì: 400.000đ
- Giải ba: 300.000đ
- Đồng giải tư: 200.000đ
Đảo Ngọc, trước cửa Từ đường dòng họ Nguyễn Quý
  • Hoạt động khuyến học, khuyến tài: Trích quỹ họ trao thưởng sách vở, bút viết và tiền mặt vào đầu xuân; điển hình con cháu dòng họ có em Nguyễn Phương Thảo (sinh năm 2000) đạt Huy chương Vàng Olympic Sinh học Quốc tế năm 2018 với kỷ lục điểm thi cao nhất thế giới.

Chương 3: Xây dựng văn hóa dòng họ Nguyễn Quý tại phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay

Chương 3 tập trung phân tích vai trò lịch sử - xã hội của dòng họ, chỉ ra các vấn đề thực tiễn và đề xuất giải pháp quản lý:

1. Vai trò của dòng họ Nguyễn Quý:

  • Truyền thống khoa cử và đóng góp nhân lực: Giai đoạn phong kiến, chỉ tính 3 đời sau Nguyễn Quý Đức, họ Nguyễn Quý có 2 người đỗ đại khoa, 15 người đỗ trung khoa và hơn 10 người đỗ tiểu khoa. Đến thời Cảnh Hưng, do nội chiến liên miên, một bộ phận chuyển sang ngạch võ khiến mạch học bị gián đoạn, thời Nguyễn chỉ có 2 người đỗ Cử nhân. Trong thời hiện đại, tinh thần hiếu học được khôi phục mạnh mẽ: dòng họ có 48 người tốt nghiệp đại học trở lên (chiếm 20,8% tổng số người có trình độ cử nhân trở lên của toàn làng Đại Mỗ), trong đó có 4 Tiến sĩ (Nguyễn Thị Hải - Hóa học, Nguyễn Quý Hiển - Điện tử, Nguyễn Quý Thanh Hóa - Ngoại ngữ, Nguyễn Quý Thao - Giáo dục), 1 Thạc sĩ (Nguyễn Quý Dương - Nông nghiệp) và 43 Cử nhân đa ngành.
  • Đóng góp chính trị và phụng sự đất nước: Thời phong kiến, dòng họ có nhiều danh thần giữ chức Tham tụng, Phó Lãnh binh Hà Nội (Nguyễn Quý Thọ), Tri phủ, Tri huyện. Thời Cần vương chống Pháp có cụ Nguyễn Quý Tuấn, cụ Nguyễn Quý Khiêm; cụ Nguyễn Quý Ích mở hiệu Ích Thái và làm Hội trưởng Hội Tương tế Sài Gòn. Thời kỳ cách mạng có cụ Nguyễn Quý Bình là một trong 3 đảng viên Cộng sản đầu tiên của phủ Hoài Đức; trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm có hàng trăm người tham gia quân đội và 24 liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc. Dòng họ còn có công khai hoang lập ấp, tiêu biểu là bà Nguyễn Thị Thai (vợ Hoàng giáp Quý Ân) cùng con trai Nguyễn Quý Thường khai lập ấp Trung Hoàng (Chương Mỹ) và được tôn làm Phúc thần.
  • Gắn kết cộng đồng làng xã: Duy trì nề nếp gia phong, tạo nên sự cố kết xã hội bền vững và đóng góp vào nếp sống văn hóa chung của địa phương.

2. Một số vấn đề đặt ra:

  • Bảo tồn di tích vật thể gặp khó khăn trước áp lực đô thị hóa, nhiều hạng mục xuống cấp, hiện vật cổ (bia đá, tranh lụa, sắc phong) đối diện nguy cơ hư hại;
  • Hoạt động lễ hội (rước kiệu từ 3 miếu về Từ đường từ 15 đến 19 tháng 2 âm lịch) cần duy trì tính chuẩn mực;
  • Mối quan hệ trong dòng họ phức tạp do quy mô đông đinh (9 phân chi), hiện sinh hoạt dòng họ chủ yếu dựa trên tập quán truyền miệng, chưa xây dựng được Quy ước dòng họ bằng văn bản.

3. Hệ thống khuyến nghị:

  1. Bảo tồn di sản vật thể: Tu bổ di tích phải có sự tư vấn của chuyên gia bảo tồn, tuyệt đối tránh sửa chữa tùy tiện gây lai căng; nâng cao ý thức bảo vệ hiện vật cổ;
  2. Duy trì nề nếp lễ nghi và giáo dục gia phong: Tổ chức tế tự trang trọng, giản tiện, tránh phô trương hình thức;
  3. Đẩy mạnh tuyên truyền truyền thống: Tổ chức thi tìm hiểu lịch sử dòng họ nhân ngày Xuân Tế/giỗ tổ; xuất bản tài liệu mỏng; lắp đặt bảng giới thiệu di tích tại Từ đường;
  4. Phát triển công tác khuyến học: Đổi mới hình thức nêu gương, tổ chức báo công trước bàn thờ tổ cho học sinh giỏi cấp huyện trở lên; mở rộng vận động gây quỹ khuyến học từ doanh nhân và bà con xa quê;
  5. Văn bản hóa Quy ước dòng họ: Sớm soạn thảo và ban hành Quy ước dòng họ thành văn bản chính thức để điều tiết các mối quan hệ nội tộc, đồng thời đổi mới nội dung hoạt động của Hội đồng gia tộc nhằm thu hút giới trẻ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được những kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên việc trích xuất tư liệu thực địa:

Danh mục di sản / Chỉ số Thống kê số lượng / Hiện trạng theo văn bản
Cơ sở thờ tự & di tích - 01 Nhà thờ tổ chi Giáp (xóm Đình)
- 01 Từ đường Tam vị đại vương (chi Ất, xóm Đình)
- 03 ngôi miếu chữ Quốc: Miếu Động Biện, Miếu Vườn Chùa, Miếu Nhà Cảnh
Hiện vật cổ tại Từ đường - 38 đạo sắc phong (12 đạo thời Lê, 26 đạo thời Nguyễn)
- 03 văn bia đá hình trụ soạn năm Cảnh Hưng thứ 7 (1746)
- 40 câu đối cổ sơn son thiếp vàng và nhiều hoành phi đại tự
- 02 bức tranh lụa cổ vẽ truyền thần năm 1718 (Nguyễn Quý Đức) và 1764 (Nguyễn Quý Kính)
Tư liệu gia phả Hán Nôm - 03 bộ Từ Thiên Nguyễn Quý thị gia phả (bản 1850 gồm 141 tờ 40 chương, bản 1736 sao năm 1882, bản 36 tờ)
- 01 cuốn Nguyễn tộc gia phả năm 1879 chi Hà Trì
- 01 văn bản sao sắc chỉ cấp 60 mẫu lộc điền năm 1717
Học vấn thời hiện đại - 48 người có trình độ cử nhân trở lên (chiếm 20,8% toàn phường Đại Mỗ)
- 04 Tiến sĩ (Hóa học, Điện tử, Ngoại ngữ, Giáo dục)
- 01 Thạc sĩ (Nông nghiệp)
- 43 Cử nhân đại học
Thành tích quốc tế tiêu biểu 01 Huy chương Vàng Olympic Sinh học Quốc tế năm 2018 (Nguyễn Phương Thảo - điểm cao nhất thế giới)
Đóng góp kháng chiến Hàng trăm người nhập ngũ, 24 liệt sĩ

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc hệ thống hóa một cách toàn diện di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dòng họ Nguyễn Quý dưới góc độ chuyên ngành Quản lý văn hóa. Công trình chỉ rõ lỗ hổng quản lý hiện nay là sự thiếu vắng một bản Quy ước dòng họ bằng văn bản và đề xuất phương án cụ thể để kiện toàn hoạt động của Hội đồng gia tộc, gắn kết bảo tồn di sản dòng họ với phát triển văn hóa làng xã địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực địa của đề tài tập trung chủ yếu trong mốc thời gian từ năm 2015 đến năm 2022 tại địa bàn phường Đại Mỗ; chưa tiến hành dịch thuật và khảo cứu toàn văn nội dung Hán Nôm của toàn bộ 38 đạo sắc phong và 40 chương gia phả năm 1850; chưa mở rộng điều tra xã hội học đối với các nhánh phân tán tại Hà Trì (Thanh Oai) và ấp Trung Hoàng (Chương Mỹ).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu dịch thuật, chú giải toàn bộ hệ thống văn bia Cảnh Hưng 1746 và sắc phong triều đại; nghiên cứu sâu sự tương tác giữa văn hóa dòng họ khoa bảng với quá trình đô thị hóa tại vùng ven đô Hà Nội; xây dựng dự thảo bộ Quy ước văn hóa dòng họ chuẩn mực áp dụng trong thực tiễn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Lịch sử, Dân tộc học và Xã hội học khi nghiên cứu về thiết chế dòng họ và văn hóa làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ. Phần khảo cứu thực địa tại Chương 2 (với dữ liệu chi tiết về kích thước, số trang của các bộ gia phả, nội dung 3 văn bia 1746, quy trình hội thi kéo lửa thổi xôi và hệ thống mộ phần) cùng hệ thống giải pháp quản trị gia tộc tại Chương 3 là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương và các hội đồng gia tộc trong việc lập quy ước, quản lý di tích và tổ chức khuyến học.

Câu hỏi thường gặp

1. Thế "độc đinh" của dòng họ Nguyễn Quý tại làng Thiên Mỗ được phá vỡ từ đời thứ mấy và phân chia thành các chi phái nào? Thế độc đinh duy trì qua 3 đời từ Thủy tổ Nguyễn Phúc Tâm, đến đời thứ tư cụ Nguyễn Quý Cường (tự Phúc Chỉ) sinh được hai con trai là Nguyễn Quý Tinh và Nguyễn Quý Đức, từ đó hình thành hai chi lớn: Chi trưởng (Chi Giáp - Nguyễn Quý Tinh) và Chi thứ (Chi Ất - Nguyễn Quý Đức).

2. Khu Từ đường Tam vị đại vương hiện lưu giữ những hiện vật lịch sử và tác phẩm nghệ thuật đặc sắc nào? Từ đường hiện lưu giữ 3 tấm bia đá lớn cùng soạn năm Cảnh Hưng thứ 7 (1746), 40 câu đối cổ sơn son thiếp vàng, 38 đạo sắc phong của các triều vua Lê - Nguyễn (gồm 12 sắc thời Lê và 26 sắc thời Nguyễn) cùng 2 bức tranh lụa cổ vẽ truyền thần Thám hoa Nguyễn Quý Đức (vẽ năm 1718 khi 71 tuổi) và Nguyễn Quý Kính (vẽ năm 1764 khi 72 tuổi).

3. Cơ cấu giải thưởng và kết quả của Hội thi kéo lửa thổi xôi năm 2015 của dòng họ Nguyễn Quý được ghi nhận như thế nào? Hội thi tổ chức ngày 3/4/2015 tại Đảo Ngọc trước Từ đường gồm 4 chi tham gia chia làm 2 bảng. Kết quả: Chi trưởng đạt cú đúp Giải nhất ở cả hai nội dung thi kéo lửa buổi sáng (giải thưởng 600.000 đồng) và thi thổi xôi buổi chiều (giải thưởng 500.000 đồng).

4. Trình độ học vấn đại học và sau đại học của con cháu dòng họ Nguyễn Quý tại Đại Mỗ đạt con số cụ thể nào? Dòng họ có 48 người tốt nghiệp đại học trở lên (chiếm 20,8% số người có trình độ cử nhân trở lên của phường Đại Mỗ), trong đó có 4 Tiến sĩ (thuộc các ngành Hóa học, Điện tử, Ngoại ngữ, Giáo dục), 1 Thạc sĩ (ngành Nông nghiệp) và 43 Cử nhân đại học thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội.

5. Tác giả khóa luận chỉ ra điểm hạn chế lớn nhất trong quản lý sinh hoạt nội bộ của dòng họ hiện nay là gì? Hạn chế lớn nhất là mặc dù dòng họ duy trì sinh hoạt quy củ nhưng phương thức điều hành vẫn chủ yếu dựa vào truyền thống và tập quán truyền miệng, chưa xây dựng được bản Quy ước dòng họ bằng văn bản chính thức để điều tiết quan hệ nội tộc và định hướng trách nhiệm cho thế hệ trẻ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quý Hiển đã tái hiện toàn diện bức tranh sinh hoạt văn hóa của dòng họ Nguyễn Quý tại phường Đại Mỗ, khẳng định giá trị bền vững của một dòng họ danh gia vọng tộc với truyền thống "Tam Đại Vương" kế thế đăng khoa và phụng sự đất nước. Công trình đã khảo sát tỉ mỉ hệ thống di sản vật thể độc bản cùng các sinh hoạt văn hóa phi vật thể đặc trưng, đồng thời cung cấp số liệu thực tế về nguồn nhân lực học vấn cao của dòng họ trong thời kỳ mới. Các khuyến nghị về văn bản hóa quy ước, bảo tồn di tích có chuyên môn và đổi mới công tác khuyến học mang giá trị ứng dụng thiết thực, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong bối cảnh hội nhập hiện nay.