Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội hiện đại, du lịch đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của con người, đồng thời là ngành kinh tế dịch vụ quan trọng tại nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, du lịch văn hóa được xác định là một trong những trụ cột nền tảng, khai thác hệ thống di tích lịch sử, đình, chùa, đền, tháp gắn liền với các lễ hội, nghi thức tín ngưỡng và phong tục tập quán truyền thống. Tỉnh Khánh Hòa, bên cạnh thế mạnh du lịch biển đảo, sở hữu nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, tiêu biểu là quần thể di tích Tháp Bà Ponagar và Lễ hội Tháp Bà tại thành phố Nha Trang. Cả hai thực thể này đều đã được xếp hạng là di sản văn hóa cấp quốc gia, mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc đối với đồng bào Chăm ở Nam Trung Bộ cũng như cư dân bản địa người Việt.

Tuy nhiên, thực tiễn khai thác du lịch tại di tích Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà thời gian qua cho thấy tiềm năng to lớn này vẫn chưa được phát huy tương xứng; các tài liệu nghiên cứu mang tính hệ thống nhằm định hướng khai thác du lịch bền vững còn thiếu vắng và phần lớn mới dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin sơ lược. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Nguyễn Thu Linh (sinh viên lớp VH1701, Khoa Du lịch, Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng, dưới sự hướng dẫn của ThS. Phạm Thị Hoàng Điệp) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Văn hóa Du lịch với đề tài: "Tìm hiểu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác phát triển du lịch đối với Tháp Bà – Lễ hội Tháp Bà ở Nha Trang, Khánh Hòa".

Theo đề cương và nhiệm vụ tốt nghiệp được giao, đề tài tập trung giải quyết 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu nguồn gốc, nội dung của tín ngưỡng thờ Bà Mẹ Xứ Sở (Po Inư Nagar) của người Chăm.
  2. Giới thiệu tổng quan về quần thể di tích Tháp Bà Nha Trang từ lịch sử hình thành, giá trị kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc đến giá trị tâm linh.
  3. Trình bày lịch sử hình thành và diễn trình phát triển của Lễ hội Tháp Bà.
  4. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động khai thác du lịch tại Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà trong giai đoạn 2013 – 2018, chỉ rõ các mặt tích cực và hạn chế.
  5. Đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả khai thác di tích và lễ hội phục vụ phát triển du lịch bền vững tại Nha Trang.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là di tích lịch sử - văn hóa Tháp Bà Ponagar và di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội Tháp Bà. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung tại địa bàn phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Phạm vi thời gian khảo sát thực trạng khai thác du lịch được xác định trong khung niên độ từ năm 2013 đến năm 2018. Đơn vị phối hợp cung cấp số liệu và địa bàn thực tập tốt nghiệp của tác giả là Công ty TNHH Du lịch vận tải Bảo An.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các nguyên lý cơ bản của du lịch học, kết hợp giữa lý thuyết về tài nguyên du lịch nhân văn với thực tiễn bảo tồn và khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch. Cơ sở pháp lý và quy chuẩn định hướng được tác giả viện dẫn bao gồm:

  • Quy chế bảo vệ môi trường trong ngành du lịch do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành tháng 7 năm 2003.
  • Luật Du lịch Việt Nam, trọng tâm là Điều 15 và Điều 16 thuộc Chương II quy định về việc bảo vệ, tôn tạo và khai thác "Tài nguyên Du lịch".

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp hai phương pháp chính:

  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Thu thập dữ liệu từ các công trình nghiên cứu lịch sử, dân tộc học, văn hóa học, các báo cáo chuyên ngành du lịch của địa phương, tài liệu lưu trữ của Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Khánh Hòa, cùng các bài viết, chuyên khảo đã công bố. Dữ liệu sau đó được đối chiếu, phân loại và xử lý để rút ra những luận cứ có giá trị khoa học.
  • Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp: Sử dụng các bảng biểu thống kê dân cư, phân tích số liệu lượng khách và doanh thu du lịch, so sánh diễn biến lượng khách qua các giai đoạn nhằm đánh giá tương quan giữa bảo tồn văn hóa và khai thác thương mại, từ đó thiết lập căn cứ khoa học cho các dự báo và giải pháp ở chương cuối.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm tài liệu điều tra nhân khẩu học (số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009), số liệu thống kê lượt khách du lịch của tỉnh Khánh Hòa và Công ty TNHH Du lịch vận tải Bảo An, các công trình học thuật tiêu biểu của các tác giả Ngô Văn Doanh, Phan Xuân Biên, Sakaya, Inrasara, Đỗ Long, Quách Tấn, Nguyễn Văn Kự, Văn Đình Hy, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tư liệu từ các trang thông tin điện tử chuyên ngành.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Giới thiệu tổng quan về tín ngưỡng thờ Bà Mẹ Xứ Sở và Tháp Bà - Nha Trang

Chương 1 xây dựng bức tranh toàn cảnh về bối cảnh lịch sử, tộc người và đời sống văn hóa của cư dân Chăm Pa, tạo nền tảng cho việc nhận diện giá trị của di tích và tín ngưỡng.

Về tiến trình lịch sử, tác giả tái hiện quá trình hình thành và biến thiên của Vương quốc Chăm Pa từ năm 192 đến năm 1832 qua các mốc thời kỳ:

  • Thời kỳ tiền sử và văn hóa Sa Huỳnh: Cư dân Chăm Pa thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian/Malayo-Polynesian) di cư từ Borneo đến duyên hải miền Trung vào thế kỷ I – II trước Công nguyên. Năm 1909, việc phát hiện khoảng 200 mộ chum tại Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) đã khẳng định dấu vết kim khí và đồ đồng thau đặc sắc có niên đại tương đương văn hóa Đông Sơn.
  • Thời kỳ Lâm Ấp: Khởi đầu từ năm 192 sau cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Hán, định đô tại Simhapura. Đến thế kỷ IV, quá trình Ấn Độ hóa diễn ra mạnh mẽ; vua Bhadravarman xây dựng đền Bhadresvara thờ thần Siva tại Mỹ Sơn. Vua Sambhuvarman khôi phục đền vào năm 529 sau hỏa hoạn. Năm 605, tướng Lưu Phương nhà Tùy từng xâm lược Lâm Ấp. Năm 756 đánh dấu sự kết thúc của triều đại Lâm Ấp trong thư tịch cổ.
  • Thời kỳ Hoàn Vương quốc (757 – 859): Trung tâm chính trị dịch chuyển về phía Nam tại Virapura (gần Phan Rang) thuộc vùng Panduranga và Kauthara (Khánh Hòa). Năm 774, giặc Java tràn vào phá hủy Kauthara và đốt đền Po Inư Nagar; vua Satyavarman sau đó phản công giành thắng lợi và cho dựng bia kỷ niệm vào năm 781. Đến thế kỷ IX – X, vương triều Indrapura hưng thịnh, du nhập Phật giáo Đại thừa trước khi quay trở lại với Siva giáo vào năm 925.
  • Thời kỳ Panduranga và sự sáp nhập (1471 – 1832): Sau thất bại năm 1471 trước quân Đại Việt, lãnh thổ Chăm Pa thu hẹp dần về phía Nam đèo Cả. Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng lập phủ Phú Yên; năm 1653, vùng Kauthara chính thức nhập vào lãnh thổ Đàng Trong; năm 1693, tướng Nguyễn Hữu Cảnh sáp nhập Panduranga, đặt thành Thuận Thành Trấn. Đến năm 1832, vua Minh Mạng xóa bỏ chế độ tự trị, lập phủ Ninh Thuận, chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại của Vương quốc Chăm Pa.

Về nhân khẩu học, tác giả trích dẫn số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 để phản ánh sự phân bố của 161.729 người Chăm trên phạm vi 56/63 tỉnh thành:

Nhóm cộng đồng Chăm Địa bàn cư trú chủ yếu Quy mô dân số (người) Tỷ lệ / Đặc điểm tôn giáo - tín ngưỡng
Đông Chăm (Ninh Thuận - Bình Thuận) Ninh Thuận (67.274 người), Bình Thuận (34.690 người) ~ 98.000 Chiếm 67,60% tổng số người Chăm; gồm Chăm Ahier (Bàlamôn) và Chăm Awal (Bàni)
Chăm H'roi Miền núi Phú Yên (19.945 người), Bình Định ~ 20.000 Tín ngưỡng dân gian chịu ảnh hưởng của đạo Bàlamôn
Tây Chăm (Chăm Nam Bộ) An Giang (14.336 người), TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh ~ 26.000 Gốc di cư từ Campuchia; tín ngưỡng Islam Sunni; một bộ phận mang yếu tố Chăm Chà-và (Jawa Kur)

Về kinh tế, người Chăm duy trì nền nông nghiệp lúa nước giỏi thủy lợi, kết hợp làm ruộng khô trên sườn đồi, chăn nuôi đại gia súc; ngư nghiệp ven biển phát triển nghề làm muối và sản xuất nước mắm từ tôm, cá, mực; thủ công nghiệp nổi tiếng với nghề dệt lụa tơ tằm, làm gốm nặn tay nung lộ thiên, nghề luyện kim, đúc đồng và kim hoàn. Về mặt tín ngưỡng, tác giả phân tích hình tượng Bà Mẹ Xứ Sở Po Inư Nagar (Yan Po Inư Nagar) – vị nữ thần sáng tạo muôn loài, dạy dân cấy cày, dệt vải – là biểu tượng trung tâm của đời sống tâm linh, gắn liền với quần thể tháp gạch cổ kính tại cửa sông Cái, Nha Trang.

Chương 2. Thực trạng khai thác du lịch ở Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà - Nha Trang

Chương này đi sâu vào việc khảo sát các hoạt động tổ chức nghi lễ và năng lực khai thác du khách trong giai đoạn 2013 – 2018:

  • Diễn trình Lễ hội Tháp Bà: Lễ hội diễn ra từ ngày 20 đến ngày 23 tháng 3 âm lịch hằng năm, bao gồm chuỗi nghi thức: lễ thay xiêm y (tắm tượng nữ thần), lễ dâng hương, lễ tế cổ truyền, lễ cầu quốc thái dân an, kết hợp các hoạt động biểu diễn nghệ thuật như múa Bóng, múa Apsara, hòa tấu trống Paranưng, kèn Saranai và biểu diễn tuồng cổ. Lễ hội đóng vai trò cố kết cộng đồng người Chăm các tỉnh Nam Trung Bộ với người Việt tại Khánh Hòa, thể hiện sự dung hợp văn hóa giữa nữ thần Po Inư Nagar của người Chăm và Thiên Y A Na Thánh Mẫu của người Việt.
  • Thực trạng khai thác mùa lễ hội và ngày thường: Trong những năm khảo sát, mùa lễ hội thu hút hơn 100 đoàn hành hương đăng ký chính thức và hàng trăm nghìn lượt khách thập phương, tín đồ về chiêm bái. Ngày thường, di tích đón lượng khách tham quan cố định từ các tour du lịch trong và ngoài nước.
  • Những mặt bất cập, hạn chế:
    • Tổ chức nghi lễ: Việc điều hành lễ hội chủ yếu do các cơ quan văn hóa và cán bộ người Kinh đảm nhận, thiếu vắng sự tham gia có chuyên môn sâu của các chức sắc người Chăm, dẫn đến tình trạng sai lệch một số nghi thức cổ truyền hoặc tạo cảm giác lai căng, pha tạp.
    • Môi trường và không gian kiến trúc: Tình trạng ô nhiễm môi trường do khói hương dày đặc, xả rác tại các khu vực ven biển chân tháp; hạ tầng cảnh quan xung quanh bị chia cắt, chưa có quy hoạch đồng bộ.
    • Nội dung thuyết minh: Các tài liệu và bài thuyết minh cho du khách còn nặng tính huyền thoại hóa ly kỳ, thiên về tán tụng chung chung, thiếu hụt các thông tin khoa học xác thực về niên đại địa chất, lịch sử kiến trúc và khảo cổ học.

Chương 3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà phục vụ phát triển du lịch Nha Trang

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện cho cả di tích và lễ hội:

  • Quy hoạch không gian kiến trúc và bảo tồn: Khẩn trương tiến hành trùng tu, bảo quản các cấu kiện gạch nung và bia ký có nguy cơ xuống cấp; kiểm tra kỹ thuật định kỳ; khoanh vùng phân luồng khách nhằm giảm tải cho khu vực đền tháp trung tâm.
  • Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ bổ trợ: Xây dựng các gian hàng trưng bày nghề truyền thống Chăm ngay tại khuôn viên ngoài di tích; đưa vào các mặt hàng lưu niệm đặc thù như gốm mỹ nghệ mô phỏng kiến trúc tháp, dệt thổ cẩm, tranh cát, sản phẩm từ vỏ sò. Thiết lập mạng lưới kết nối tour Tháp Bà Ponagar với các điểm đến nội thành Nha Trang và các tuyến liên tỉnh duyên hải miền Trung, Tây Nguyên.
  • Giải pháp tổ chức lễ hội và bảo tồn văn hóa: Mở rộng không gian diễn xướng dân gian; phục dựng các nghi thức Chăm nguyên bản dưới sự giám sát của các chức sắc và nhà nghiên cứu văn hóa Chăm. Sở Văn hóa cần chủ động đào tạo, bố trí cán bộ là người gốc Chăm hoặc am hiểu nghi lễ tham gia điều hành trực tiếp.
  • Quảng bá và xúc tiến du lịch: Đẩy mạnh tiếp thị thông qua website chuyên biệt, hệ thống báo chí, tập gấp, sơ đồ hướng dẫn đa ngôn ngữ; tham gia các hội chợ, triển lãm du lịch quốc gia và quốc tế; dựng biển quảng cáo tấm lớn tại các cửa ô và trung tâm thành phố Nha Trang; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu di sản trong học sinh, sinh viên.
  • Bảo vệ môi trường du lịch: Triển khai nghiêm túc các quy định của Luật Du lịch và Quy chế bảo vệ môi trường ngành du lịch năm 2003; trích một phần doanh thu từ vé tham quan để thuê nhân lực thu gom rác ven biển, đầu tư thiết bị lọc khói hương nhằm hạn chế bụi mịn và khí thải độc hại.
  • Đào tạo nhân lực: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ văn hóa - du lịch cho đội ngũ hướng dẫn viên, cán bộ quản lý di tích và nhân viên các công ty lữ hành tại địa phương.

Kết quả và đóng góp

  • Về mặt học thuật và tư liệu: Khóa luận đã hệ thống hóa tương đối hoàn chỉnh lịch sử Vương quốc Chăm Pa qua các thời kỳ (Lâm Ấp, Hoàn Vương, Panduranga) gắn liền với không gian địa lý Kauthara (Khánh Hòa); trích xuất số liệu nhân khẩu học người Chăm từ cuộc Tổng điều tra năm 2009; phân loại chi tiết ba nhánh cư dân (Đông Chăm, Tây Chăm, Chăm H'roi) cùng đặc trưng kinh tế, nghề thủ công truyền thống.
  • Về mặt thực tiễn: Công trình ghi nhận và phản ánh trung thực thực trạng khai thác du lịch tại di tích Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà giai đoạn 2013 – 2018; chỉ ra sự gia tăng về quy mô khách (với hơn 100 đoàn hành hương và hàng trăm nghìn lượt khách mỗi mùa hội) song hành cùng những thách thức nghiêm trọng về ô nhiễm khói bụi, quá tải hạ tầng và nguy cơ biến tướng nghi thức.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Thay vì chỉ nhìn nhận Tháp Bà thuần túy dưới góc độ khảo cổ hay tín ngưỡng tâm linh, tác giả tiếp cận vấn đề từ góc nhìn chuyên ngành Văn hóa Du lịch. Điểm mới của đề tài là việc thẳng thắn chỉ ra mâu thuẫn giữa tính chủ thể văn hóa của người Chăm và phương thức quản lý thực tế của chính quyền địa phương, từ đó đề xuất mời các chức sắc, nghệ nhân Chăm tham gia điều hành nhằm trả lại tính nguyên bản cho lễ hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian thực tập tốt nghiệp, đề tài chủ yếu khai thác số liệu thứ cấp từ các báo cáo ngành và cơ quan quản lý (tập trung vào khung 2013 – 2018), chưa triển khai được các cuộc điều tra xã hội học bằng phiếu khảo sát quy mô lớn để lượng hóa mức độ hài lòng hay cơ cấu chi tiêu thực tế của du khách tại di tích.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi nghiên cứu sang cơ chế đồng quản lý di sản giữa cộng đồng bản địa (người Chăm) và chính quyền đô thị Nha Trang; nghiên cứu chuyên sâu về các giải pháp kỹ thuật bảo tồn vật liệu gạch nung cổ Chăm Pa trước áp lực biến đổi khí hậu vùng duyên hải nhiệt đới gió mùa.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên: Chuyên ngành Văn hóa học, Du lịch học, Việt Nam học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành cần tư liệu thực tế để nghiên cứu về khai thác di sản văn hóa phi vật thể và di tích tôn giáo.
  • Doanh nghiệp lữ hành: Tham khảo các tuyến kết nối điểm đến, xây dựng kịch bản thuyết minh chuẩn xác về lịch sử Chăm Pa, thiết kế tour trải nghiệm văn hóa gắn với làng nghề truyền thống.
  • Cơ quan quản lý văn hóa - di tích: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc quy hoạch bảo tồn không gian Tháp Bà Ponagar, xây dựng quy chế quản lý môi trường và cơ chế phối hợp với cộng đồng dân tộc Chăm trong tổ chức Lễ hội Tháp Bà hằng năm.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian như thế nào?
Khóa luận giới hạn không gian nghiên cứu tại quần thể di tích Tháp Bà Ponagar và Lễ hội Tháp Bà thuộc phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Về thời gian, tác giả tập trung khảo sát và thu thập dữ liệu thực trạng khai thác du lịch trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2018.

2. Số liệu về cộng đồng người Chăm tại Việt Nam được tác giả trích dẫn từ nguồn nào và phân bổ ra sao?
Tác giả trích dẫn số liệu từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. Theo đó, tổng số người Chăm tại Việt Nam là 161.729 người, cư trú trên địa bàn 56/63 tỉnh, thành phố. Địa bàn tập trung đông nhất là Ninh Thuận (67.274 người, chiếm 41,6%) và Bình Thuận (34.690 người, chiếm 21,4%), tiếp đến là Phú Yên (19.945 người) và An Giang (14.336 người).

3. Khóa luận chỉ ra bất cập lớn nhất trong công tác tổ chức nghi lễ tại Lễ hội Tháp Bà hiện nay là gì?
Bất cập lớn nhất được tác giả chỉ rõ là Lễ hội Tháp Bà vốn là lễ hội truyền thống của người Chăm nhưng khâu tổ chức lại do các cơ quan văn hóa và cán bộ người Kinh đảm nhiệm. Những người này không có đủ chuyên môn sâu về tôn giáo và tín ngưỡng Chăm, trong khi nhiều nghi lễ bắt buộc phải do chính các chức sắc người Chăm thực hiện, dẫn đến nguy cơ sai lệch, biến tướng và làm suy giảm tính linh thiêng của lễ hội.

4. Tác giả viện dẫn các cơ sở pháp lý và văn bản quy chuẩn nào để đề xuất giải pháp môi trường du lịch?
Tác giả căn cứ vào hai văn bản pháp lý chính: Quy chế bảo vệ môi trường trong ngành du lịch do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành tháng 7 năm 2003 và quy định tại Điều 15, Điều 16 Chương II ("Tài nguyên Du lịch") thuộc Luật Du lịch Việt Nam.

5. Những sản phẩm làng nghề thủ công nào được tác giả đề xuất đưa vào phục vụ du khách tại di tích?
Tác giả đề xuất tổ chức các gian hàng trưng bày và bán các sản phẩm lưu niệm đặc thù gắn với văn hóa Chăm và bản địa Nha Trang, bao gồm: gốm thủ công (đặc biệt là đồ gốm mô hình thu nhỏ kiến trúc Tháp Bà), vải dệt thổ cẩm, tranh cát và các sản phẩm mỹ nghệ chế tác từ vỏ sò.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thu Linh là một công trình nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa Du lịch được thực hiện nghiêm túc, bám sát nhiệm vụ khảo sát thực trạng quần thể di tích Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà tại Nha Trang. Tác giả đã tổng hợp thành công các luận cứ lịch sử - nhân khẩu học về Vương quốc Chăm Pa cổ, đồng thời phân tích sắc sảo những bất cập phát sinh giữa yêu cầu bảo tồn nguyên bản di sản với áp lực khai thác thương mại du lịch giai đoạn 2013 – 2018. Hệ thống giải pháp được đề xuất từ góc độ bảo tồn không gian kiến trúc, trả lại vai trò chủ thể cho cộng đồng người Chăm đến bảo vệ môi trường sinh thái đã tạo nên giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn rõ rệt cho công tác phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Khánh Hòa.