đặt vấn đề và hướng tới những mục tiêu có tính "tầm cỡ". M ứ t mặt thực sự thị trường M ỹ rất rứng lớn, sức mua dồi dào, mặt khác họ muốn tỏ thế mạnh khiến nhiều đối tác dễ bị choáng ngợp. thậm chí m ê hoặc trước những lợi ích to lớn của thương vụ m à dễ dàng ký vào bản hợp đồng. Thứ hai: đi kèm với số lượng lớn là yêu cầu khắt khe về chất lượng.
Người tiêu dùng M ỹ không khó tính nhưng hàng rào pháp lý vô hình m à Nhà nước đặt ra để bảo vệ quyền lợi cho họ lại khá chặt chẽ. Chất lượng không thể hiện bằng lời hứa suông m à phải bàng những giấy tờ xác nhận của các tổ chức quản lý chất lượng có tiếng, nhưng ngay cả khi đã được chứng nhận, hàng hoa nhập khấu vào M ỹ vãn còn phải chịu sự kiểm tra của nhiều úy ban chuyên ngành khác. Nếu không đáp ứng được yêu cầu chất lượng thì hàng hoa sẽ bị đánh giá thấp ngay trên bàn đàm phán. Chiến thuật và thổi quen trong đàm phán: Thương lượng nhanh chóng thì dễ bị sơ hở.
Người Mỹ quá sành sỏi để nhận ra điều đó. Vì vậy bửu bối của thương nhân Mỹ thường là bản hợp đồng soạn sẵn trước, trong đó họ đã khéo léo đưa vào những yếu tố ràng buức chặt chẽ và cả những chi tiết có tính chất thủ đoạn pháp lý để khi cần có thể lôi đối tác ra toa. Do đó, muốn tránh rơi vào phiền toái, các nhà thương lượng cần tỉnh táo đọc kỹ các điều khoản lập sẵn đó, yêu cầu chỉnh sửa nhũng chỗ bất ổn đến khi hài lòng mới đặt bút ký. Còn khi đàm phán theo kiểu trực tiếp thì nhìn chung người Mỹ thường có tâm lý "xào đâu xâu đấy".
Đ ố i tác Châu Á hay để mọi chuyện đến hồi cuối mới quyết định cả thể, nhưng trái lại, thương nhân M ỹ thường chia nhỏ vấn đề ra rồi tiến hành thương lượng từng phần mứt, phần nào chắc luôn phần đó, ví dụ thoa thuận xong số lượng rồi mới xem xét tới giá cả. Lời khuyên cho doanh nghiệp Việt Nam là hãy bắt đầu giao dịch làm ăn với bạn hàng nhỏ rồi tiến tới đặt quan hệ thương mai với đối tác lớn. Thương lượng nhiềuvà đúc rút kinh nghiệm thì mới hiểu đầy đủ tâm lý bạn hàng và luật chơi trên thị trường Mỹ. Đôi lời giới thiệu trên đày chỉ là sự gạn lọc mở màn m à thôi.
12 li/ Luật pháp về kinh doanh của Mỹ: Ì) Các cơ quan quản lý và các tổ chức hỗ trợ cho chính sách kinh tê của Mỹ: a) Các cơ quan quẩn lý: [7] Quốc hối (Congress): Quốc hội gồm: Thượng viện và Hạ viện, mỗi viện lại có nhiều Uy ban và Tiểu ban phụ trách các vấn đề khác nhau. Là một cơ quan lập pháp. Quốc hội tham gia đầy đủ vào quá trình khởi xướng - thữo luận - quyết định - thông qua và ban hành luật. Theo Hiến pháp Mỹ, Quốc hội có quyền quữn lý Ngoại thương và thu thuế.
Tuy nhiên công việc này rất phức tạp, ữnh hưởng đến lợi ích cữ trong và ngoài nước nên Quốc hội thông qua luật quy định trách nhiệm cho nhiều cơ quan hành pháp khác nhau. Những cơ quan này sẽ phối kết hợp với các ủ y ban trong Quốc hội. Quốc hội lập và giám sát các luật thương mại. Thực hiện vai trò này.
Quốc hội được quyền phê chuẩn một Hiệp định thương mại trước khi nó được Tổng thống ký quyết định phê duyệt cuối cùng, đồng thời yêu cầu các cơ quan hành pháp phữi tham khữo ý kiến Quốc hội về các dự luật triển khai. Hàng năm, Văn phòng Đ ạ i diện thương mại Mỹ và úy ban thương mại quốc tế phữi trình báo cáo để Quốc hội nắm được những thông tin liên quan đến hoạt động thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng. Cuối cùng, Quốc hội thể hiện quyền quữn lý hoạt động thương mại của mình thông qua việc phân bổ ngân sách cho các cơ quan. ủ y ban chính sách thương mai và các cơ quan thành viên: Ú y ban chính sách thương mại (TPC: Trade Policy Commiltee) có chức năng chính là hỗ trợ và thuyết trình lên tổng thống các vấn đề lớn liên quan đến việc triển khai và phát triển các chính sách thương mại.
TPC do Đ ạ i diện thương mại Mỹ quữn lý với hai nhóm điều phối trực thuộc: N h ó m giám sát chính sách thương mại (gồm các quan chức cấp cao của các cơ quan thành viên của TPC) và N h ó m điều hành chính sách thương mại (gồm những quan chức ở cấp Thứ trưởng và Phó đại diện thương mại Mỹ). Các vấn đề không đạt được sự nhất trí sẽ thực hiện qua 13 cơ chế thương mại liên ngành ba cấp: N h ó m điều hành chính sách --> N h ó m giám sát thương mại - > ủ y ban kinh tế quốc gia. TPC có thành viên là các Bộ và Cơ quan Bảo vệ môi trường, Văn phòng quản lý và ngân sách, ủ y ban cố vấn kinh tế, Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế. úy ban kinh tế quốc gia, ủ y ban an ninh quốc gia.
ủ y ban thương mại quốc tế là một thành viên không bầu cử của N h ó m điều hành chính sách thương mại và là quan sát viên trong các cuộc họp của N h ó m giám sát thương mại. Đai diên thương mai Mỹ (USTR: United States Trade Representative): Đ ạ i diện thương mại Mỹ là một vị trí cấp chính phủ, mang hàm đại sứ. Đ ạ i diện thương mại chịu trách nhiệm chung về phát triển và điều phôi việc triển khai chính sách thương mại ỉ Mỹ, là cố vấn và phát ngôn chính của Tổng thông về các vấn đề thương mại. Đ ạ i diện phải tham dự các cuộc họp thượng đỉnh về kinh tê.
các hội nghị quốc tế m à trong đó thương mại quốc tế là một chủ đề chính, đồng thời lãnh đạo tất cả các cuộc đàm phán về thương mại với các nước. Văn phòng Đ ạ i diện thương mại Mỹ có hai phó Đ ạ i diện Thương mại, một làm việc tại Washington D.c và một ỉ Geneva, Thụy Sỹ. Bô Thương mai Mỹ (Department o i Commerce): Bộ Thương mại chịu trách nhiệm về thương mại thông qua: Cơ quan quản lý thương mại quốctóđiều hành chung việc phát triển xuất khẩu, quản lý luật chống phá giá và thuế bù giá, kiểm soát xuất khẩu, hỗ trợ hoa giải thương mại, và Cục quản lý xuất khẩu kiểm soát xuất khẩu hàng hoa và công nghệ vì an ninh quốc gia, vì chính sách đôi ngoại thông qua việc cấp giấy phép xuất khấu. Cúc Hải Quan M ỹ (US Customs Service): Cục Hải Quan M ỹ chịu trách nhiệm thu thuế nhập khẩu và thi hành hơn 400 luật và các quy định liên quan đến thương mại quốc tế.
Nhiệm vụ cụ thể bao gồm: giải quyết thủ tục cho người, tàu, hàng hoa ra vào Mỹ, ngăn chặn và tịch thu hàng hoa xuất nhập bất hợp pháp, quản lý hạn ngạch và các hạn chế nhập khẩu khác, hỗ trợ thực thi các luật của M ỹ về sáng chế và thương hiệu. ủ y ban thương mai quốc tế M ỹ (US Intemational Trade Commission: USITC): Tiền thân của ITC là ủ y ban thuế quan M ỹ thành lập năm 1916 bỉi Quốc 14 hội. Luật thương mại năm 1974 chính thức đổi tên nó thành ú y ban thương mại quốc tế. ITC tập trung và phân tích các thông tin thương mại, sau đó báo cáo lên Quốc hội và Tổng thống nhằm giúp đề ra chính sách thương mại.
Những hoạt động chính của ITC bao gồm: xác định mức độ thiệt hại vật chất của các ngành kinh tế M ỹ do hàng hoa nhập khẩu vào M ỹ được trợ giá hoảc bán phá giá; đề xuất với Tổng thống các biện pháp hỗ trợ ngành bị ảnh hưởng nảng nề bởi hàng hoa nhập khẩu như tăng thuế, hạn ngạch; ngăn chản các hành vi bất hợp pháp trong nhập khẩu hàng hoa (xâm phạm sáng chế, nhãn hiệu hay bản quyền); nghiên cứu, thu thập thông tin thống kê về thuế quan, số lượng hàng hoa xuất nhập và sản xuất nội địa, kiểm soát hạn mức nhập khẩu. ITC có 6 uy viên do Tổng thống bổ nhiệm và Quốc hội phê chuẩn với nhiệm kỳ 9 năm. Chú tịch và Phó chủ tịch được Tổng thống chọn ra từ các uy viên với nhiệm kỳ 2 năm. Nhân viên của ITC bao gồm các nhà phân tích thương mại quốc tế, các điều tra viên và chuyên gia trong từng nghành cụ thể, các chưởng lý và nhân viên kỹ thuật [28].
ủ y ban cố vấn khu vực tư nhân: Do Quốc hội lập ra vào năm 1974, đến nay, ú y ban cố vấn khu vực tư nhân đã trở thành một hệ thống 3 cấp gồm 33 úy ban cổ vấn với khoảng 1000 cố vấn, đại diện cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế cụ thể, có nhiệm vụ chính là xem xét ảnh hưởng của các chính sách và mục tiêu đàm phán thương mại đến từng ngành, đảm bảo phản ánh thoa đáng các lợi ích cùa Mỹ. b) Các tổ chức hỗ trợ: [3] Ngân hàng xuất nháp khẩu (EXIMBANK: Export - Import Bank) Đây là một tổ chức độc lập của Chính phú Mỹ, thành lập năm 1932 theo lệnh của Tổng thống và hoạt động theo Luật ngân hàng xuất nhập khẩu (the Export- Import Bank Act). Mục tiêu m à luật định cho E X I M B A N K là "tài trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hoa, dịch vụ giữa M ỹ và các lãnh thổ của M ỹ với nước ngoài". E X I M B A N K do một ban giám đốc điều hành gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch và 3 Giám đốc chuyên trách do Tổng thống đề cử và Thượng viện chuẩn y.
Bộ 15 Thương mại và Đ ạ i diện thương mại M ỹ là hai thành viên theo luật định. Các giám đốc có nhiệm kỳ cố định 4 năm nhưng bố trí so le. E X I M B A N K là một bộ phận của ngân sách liên bang. Hàng năm, Quốc hội M ỹ quy định mức cho phép E X I M B A N K được quyền cho vay, bảo lãnh.
bảo hiếm và chi phí quản lý hành chính, tiếp tân. E X I M B A N K không được sử dụng quỹ do nguồn thu thuế trong dân m à phải vay ngân khô và ngân hàng tài trợ liên bansỉ theo tể lệ lãi thị trường cho việc vay nợ của chính phủ (có quy định mức vay) cùng với khoản phí thu vào và khoản khách trả nợ để kinh doanh.