Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Triết học của Martin Heidegger và ý nghĩa hiện thời của nó" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Trường thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số: 62 22 03 02) dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Vũ Hảo, bảo vệ năm 2020.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tính cấp thiết của luận án được tác giả luận giải dựa trên bốn lý do chủ yếu:

  1. Martin Heidegger (1889 - 1976) là một trong những đại biểu có ảnh hưởng sâu rộng đến triết học phương Tây thế kỷ XX (đặt nền tảng và định hướng cho chủ nghĩa Hiện sinh, Chú giải học, chủ nghĩa Cấu trúc, Hậu Cấu trúc, Hậu hiện đại, triết học Phân tích, trường phái Frankfurt, chủ nghĩa Mác mới). Việc nghiên cứu hệ thống di sản triết học của ông là yêu cầu cần thiết đối với lịch sử triết học thế giới hiện đại.
  2. Triết học của M. Heidegger tập trung suy tư về "tồn tại người", thân phận con người cá nhân ở phương Tây hiện đại trong bối cảnh con người bị tha hóa và nô lệ tinh thần bởi sự thống trị của tính duy lý cực đoan và kỹ trị. Triết học của ông đặt ra các vấn đề về phương thức tồn tại, tự do, trách nhiệm, lương tâm và nghĩa vụ, mang tinh thần nhân văn và có giá trị tham khảo trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao lưu tư tưởng Đông - Tây.
  3. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và giảng dạy triết học phương Tây hiện đại nói chung và triết học Heidegger nói riêng trong nhiều thập kỷ qua còn khiêm tốn, chưa khắc phục triệt để cách tiếp cận siêu hình thiên về phê phán cực đoan hoặc phủ định sạch trơn. Cần có cách tiếp cận khách quan, biện chứng trên lập trường mác-xít theo tinh thần đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam (cụ thể là Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 09/12/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030).
  4. Thực tiễn mặt trái của kinh tế thị trường tại Việt Nam làm nảy sinh tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống thực dụng, đề cao vật chất, một bộ phận cán bộ đảng viên tha hóa, đánh mất trách nhiệm cá nhân. Việc nghiên cứu tư tưởng triết học và đạo đức học của Heidegger dưới lăng kính chủ nghĩa Mác - Lênin là việc làm cần thiết nhằm góp phần giáo dục đạo đức xã hội.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích: Phân tích một cách hệ thống những nội dung cơ bản của triết học M. Heidegger, từ đó làm rõ ý nghĩa hiện thời của nó.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
    1. Thứ nhất: Tổng quan những công trình đã nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; đánh giá những kết quả của các công trình các tác giả đi trước và những vấn đề đặt ra cho luận án.
    2. Thứ hai: Phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội và những tiền đề lý luận cho sự ra đời triết học của M. Heidegger.
    3. Thứ ba: Phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của triết học M. Heidegger.
    4. Thứ tư: Phân tích làm rõ ý nghĩa hiện thời của triết học M. Heidegger.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung cơ bản của triết học M. Heidegger và ý nghĩa hiện thời của nó.
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở những nội dung cơ bản gồm bản thể luận (học thuyết về tồn tại người), đạo đức học và triết học ngôn ngữ trong một số tác phẩm tiêu biểu của M. Heidegger như: Tồn tại và thời gian (1927), Siêu hình học là gì? (1929), Thư về nhân bản chủ nghĩa (1946), Nhập môn siêu hình học (1953), Trên đường đến với ngôn ngữ (1959), Buông xả thanh thản (1959)... và ý nghĩa hiện thời của các tư tưởng đó.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo ba nhóm chủ đề chính:

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Nhóm công trình về điều kiện và tiền đề ra đời:

    • Sách chuyên khảo, giáo trình trong nước: Nguyễn Hào Hải (2001) trong Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại chỉ ra 4 nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh (bản thể luận, nhận thức luận, hiện tượng luận Husserl, và hai cuộc chiến tranh thế giới); Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng (2003) trong Lược khảo triết học phương Tây hiện đại đề cập tiền đề lý luận từ Socrate, J. Rousseau, I. Kant, G. Hegel; Nguyễn Tiến Dũng (2006) trong Chủ nghĩa hiện sinh, lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam phân tích sự phản kháng xã hội duy lý và vai trò của chiến tranh; Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh (2008) trong Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX phân tích tiền đề từ F. Dostoevsky, S. Kierkegaard, F. Nietzsche; Nguyễn Vũ Hảo (2016) trong Giáo trình triết học phương Tây hiện đại phân tích ba nguồn gốc (xã hội: tha hóa lao động trí óc và sự đối kháng của KH-KT; nhận thức luận: khủng hoảng lý tính; tư tưởng: S. Kierkegaard, A. Simmel, E. Husserl).
    • Luận văn, luận án và bài viết: Lê Kim Châu (1996) phân tích nguồn gốc kinh tế - xã hội và tư tưởng từ Socrate, Pascal, Kierkegaard, Nietzsche, Husserl; Nguyễn Thị Như Huế (2013) nghiên cứu bối cảnh đạo đức học hiện sinh; Trần Thị Điểu (2013) luận giải bối cảnh kinh tế - chính trị và sự tha hóa tinh thần; Nguyễn Thị Thường (2007) phân tích mâu thuẫn lực lượng sản xuất và sự phản kháng xã hội phi nhân tính.
  2. Nhóm công trình về nội dung cơ bản của triết học M. Heidegger:

    • Trong nước: Trần Thái Đỉnh (1967/2015) trong Triết học hiện sinh trình bày về Dasein, Hữu tại thế (In-der-Welt-sein), dự phóng, thời gian tính; Bùi Giáng (2001) trong Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại luận giải về vấn đề Hữu thể (Tồn tại); Lê Tôn Nghiêm (1973, 2007) dịch và phân tích 4 định nghĩa về Dasein; Đỗ Minh Hợp (2006, 2007) phân tích 11 luận điểm đạo đức học hiện sinh và quan hệ tự do - trách nhiệm; Chu Văn Tuấn (2008) phân tích bản chất chân lý là sự khai phóng của Tồn tại; Nguyễn Chí Hiếu (2014) làm rõ phương pháp hiện tượng luận và cấu trúc Dasein hướng tới cái chết; Nguyễn Vũ Hảo (2007, 2016, 2017) phân tích cấu trúc tồn tại người, tính bị vứt bỏ, phương thức tồn tại thực/không thực và 5 giá trị cốt lõi của đạo đức học hiện sinh; Trần Tuấn Phong (2019) nghiên cứu đặc thù tồn tại người như xuất tính thể.
    • Ngoài nước: Lưu Phóng Đồng (1994, 2004) phân tích bản thể luận, phạm trù lương tâm và tự do gắn với cái chết; Jacques Colette (2011) luận giải hiện sinh có trước bản chất; Douglas V. Radandt (1982) phân tích sự hình thành triết học công nghệ của Heidegger trong Tồn tại và thời gian.
  3. Nhóm công trình về ý nghĩa hiện thời:

    • Nguyễn Vũ Hảo (2017) chỉ ra đóng góp của đạo đức học hiện sinh trong việc chống tha hóa và ý nghĩa đối với sự phát triển con người Việt Nam; Nguyễn Tiến Dũng (2006) khảo cứu quá trình du nhập chủ nghĩa hiện sinh vào miền Nam Việt Nam từ thập niên 1950 trong văn học, nghệ thuật và giáo dục đại học.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả luận án chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận từng lát cắt riêng lẻ hoặc lồng ghép Heidegger trong trào lưu chung của chủ nghĩa hiện sinh. Chưa có công trình nào ở Việt Nam khảo cứu và hệ thống hóa toàn diện tư tưởng triết học của M. Heidegger thông qua ba trụ cột nội dung cơ bản: bản thể luận (học thuyết về tồn tại người - Dasein), đạo đức học và triết học ngôn ngữ dựa trên các tác phẩm tiêu biểu; đồng thời chưa có công trình phân tích thấu đáo các "hạt nhân hợp lý" để rút ra ý nghĩa hiện thời đối với thế giới và Việt Nam trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ sở lý luận nền tảng: Luận án được thực hiện dựa trên các nguyên lý, quy luật và phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Quan điểm chỉ đạo: Tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại (Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị Khóa XI) nhằm phục vụ phát triển lý luận và giáo dục con người trong thời kỳ mới.
  • Khái niệm then chốt: Tồn tại (Sein), Cái hiện hữu (Seiendes), Tồn tại người (Dasein), Tồn tại-trong-thế-giới (In-der-Welt-sein), Tính bị vứt bỏ (Geworfenheit), Tồn tại đích thực (eigentlich) và không đích thực (uneigentlich), Cái "người ta" (Das Man), Tồn tại hướng tới cái chết (Sein-zum-Tode), Thời gian tính (Zeitlichkeit), Ngôn ngữ là ngôi nhà của Tồn tại (Die Sprache ist das Haus des Seins), Tư tưởng tính toán và tư tưởng trầm tư, Sự buông xả thanh thản (Gelassenheit).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính trong lĩnh vực lịch sử triết học, sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đặt tư tưởng của Heidegger trong mối liên hệ hữu cơ với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và dòng chảy lịch sử tư tưởng phương Tây.
  • Phương pháp mác-xít nghiên cứu lịch sử triết học: Phân tích, đánh giá khách quan các giá trị hợp lý cũng như hạn chế lịch sử và thế giới quan duy tâm của đối tượng nghiên cứu.
  • Phương pháp văn bản học (Textual analysis): Khảo cứu trực tiếp các trước tác nguyên bản tiếng Đức và các bản dịch tiếng Anh, tiếng Việt.
  • Các phương pháp tư duy lôgíc: Phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống nhất giữa lôgíc và lịch sử, so sánh, khái quát hóa.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tư liệu gốc của M. Heidegger: Các tác phẩm chính như Sein und Zeit (1927) [tham chiếu bản dịch Hữu thể và thời gian của Trần Công Tiến (1973) và bản dịch tiếng Anh Being and Time của John Macquarrie & Edward Robinson (1962)], Was ist Metaphysik? (1929) [bản dịch của Quang Chiến (2004)], Brief über den Humanismus (1946), Einführung in die Metaphysik (1953), Unterwegs zur Sprache (1959), Gelassenheit (1959)...
  • Tư liệu kinh điển và văn kiện: Các tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin; các văn kiện Đại hội và Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; các giáo trình, sách chuyên khảo và bài báo khoa học trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm phần Mở đầu, 4 chương (12 tiết), Kết luận, Danh mục công trình của tác giả và Tài liệu tham khảo.

Chương Tên chương Số tiết Nội dung trọng tâm
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4 tiết Điểm luận các công trình trong và ngoài nước theo 3 nhóm; xác lập khoảng trống nghiên cứu.
Chương 2 Những điều kiện và tiền đề ra đời triết học của Martin Heidegger 3 tiết Tiểu sử 5 giai đoạn, 2 thời kỳ tư tưởng, khảo lược tác phẩm, điều kiện kinh tế - xã hội, tiền đề tư tưởng.
Chương 3 Nội dung cơ bản của triết học Martin Heidegger 3 tiết Bản thể luận (học thuyết Dasein), đạo đức học hiện sinh (11 luận điểm), triết học ngôn ngữ.
Chương 4 Ý nghĩa hiện thời của triết học Martin Heidegger 2 tiết Đánh giá giá trị và hạn chế; ảnh hưởng đến triết học thế kỷ XX và ý nghĩa đối với Việt Nam.

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Chương 1 tập trung phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu về Heidegger và chủ nghĩa hiện sinh ở trong và ngoài nước. Tác giả khái quát các thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước trong việc chỉ ra nguồn gốc xã hội, khủng hoảng nhận thức luận và tiền đề tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh; đồng thời phân tích những lát cắt về Dasein, bản thể luận và đạo đức học. Từ đó, chương 1 khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về ba nội dung cốt lõi (bản thể luận, đạo đức học, ngôn ngữ học) và làm sáng tỏ ý nghĩa hiện thời đối với Việt Nam trên lập trường mác-xít.

Chương 2. NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TRIẾT HỌC CỦA MARTIN HEIDEGGER

Chương 2 trình bày ba nội dung chính:

  • Cuộc đời và tác phẩm của M. Heidegger:

    • Cuộc đời tác giả được chia làm 5 giai đoạn:
      1. Giai đoạn thần học (trước 1920): Học trường dòng Freiburg, chuyển sang triết học năm 1911 sau khi đọc luận văn năm 1906 của F. Brentano về ý nghĩa của Tồn tại; hoàn thành luận án tiến sĩ năm 1914 dưới sự hướng dẫn của H. Rickert; làm trợ giảng cho E. Husserl năm 1919.
      2. Giai đoạn ảnh hưởng của Husserl và giảng dạy tại Marburg - Freiburg (1920 - 1933): Soạn bài giảng năm 1925, xuất bản tác phẩm Tồn tại và thời gian (1927), kế nhiệm ghế giáo sư của Husserl tại Freiburg năm 1928, xuất bản Kant và vấn đề siêu hình học (1929).
      3. Giai đoạn ảnh hưởng bởi Đức Quốc xã (1933 - 1934): Làm Hiệu trưởng Đại học Freiburg trong 10 tháng, sau đó từ chức do bất đồng về chính sách bài Do Thái và thuyết duy sinh học.
      4. Giai đoạn ân hận và bị đình chỉ giảng dạy (1945 - 1949): Rút lui khỏi hoạt động chính trị, không xuất bản tác phẩm, bị cấm giảng dạy sau chiến tranh.
      5. Giai đoạn cuối đời (1950 - 1976): Giảng dạy trở lại tại Frankfurt từ năm 1951 đến khi về hưu năm 1957, sống ẩn cư tại Rừng Đen cho đến khi qua đời tại Frankfurt.
    • Tư tưởng triết học được phân làm hai thời kỳ: Tiền kỳ tập trung vào vấn đề Dasein và thời gian; Hậu kỳ tập trung vào ngôn ngữ, phê phán lịch sử siêu hình học phương Tây và tìm kiếm chân lý của Tồn tại.
    • Khảo lược các tác phẩm chính: Tồn tại và thời gian (1927), Siêu hình học là gì? (1929), Thư về nhân bản chủ nghĩa (1946), Nhập môn siêu hình học (1953), Trên đường đến với ngôn ngữ (1959), Buông xả thanh thản (1959).
  • Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa:

    • Tác động của Cách mạng tư sản Hà Lan (1648), Cách mạng công nghiệp Anh (1760 với phát minh máy hơi nước của James Watt năm 1768), Cách mạng tư sản Pháp (1789).
    • Sự thống nhất nước Đức dưới thời O. Bismarck (những năm 1860 - 1870), sự chuyển biến sang chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước và công nghiệp hóa cơ khí quy mô lớn.
    • Mặt trái của chủ nghĩa tư bản: sự sùng bái khoa học kỹ thuật và chủ nghĩa duy lý cực đoan làm tha hóa con người, biến con người thành công cụ kinh tế, dẫn đến khủng hoảng tinh thần (được đối chiếu qua các nhận định của C. Mác và Ph. Ăngghen).
    • Tác động trực tiếp từ sự thất bại và hậu quả tàn khốc của Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) đối với xã hội và giới trẻ nước Đức.
  • Tiền đề tư tưởng:

    • Sự kế thừa và phê phán truyền thống siêu hình học phương Tây từ Cổ đại Hy Lạp (Socrates, Platon, Aristotle), Thần học Trung cổ (Augustino), Cận đại (R. Descartes, B. Pascal, J. Rousseau, I. Kant, G. Hegel).
    • Ảnh hưởng trực tiếp từ các nhà tư tưởng tiền khởi: S. Kierkegaard (suy tư hiện sinh cá nhân), F. Nietzsche (phê phán hư vô chủ nghĩa), F. Dostoevsky, triết học đời sống (W. Dilthey, A. Simmel) và Hiện tượng học của E. Husserl (phương pháp hiện tượng học và tính ý hướng).

Chương 3. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC MARTIN HEIDEGGER

Chương 3 đi sâu phân tích ba nội dung nền tảng:

  • Bản thể luận - học thuyết về tồn tại người:
    • Xác lập sự phân biệt bản thể luận (ontological difference) giữa Tồn tại (Sein) và Cái hiện hữu (Seiendes). Heidegger phê phán siêu hình học truyền thống đã quên lãng Tồn tại khi đồng nhất Tồn tại với cái hiện hữu.
    • Phân tích cấu trúc của Dasein (Tồn tại người): Dasein là hữu thể duy nhất có khả năng đặt câu hỏi về Tồn tại; bản chất của Dasein nằm ở sự hiện sinh của nó.
    • Cấu trúc cơ bản của Dasein là Tồn tại-trong-thế-giới (In-der-Welt-sein), gắn liền với tính bị vứt bỏ (Geworfenheit) và tính dự phóng (Entwurf).
    • Phân biệt hai phương thức hiện sinh: Tồn tại không đích thực (khi con người đánh mất bản thân, sa ngã vào thế giới của cái "người ta" - Das Man, sống theo dư luận và chuyện phiếm) và Tồn tại đích thực (khi con người thức tỉnh trước tâm trạng lo âu - Angst, dám đối diện với Tồn tại hướng tới cái chết - Sein-zum-Tode).
    • Thời gian tính (Zeitlichkeit) được chứng minh là chân trời ý nghĩa tối hậu của Tồn tại.
  • Đạo đức học của M. Heidegger:
    • Đạo đức học hiện sinh không xây dựng hệ thống quy tắc giáo điều tiên nghiệm mà bắt nguồn từ trải nghiệm hiện sinh cụ thể của cá nhân.
    • Phân tích phạm trù tiếng gọi của lương tâm (Ruf des Gewissens): tiếng gọi thôi thúc Dasein thoát khỏi sự tha hóa của cái "người ta" để trở về với cái Tôi đích thực.
    • Mối quan hệ biện chứng giữa tự do và trách nhiệm: tự do đích thực là tự do gánh vác trách nhiệm về sự hiện hữu của chính mình trước cái chết không thể trốn tránh.
    • Hệ thống hóa 11 tín điều/luận điểm đạo đức học hiện sinh, nhấn mạnh phương châm sống trung thực với bản thân, dám chịu trách nhiệm trước thời cuộc và phê phán lối sống cơ hội, vô cảm.
  • Triết học ngôn ngữ của M. Heidegger:
    • Luận điểm trung tâm: "Ngôn ngữ là ngôi nhà của Tồn tại" (Die Sprache ist das Haus des Seins). Ngôn ngữ không đơn thuần là công cụ ký hiệu trao đổi thông tin của con người mà là nơi chốn để Tồn tại tự cất lời và hiển lộ chân lý.
    • Phân biệt giữa tiếng nói đích thực (sự lắng nghe và đón nhận Tồn tại) và chuyện phiếm/nói huyên thuyên (Gerede - biểu hiện của tồn tại không đích thực).
    • Vai trò của thơ ca (đặc biệt là thơ Hölderlin) và tư tưởng trầm tư: đưa con người đạt tới trạng thái buông xả thanh thản (Gelassenheit), mở ra cuộc đối thoại hòa hợp giữa các nền văn hóa Đông - Tây.

Chương 4. Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA TRIẾT HỌC MARTIN HEIDEGGER

Chương 4 tổng kết giá trị, hạn chế và rút ra ý nghĩa thực tiễn:

  • Nhận định chung về triết học M. Heidegger:
    • Hạt nhân hợp lý: Đặt con người cá nhân vào vị trí trung tâm của suy tư triết học; cảnh báo sâu sắc về nguy cơ tha hóa và nô dịch hóa con người trong xã hội kỹ trị, sùng bái công nghệ; đề cao tự do gắn liền với trách nhiệm cá nhân; mở ra phương pháp tiếp cận hiện tượng luận - chú giải học đối với văn hóa và ngôn ngữ.
    • Hạn chế: Thế giới quan duy tâm chủ quan; màu sắc bi quan, lo âu hiện sinh; thuật ngữ phức tạp, trừu tượng, mang hơi hướng thần bí; sai lầm chính trị gắn với giai đoạn thỏa hiệp với Đức Quốc xã năm 1933.
  • Ý nghĩa hiện thời và ảnh hưởng:
    • Ảnh hưởng quốc tế: Tác động sâu rộng đến sự hình thành và phát triển của các trường phái triết học phương Tây thế kỷ XX (J.P. Sartre trong chủ nghĩa hiện sinh, H.G. Gadamer trong chú giải học, M. Foucault và J. Derrida trong cấu trúc/hậu hiện đại...).
    • Ý nghĩa đối với Việt Nam:
      1. Góp phần đổi mới tư duy nghiên cứu lịch sử triết học phương Tây theo quan điểm khách quan, toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
      2. Cung cấp bài học tham khảo về giáo dục đạo đức xã hội: khơi dậy ý thức tự giác, tinh thần tự chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân; phê phán lối sống tha hóa, chạy theo lợi ích vật chất cục bộ, sống giả dối; xây dựng bản lĩnh và lối sống trung thực cho cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ.
      3. Gợi mở cách tiếp cận đối thoại văn hóa, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn của nhân loại trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án đã tổng kết một cách có hệ thống tình hình nghiên cứu về triết học của M. Heidegger ở trong và ngoài nước, chỉ rõ những kết quả đạt được và các vấn đề học thuật cần tiếp tục giải quyết.
  2. Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong triết học của M. Heidegger (gồm bản thể luận về tồn tại người, đạo đức học hiện sinh và triết học ngôn ngữ) thông qua việc phân tích các tác phẩm tiêu biểu - những lĩnh vực trước đây chưa được nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống tại Việt Nam.
  3. Luận án đã phân tích, làm rõ các "hạt nhân hợp lý" cũng như chỉ ra những hạn chế trong triết học Heidegger dưới lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, từ đó rút ra ý nghĩa hiện thời của học thuyết này đối với tư duy triết học và đời sống xã hội.

Ý nghĩa thực tiễn và kiến nghị

  • Ý nghĩa thực tiễn: Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy học phần Lịch sử triết học phương Tây hiện đại, Bản thể luận và Đạo đức học tại các trường đại học, viện nghiên cứu và các trường chính trị ở Việt Nam.
  • Kiến nghị, đề xuất: Tác giả đề xuất vận dụng những giá trị nhân văn và tinh thần đề cao trách nhiệm cá nhân trong triết học Heidegger vào công tác giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống văn hóa lành mạnh, khắc phục tình trạng suy thoái tư tưởng và đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu do tác giả xác định, luận án chưa thể bao quát toàn bộ di sản đồ sộ hơn 100 tập trong Toàn tập (Gesamtausgabe) của M. Heidegger, mà chỉ tập trung khảo sát các tác phẩm tiêu biểu mang tính bước ngoặt (Tồn tại và thời gian, Siêu hình học là gì?, Thư về nhân bản chủ nghĩa, Nhập môn siêu hình học, Trên đường đến với ngôn ngữ, Buông xả thanh thản).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Mở rộng nghiên cứu chuyên sâu về triết học công nghệ hậu kỳ của M. Heidegger và mối quan hệ giữa công nghệ với sự tồn sinh của con người trong thời đại số hóa.
    2. Nghiên cứu sâu hơn về triết học nghệ thuật của M. Heidegger qua tác phẩm Nguồn gốc của tác phẩm nghệ thuật (1935).
    3. Thực hiện các nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa tư tưởng buông xả, ngôn ngữ của Heidegger với các trường phái triết học phương Đông (như Thiền tông Phật giáo, Lão Trang).

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Triết học: Nguồn tư liệu hệ thống về lịch sử triết học phương Tây thế kỷ XX, hiện tượng luận, chủ nghĩa hiện sinh và chú giải học; đặc biệt là phần phân tích văn bản học các khái niệm Dasein, Sein, In-der-Welt-sein.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa, văn học và ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết về triết học ngôn ngữ và phương pháp chú giải học hiện tượng luận ở chương 3 để ứng dụng vào tiếp nhận văn học và phân tích diễn ngôn.
  • Người làm công tác tư tưởng, giáo dục và quản lý xã hội: Tham khảo các luận điểm phân tích về sự tha hóa, tiếng gọi lương tâm và trách nhiệm cá nhân (ở chương 3 và chương 4) phục vụ việc xây dựng nội dung giáo dục đạo đức học đường và đạo đức công vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia cuộc đời của Martin Heidegger thành mấy giai đoạn?

Luận án phân chia cuộc đời M. Heidegger thành 5 giai đoạn: (1) Giai đoạn thần học và hoàn thành tiến sĩ triết học (trước 1920); (2) Giai đoạn chịu ảnh hưởng của E. Husserl và giảng dạy tại Marburg - Freiburg, đỉnh cao là công bố tác phẩm Tồn tại và thời gian (1920 - 1933); (3) Giai đoạn chịu ảnh hưởng của Đức Quốc xã và làm Hiệu trưởng 10 tháng tại Đại học Freiburg (1933 - 1934); (4) Giai đoạn ân hận, rút lui chính trị và bị đình chỉ giảng dạy (1945 - 1949); (5) Giai đoạn cuối đời, giảng dạy trở lại tại Frankfurt và sống ẩn cư tại Rừng Đen (1950 - 1976).

2. Dasein trong bản thể luận của Heidegger có cấu trúc cơ bản như thế nào?

Theo phân tích của luận án, Dasein (tồn tại người) là hữu thể đặc thù có khả năng tự đặt câu hỏi về Tồn tại. Cấu trúc cốt lõi của Dasein là Tồn tại-trong-thế-giới (In-der-Welt-sein), được hợp thành bởi ba yếu tố biện chứng: tính bị vứt bỏ (Geworfenheit - bị ném vào thế giới mà không do mình lựa chọn), tính dự phóng (Entwurf - khả năng tự kiến tạo và lựa chọn tương lai) và tính thời gian (Zeitlichkeit - chân trời ý nghĩa tối hậu của hiện sinh).

3. Heidegger phân biệt "tồn tại đích thực" và "tồn tại không đích thực" ra sao?

  • Tồn tại không đích thực: Trạng thái Dasein bị tha hóa, đánh mất cá tính, hòa tan vào cái đại chúng/cái "người ta" (Das Man), sống buông xuôi theo dư luận, chuyện phiếm và trốn tránh trách nhiệm.
  • Tồn tại đích thực: Trạng thái Dasein thức tỉnh qua tâm trạng lo âu (Angst), lắng nghe tiếng gọi của lương tâm, dũng cảm nhìn thẳng vào Tồn tại hướng tới cái chết (Sein-zum-Tode), từ đó tự do lựa chọn và chịu trách nhiệm trọn vẹn về cuộc đời mình.

4. Luận điểm "Ngôn ngữ là ngôi nhà của Tồn tại" được luận án lý giải như thế nào?

Heidegger bác bỏ quan niệm coi ngôn ngữ thuần túy là công cụ ký hiệu hay phương tiện truyền đạt thông tin của con người. Đối với ông, ngôn ngữ có tính bản thể luận: ngôn ngữ là nơi chốn để Tồn tại tự hiển lộ, khai phóng chân lý của chính nó. Con người không phải là chủ nhân thống trị ngôn ngữ mà là người lắng nghe, cư ngụ trong ngôn ngữ và để cho Tồn tại cất lên tiếng nói đích thực thông qua tư tưởng trầm tư và thi ca.

5. Đạo đức học của Heidegger có ý nghĩa gì đối với việc giáo dục đạo đức ở Việt Nam theo luận án?

Luận án chỉ ra rằng đạo đức học hiện sinh của Heidegger cung cấp góc nhìn phê phán sâu sắc đối với lối sống thực dụng, chạy theo vật chất và thói giả dối, vô cảm trong xã hội hiện đại. Luận án khẳng định việc tiếp thu có chọn lọc các hạt nhân hợp lý về ý thức tự chịu trách nhiệm, sống trung thực với lương tâm và tôn trọng nhân cách cá nhân trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin sẽ góp phần hoàn thiện công tác giáo dục đạo đức, ngăn chặn sự suy thoái đạo đức và lối sống của cán bộ, đảng viên tại Việt Nam hiện nay.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Trường là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về triết học của Martin Heidegger trong khuôn khổ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử tại Việt Nam. Bằng phương pháp mác-xít kết hợp văn bản học, luận án đã làm sáng tỏ các điều kiện lịch sử, tiền đề tư tưởng và ba trụ cột nội dung cơ bản gồm bản thể luận Dasein, đạo đức học hiện sinh và triết học ngôn ngữ của Heidegger. Công trình đã phân định rõ ràng giữa các hạt nhân hợp lý mang giá trị nhân văn với những hạn chế duy tâm lịch sử của triết gia người Đức, qua đó khẳng định ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn đối với công tác nghiên cứu giảng dạy triết học cũng như sự nghiệp giáo dục đạo đức, phát triển con người ở Việt Nam thời kỳ đổi mới.