Chương I KHÁI QUAT KHU VỰC TRUNG ĐÔNG I. Khái quát khu vực Trung Dong 1. Điều kiện địa lý 1.1 Giới hạn địa lý- địa hình Trung Đông một khái niệm ban đầu được người châu Âu dùng để chỉ vùng đất giữa để quốc Osman và vùng Viễn Đông (gồm các nước không giáp Địa Trung Hải như lran, lraq, Afghanistan, An Độ). Dan dan trong thuật ngữ chính trị người ta hay dùng khái niệm này với nghĩa bao gồm cả Cận Đông.
Khải niệm Trung Đông được sử dụng chính thức trong ngôn ngữ chính trị quốc té từ chiến tranh thé giới thir hai khi Anh dùng khái niệm nay dé chỉ vùng lãnh thé từ Nam A đến Bắc Phi. Ngày nay, đa số các chính trị gia cũng như bảo chi Au- Mỹ sử dụng khái niệm nay dé chỉ cả khu vực Trung Cận Đông. Trung Đông la khu vực gom cac quốc gia: Israel, Palestine, Lybia, Jordan, Syria, Afghanistan, Ai Cập, Saudi Arabia, Qatar, Oman, Bahrain, Kuwait, Tho Nhĩ Kỹ, lran, lraq. Co thể nói Trung Đông là khu vực trọng yếu, ed vị trí đặc biệt trên thé giới.
Nó gan như nằm ở ngã ba đường, tiếp giáp cả ba chau lục (châu A, châu Âu, châu Phi) và hỏa nhập quanh Địa Trung Hải- cầu nối với ba đại dương (Đại Tây Dương, Án Độ Dương và Thái Bình Dương). Với vị trí nảy, nếu kiểm soát được các eo biển và các hon đảo chiến lược trên Địa Trung Hải chắc chin sẽ năm giữ sự liên lạc giữa các vùng, các châu lục va giữa các đại dương. Từ thời cỏ đại, các nha chính phục vĩ đại trong lịch sử thé giới đã sớm nhận ra ý nghĩa chiến lược của Trung Đông. Chính Pierre đại để va Napoleon Bonaparte đã đánh giá: “Ai kiểm sat được Constantinople thì người đó cai trị được thể giới” !(Constantinople là thành pho nằm trên bờ eo biển Bosphore, án ngữ vào biển Den.
Năm 1453, người Thổ chiém thành phổ nay và đổi tên là Istanbul- nay la thủ dé của Thổ Nhĩ Kỷ) ' Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Hong Bich, Nguyễn Văn Son, tr 9, Lịch sử Trung Cận Đông, NXB GD, 2002. SVTH: Nguyễn Thị Bắc -5- Khoá luận tất nghiện GVHD: TS. Lê Phung Hoàng Sau nay, thời hiện đại, Hitle đã từng có kế hoạch lớn thực hiện mưu đỗ kiểm soát Địa Trung Hải nhưng bất thành. Thời ky chiến tranh lạnh, Trung Đông được coi là khu vực có lợi ich sống còn của cd Liên Xô và Mỹ.
Tang thông Mỹ, Eisenhower đã nhận xét: “Không có vùng nảo trên thể giới quan trọng hơn Trung Đông về mặt chiến lược”” Yêu tổ địa lý không chỉ được hấp dẫn ở vị trí chiến lược quan trọng ma nó còn có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử khu vực. Những nên văn minh cỗ xưa nhất xuất hiện ở sông Nile (Ai Cập), sông Tigis -Euphrate (Lưỡng Hà) đã dat cơ sở cho các nên văn minh lớn sau này của khu vực. Với kỹ thuật hang hải tiên tiễn đương thời, những thành tựu van minh dau tiên của nhân loại đã được người Phoenicia truyền bá khắp Địa Trung Hải. Từ đây, yếu tổ văn hóa đã tạo ra mỗi liên hệ giữa các vùng trong khu vực.
Đến thể kỷ VI TCN, nếu như người Ba Tư đã củng cô sự thống nhất khu vực về mặt lãnh thé thì người Hy Lạp với những thành tựu văn minh của mình đã dé lại dau an sâu sắc trong đời sống văn hóa xã hội của các nước trong vùng. Sự phối hợp nay đã tạo nên cơ sở thống nhất bước dau của khu vực. Từ thể kỷ VII, toản bộ vùng Trung Đông lại được thông nhất trong các để quốc Hỏi giáo Arab. Điều đó có nghĩa là tính thông nhất của khu vực Trung Đông được quy định va củng cỗ bởi chỉnh Hai giáo va văn minh Hỏi giáo.
Ở một góc nào đó, chính sách thực dân của các nước phương Tây ở Trung Đông cũng thúc day sự thống nhất của khu vực. Đối với Mỹ, khu vực Trung Đông có vi tri chiến lược quan trọng ngăn chặn Liên X6 tiễn xuống phía Nam, tiếp ứng với Tây Âu. Nên sau chiến tranh thể giới thứ II, Mỹ đã sử dụng mọi thủ đoạn để gat bỏ thé lực của Anh, Pháp mở rộng ảnh hưởng của minh. Bước vào thập kỷ 70, Mỹ có ưu thế nhất ở Trung Đông, Đến đầu những năm 90, chiến tranh vùng Vịnh bùng nỗ, Mỹ nắm quyền chủ đạo ở Trung Đông.
Trước sự bảnh trưởng của các nước để quốc bá quyên (Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô), các cuộc dau tranh chẳng thực dan, giảnh được độc lập dân tộc đã gắn bó các nước trong khu vực, tạo nên sự đoàn kết thông nhất. ' Trang 9, Sđd, SVTH: Nguyễn Thị Bắc -6- Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Phụng Hoàng Tom lại, với vị trí đại lý thuận lợi, Trung Đông từ xa xưa đã trở thành mục tiêu xâm chiếm của các nước lớn. Vi thé, lịch sử của khu vực đã có những bước thăng tram, biển động.
Ngày nay, nó vẫn đang là khu vực có nhiều xảo trộn nhất thé giới, vẫn có sự can thiệp từ bên ngoai không chỉ nhằm vào vị trí chiến lược ma còn nhằm vao nguồn tải nguyên béo bở dau lửa.2 Tài nguyên Nói về hình ảnh chung quen thuộc của thiên nhién vùng Trung Đông, người ta liên tưởng ngay tới núi, cao nguyên khô cần va sa mạc. Song bên cạnh đó cũng phải kể đến hai hệ thống sông lớn (sông Nile và Tigis- Eupharte) và một SỐ con sông nhỏ có nước chảy quanh năm (sống Jordan. sông Litani ở Lybia). Lưu lượng các con sống nảy không phải la một tải nguyên đổi dao.
Sông thường cạn hoàn toàn vào mùa khô và chỉ có nước sau trận mưa hiểm hoi. Điều đó cho thấy: Tải nguyên nước ở khu vực rất khiêm tốn nhưng chính chúng lại là nguồn nước quan trọng của khu vực; nó góp phan to lớn vào việc giải quyết nước sinh hoạt của con người va cung cắp nước cho trồng trọt. Do đó nếu nguồn nước trở thành sở hữu ca nhân của bat kỳ một quốc gia nào thi sẽ 1a “điểm go” đổi với toan khu VỤC. Do vị trí vừa giáp lục địa, vừa giáp biển nên khu vực Trung Đông có cả khi hậu lục địa va khi hậu hai dương.
Nhưng nhìn chung là khí hậu khô nóng chỉ cỏ một số nước gần biển, có mùa hẻ khô nóng, it mưa và mùa đông có khi hậu mat hơn. Lượng mưa trung bình thắp, chỉ có vùng ven biển Caspi và Biển Den là củ lượng mưa tương đỗi cao. Với khi hậu nảy vẫn có thể trong trọt nhiều cây ăn quả: nho, 6 liu, cay công nghiệp bỏng, cả phé va cha ld hoặc sản phẩm nông nghiệp là lua mạch, ngõ. Töan bộ điện tích của khu vực, khoảng 8 triệu kilỗmet vuông, trong đó đất dai chủ yếu là đất sa mạc.
Tuy nhiên vẫn có những dai đất phì nhiêu doc theo lưu vực các con sông Nile, Tigis- Euphrates va vùng ven biển Địa Trung Hải của Thế Nhĩ Kỳ. Bat trong trọt rất ít, chỉ khoảng 14% đất có thé sử dụng được. Song với truyền thống can củ, yêu lao động, người dân ở đây đa số làm nông nghiệp. Họ lảm ra các sản phẩm chỉnh: lúa mạch, ngõ, kẽ, lúa.
SVTH: Nguyên Thị Bắc -7- Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Phụng Hoàng Thảm thực vật cũng kha phong phú. Rừng phát triển chủ yêu ở vùng ven biển Den va biển Caspi, nhưng diện tích rừng nguyên sinh lại không dồi dao. Diện tích nay ngày cảng giảm do sự pha hoại của con người.
Mặc dù điều kiện tự nhiên không ưu đãi cho phát triển nông nghiệp nhưng đổi lại với vị trị địa lý đặc biệt (tiếp giáp 3 châu lục } nên giao thông liên lục địa có điều kiện phát triển va đóng trò quan trọng đổi với kinh tế khu vực Trung Đông. Kênh đảo Suez (dao từ 1859- 1869) nỗi biển Đỏ với Địa Trung Hải không chỉ là con đường giao thông trong khu vực ma còn là con đường giao thông huyết mạch của thé giới. Tuy vậy, giao thông nội địa giữa các nước trong khu vực không phát triển lắm. Lạc đà, la va các loại vật kéo khác vẫn là những phương tiện vận tải quan trọng.
Tóm lại, tuy giao thông có những nơi thực sự trở thành “tai nguyên” nếu biết khai thác, có những nơi giao thông con nhiều khó khan, nhưng vùng đất Trung Đông đây "sữa và mật ong” vẫn luôn là sự thêm muốn của nhiều nước, Không được thiên nhiên ưu đãi như những vùng đất khác trên thể giới, nhưng bén dưới những lop đất khô căn, đưới những lan cát trắng nóng bỏng của sa mạc mênh mông là những con suối “vàng đen”, "Vàng Đen” ấy chính là dau mỏ - khởi nguồn của sự giàu có và sức mạnh, được coi như là nguồn tải nguyễn quý của khu vực. Von [a chiếc nôi của nên văn minh nghìn năm, Trung Đông, luôn chiếm vi trí quan trọng trong chiến lược của các nước lớn. Vị trí này có được còn xuất phát từ những mỏ dau võ tận trong lòng đất. Trung Đông tập trung 2/3 tải nguyên dầu mỏ của thé giới.
Theo số liệu năm 1993 lượng tích trữ dầu mỏ ở Trung Đông, khoảng 90 - 142 tỷ tắn, chiếm 65, 7% tổng trữ lượng dầu thế giới (133 - 240 tỷ tắn) tập trung ở các nước thuộc khu vực Ba Tư. Nước có tổng số lượng dau lớn nhất thé giới là Saudi Arabia, tiếp đến là các nước Irag, Kuwait, Iran. Thêm vào đó, Trung Đông còn được đánh giá là vùng có lượng dau mỏ chưa được phát hiện. Công nghiệp khai thác dau mỏ cũng có vai trỏ chủ đạo trong nên kinh té các nước trong khu vực.
Dau mỏ va các sản phẩm từ dau mỏ chiếm hơn 90% tổng giá trị xuất khẩu của đa số các nước trong khu vực, Nguồn thu nhập không 16 từ dầu mỏ đã lam thay đổi bức tranh chung: các nước xuất khẩu dau mỏ SVTH: Nguyễn Thị Bắc -Ñ- Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS, Lê Phụng Hoàng trở thảnh thị trường cho các nước trong khu vực, đồng thời trở thành các mạnh thường quân đầu tư vào các nước láng giéng. Do đó, dầu mỏ - tải nguyên béo bở đã trở thành mục tiêu đâu tiên trong chính sách của các cường quốc lớn là thường xuyên đảm bảo được nguồn năng lượng thiết yếu này đối với việc tiếp tục phát triển kinh tế của minh. Điễn hình cho chính sách của các nước lớn là chính sách của Mỹ. Vì quyền lợi chiến lược mà Mỹ đã giảnh được phan lớn việc kiểm soát nguồn tải nguyên năng lượng của vùng.
Để kiểm soát được, Mỹ đã không ngắn ngại trong việc bảo vệ những gi mình có được, ké cả khi phải dùng đến tên lửa.