Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Sinh thái và văn học sinh thái 1. Sinh thái, ý thức sinh thái Trước bối cảnh khủng hoảng trầm trọng của môi trường toàn cầu, khái niệm sinh thái (ecological) của lĩnh vực khoa học tự nhiên đã trở thành tiêu điểm bình luận của giới học thuật. Từ ecological trong tiếng Anh (nghĩa tiếng Việt là sinh thái) bắt nguồn từ từ oikos (nơi ở) trong tiếng Hy Lạp.
Ban đầu người ta hiểu “sinh thái” từ góc độ sinh vật học. Ở lĩnh vực khoa học tự nhiên, sinh thái chỉ trạng thái sinh tồn của tất cả sinh vật cho đến mối quan hệ mật thiết giữa chúng hoặc giữa chúng và môi trường. Thuật ngữ sinh thái học (ecology) là sự kết hợp giữa hai danh từ có nguồn gốc Hy Lạp là oikos (nơi ở) và logos (môn học/ nghiên cứu (về)). Như vậy, về nghĩa đen, sinh thái học là khoa học nghiên cứu về các sinh vật ở “nhà” / nơi ở của chúng.
Nói theo nghĩa rộng, sinh thái học là khoa học nghiên cứu về tất cả các quan hệ giữa sinh vật và môi trường và các điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của chúng. Thuở xưa, Aristote và các triết gia Hy Lạp cổ đã có những dẫn liệu bao hàm ý nghĩa sinh thái, mặc dù ra đời từ rất sớm nhưng lúc đó sinh thái học (ecology) chưa thật sự trở thành một ngành khoa học độc lập. Thuật ngữ “sinh thái học” (ecology) (oekologie) chỉ thực sự ra đời vào năm 1866 do bác sĩ, nhà sinh vật học, nhà giải phẫu học so sánh người Đức Ernst Haecker (1834 - 1919) đề xuất trong công trình Hình thái học sinh vật đại cương (Gererelle Morphologie der Oragasmen). Trong chương “Sinh thái và phân bố học” (Oecologie und Chorologie), Ernst Haecker định nghĩa sinh thái học là sự nghiên cứu điều kiện hữu cơ và điều kiện vô cơ mà các sinh mệnh sống dựa e 12 vào đó.
Nó được hiểu như một “môn học về tương quan giữa thế giới bên ngoài và các sinh vật”. Nhưng vào nửa sau thế kỉ XX, danh từ này lại được hiểu là việc bảo vệ thiên nhiên, môi trường trong quá trình phát triển kinh tế. Đến năm 1900, sinh thái học trở thành môn khoa học độc lập và thuật ngữ Oecologie hoặc Ecology trở nên quen thuộc với mọi người. Như vậy, sự phát triển kinh tế đã kéo theo những thảm họa của môi trường toàn cầu, với độ nóng của vấn đề sinh thái, phạm vi của từ sinh thái ngày càng mở rộng, ý nghĩa của thuật ngữ sinh thái học cũng ngày càng rộng hơn.
Sinh thái học không chỉ đơn thuần, không còn giới hạn là phân môn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên mà nó đã mở rộng ra các phân môn thuộc lĩnh vực khoa học xã hội. Chúng ta có thể kiểm chứng điều này bằng sự ra đời của các học thuyết nghiên cứu hiện đại như: Luân lý học sinh thái (Ecological ethics), Chính trị học sinh thái (Ecological politics), Mỹ học sinh thái (Ecoaesthetics), Văn học sinh thái (Ecoliterature), Tâm lý học sinh thái (Ecological psychology), Xã hội học sinh thái (Ecosociology), Nghệ thuật sinh thái (Ecological art), Phê bình sinh thái (Ecocriticism), Chủ nghĩa nhân văn sinh thái (Ecological humanism), Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (Ecofeminism),… Từ sinh thái và sinh thái học, các học giả đã triển khai thành một quan niệm giá trị mới, phản ánh sự phát triển hài hòa giữa con người với tự nhiên. Đó là Ý thức sinh thái (Ecological consciousness). Ý thức sinh thái là sự phản tư triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, Phạm Thị Ngọc Trầm đã chỉ ra đó là “sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên (các yếu tố của tự nhiên và quy luật hoạt động của chúng), về vị trí, vai trò của con người trong việc điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ đó hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của xã hội và sự đồng tiến hóa giữa xã hội và tự nhiên” (Tạp chí Triết học, số 3, 2002).
Trong Rừng khô, suối cạn, biển độc … và văn chương, Nguyễn Thị e 13 Tịnh Thy đã thể hiện ý thức sinh thái nhấn mạnh con người và tất cả các sinh mệnh khác đều là những thành viên bình đẳng trong hệ thống đại tự nhiên, nhân loại không phải là chủ nhân của tự nhiên, tự nhiên cũng không phải là nô lệ hoặc đối tượng tiêu dùng của nhân loại. Quan hệ giữa con người và tự nhiên là quan hệ phát triển hài hòa, cộng sinh, cùng có lợi. Tự nhiên là một tổ hợp chung do nhiều cá thể nhỏ tạo thành hệ thống, các cá thể dựa vào nhau để tồn tại, liên hệ mật thiết với nhau. Nếu phá vỡ một bộ phận trong đó tất nhiên sẽ dẫn đến sự mất hài hòa trong quá trình vận động của chỉnh thể hệ thống sinh thái.
Từ đó, sẽ nảy sinh nhiều tổn hại cho đời sống và sản xuất của con người. Vì vậy, con người nên lấy sự phát triển toàn diện, bền vững của xã hội làm trọng, tự giác giới hạn, khống chế hành động của bản thân. Trước thực trạng khủng hoảng sinh thái như hiện nay, mỗi người chúng ta cần nâng cao ý thức sinh thái. Các nhà khoa học nhân văn trong đó có cả những nhà nghiên cứu văn học đã thể hiện sự quan tâm đến các vấn đề sinh thái biểu hiện qua việc nhìn nhận lại ý thức sinh thái trong tác phẩm văn học, nghiên cứu sự phát triển của việc sáng tác lẫn nghiên cứu văn học dẫn đến sự ra đời của văn học sinh thái và phê bình sinh thái.
Văn học sinh thái Xuất phát từ bối cảnh môi trường ngày càng bị xâm hại nghiêm trọng cùng với đó là những hệ lụy như biến đổi khí hậu, nguồn nước cạn kiệt, không khí ô nhiễm, thiên tai tàn khốc… Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, văn chương thế giới đã có hàng loạt tác phẩm đề cập đến nguy cơ sinh thái, dòng văn học sinh thái (ecoliterature) đã hình thành và lan tỏa khắp nơi. Văn học sinh thái (Ecoliterature) còn có nhiều tên gọi khác như: Văn học sinh thái học (Ecological literature), Văn học môi trường ( Environmental literature), Văn học tự nhiên (Natural literature), Văn học xanh (Green literature), Lối viết/Văn bản tự nhiên (Natural Writing)… Ở lĩnh vực văn học, e 14 phần lớn các học giả đã chọn dùng thuật ngữ Văn học sinh thái (Ecoliterature). Vậy một tác phẩm như thế nào mới được xem là một tác phẩm văn học sinh thái? Chúng ta biết rằng mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên đã được đề cập trong văn chương bao đời nay. Từ thời cổ đại đến thời hiện đại, thiên nhiên trở thành một trong những cảm hứng sáng tác thơ ca.
Thiên nhiên trở thành người bạn lớn, người mẹ vĩ đại luôn tương giao, tương cảm với con người, thiên nhiên là nơi nương tựa, lánh ẩn, an trú yên bình để trở về. Thiên nhiên, môi trường tồn tại trong đời sống văn học một cách lâu bền như thế nhưng không phải tác phẩm văn chương nào viết về thiên nhiên cũng đều là tác phẩm văn học sinh thái. Người đầu tiên giới thiệu về văn học sinh thái, chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái, tư tưởng triết học sinh thái… ở Trung Quốc là Vương Nặc – giáo sư văn học Đại học Hạ Môn. Trong công trình Văn học sinh thái Âu Mỹ, Vương Nặc cho rằng: “Văn học sinh thái không đơn thuần là văn học miêu tả tự nhiên thuần túy, khác nhau căn bản của văn học sinh thái và văn học miêu tả tự nhiên truyền thống là nó tìm hiểu và trình bày mối quan hệ giữa con người với tự nhiên cũng như địa vị của con người trong thế giới tự nhiên, ảnh hưởng của con người đối với tự nhiên và ảnh hưởng của tự nhiên đối với con người, mối liên hệ giữa vạn vật trong tự nhiên với con người… Một số tác phẩm thậm chí có thể hoàn toàn không miêu tả cảnh vật tự nhiên, thể hiện tình yêu tự nhiên của nhà văn nhưng chỉ cần thể hiện thái độ không đồng tình với các hành vi phá hoại sinh thái, phơi bày căn nguyên văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái, là có thể được xem là văn học sinh thái”.
Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm của người đi trước, Vương Nặc đã đưa ra định nghĩa về văn học sinh thái được giới học thuật thừa nhận như sau: “Văn học sinh thái là loại văn học lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ sở tư tưởng, lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất để e 15 khảo sát và biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và truy tìm nguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh thái”. Định nghĩa này xuất phát từ chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái, vừa tránh khỏi sự trói buộc của “lối viết tự nhiên”, vừa phủ nhận tư tưởng chủ nghĩa nhân loại trung tâm của văn học môi trường; đồng thời cũng thoát khỏi hạn chế của văn học tự nhiên và văn học ô nhiễm. Nó phản ánh được vấn đề mấu chốt của văn học sinh thái là sinh thái [45, tr. Như vậy, một tác phẩm văn học sinh thái phải có đầy đủ tư tưởng sinh thái và góc nhìn sinh thái chứ không đơn thuần là miêu tả tự nhiên hoặc hệ sinh thái.
Văn học sinh thái còn thể hiện trách nhiệm sinh thái, lý tưởng sinh thái, phê phán mặt trái của văn minh, phản ánh nguy cơ sinh thái, nguy cơ tinh thần, nguy cơ tư tưởng và nguồn gốc xã hội của các nguy cơ đó [45, tr. Trong Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương, Nguyễn Thị Tịnh Thy đã nêu những đặc trưng cần có của một tác phẩm văn học sinh thái như sau: Một là, Phê phán chủ nghĩa nhân loại trung tâm và sự cực đoan hóa chủ nghĩa sinh thái trung tâm. Chủ nghĩa nhân loại trung tâm chỉ quan tâm đến con người và môi trường sống của họ, xem tự nhiên là kho tài nguyên vô tận của con người, nhấn mạnh vai trò chủ thể và quyền năng vô hạn của con người. Văn học sinh thái đề cao chủ nghĩa sinh thái trung tâm, khẳng định tính chính thể của toàn bộ sinh vật, nhấn mạnh sự bình đẳng của vạn vật và quan hệ bình đẳng giữa con người và tự nhiên.
Tuy nhiên, khi sử dụng quan điểm sinh thái trung tâm, nhà văn không nên quá nhấn mạnh giá trị, địa vị của tự nhiên mà xem nhẹ năng lực địa vị và tính chủ thể của con người. Một tác phẩm văn học có tư tưởng sinh thái thì phải tránh cực đoan, đảm bảo sự cân bằng, bình đẳng giữa con người và tự nhiên.