Chương 1: Cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng thí nghiệm tương tác màn hình trong dạy học vật lí ở trường pho thông 1. Tế chức quá trình day học vật lí ở trường phố thông theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh 1. Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh Từ thời có đại các nha sư phạm tien bối như Không Tử, Aristote., đã từng nói đến tam quan trong của việc day va học tích cực. Các ý kiến đó là: - Trong việc học cần tuân thủ học gắn lién với tư với tập, với hành (tư tức là tư duy) - Không Tử.
- Dạy học không phải là rót kiến thức vào một chiếc thùng rồng mà là thấp sáng lên những ngọn lửa - Ngạn ngữ cổ Hy Lạp. Trong thời đại ngày nay, chúng ta lại biết: ~- Học phải đi đôi với hành. - Điều chủ yếu không phải là nhồi nhét một mớ kiến thức hỗn dn. mà la phương pháp suy nghỉ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề (Trích lời căn dặn của có Thủ tướng Phạm Văn Đồng).
Vẻ các phương pháp day học tích cực, chúng ta từng nghe đến các phương pháp như là phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp giáo dục khám phá, phương pháp dạy học trên dự án. Ở đây tôi đặc biệt đào sâu vẻ phương pháp dạy học giải quyết vẫn đẻ. Vận dụng kiểu day học giải quyết vấn đề trong day học vật lí nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh 1. Khái niệm Phương pháp dạy học giải quyết van dé là cách thức, con đường ma giáo viên áp dụng trong việc dạy học nhằm phát triển kha nang tìm toi, khám pha độc lập của học sinh bằng cách đưa ra các tình hudng có vấn đẻ.
Phương pháp dạy học giải quyết vẫn đề là cách thức tô chức của giáo viên nhằm tạo ra một chuỗi tình huống có vấn đẻ và định hưởng học sinh giải quyết các vấn đẻ học tập đó. Đặc trưng của kiểu đạy học giải quyết vấn đề Gồm cỏ bón đặc trưng sau [9]: e _ Đặc trưng cơ ban: xuất phát từ tình huông có van dé (THCVĐ) - THCVD luôn luôn chứa đựng nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ. và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu và giải quyết THCVD sẽ là tri thức mới, nhận thức mới hoặc phương thức hành động mới đối với chủ thé. - THCVD được đặt trưng bởi mộttrạng thái tâm lí xuất hiện ở chủ thé trong khi giải quyết một bài toán, mà việc giải quyết van đề đó lại cần đến tri thức mới, cách thức hành động mới chưa hé biết trước đó.
Có 3 yếu tố cầu thành THCVĐ: Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học: Sự tìm kiểm va phương thức hành động chưa biết; Khả năng trí tuệ của chủ thể, thé hiện ở kinh nghiệm và năng lực. - Đặc trưng cơ bản cia THCVD là những hing túng về lý thuyết và thực hành dé giải quyết van dé; nó xuất hiện nhờ tính tích cực nghiên cứu của chính người học. THCV là một hiện tượng chủ quan, một trang thái tâm lý của chủ thể, trang thái ling túng xuất hiện trong quá trình nhận thức như một mâu thuẫn giữa chu thé vả khách thé nhận thức trong hoạt động của con người ứng với một mục tiêu xác định. Những thành phần chú yêu của một tình huông học tập ` gôm: + Nội dung của môn học hoặc chủ dé; + Tinh huống khởi dau; + Hoạt động trí lực của học sinh trong việc trả lời câu hỏi hoặc giải quyết vấn đề; + Kết quả hoặc sản phẩm của hoạt động; + Danh gia kết quả.
- THCVD trong dạy học là: + Khi học sinh muốn đạt được một mục tiêu học tập nào đó, nhưng họ không biết làm thế nào để đạt được mục tiêu đó. Khi đó xuất hiện một tình huống có mâu thuẫn (mâu thuẫn nhận thức), mà học sinh muốn đạt được mục tiêu bắt buộc họ phải động não van dé cần giải quyết; + Một mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết [10]; + Bao hàm một cái gì chưa biết đòi hỏi phải tìm tòi sáng tạo, có hoạt động của tư duy; + Chứa đựng một điều gì đó chưa biết, là điều kiện cho sự suy nghĩ. - Tém lại: Đặc điểm nổi bật của THCVD là: Nhu cầu, hứng thú; Câu hỏi hay van dé chứa đựng cái đã biết và chưa biết; Có khả năng giải quyết. - THCVĐ được giáo viên tạo ra ở những dạng khác nhau như: Đột biến, bat ngờ.
không phù hợp, xung đột, bác bỏ, lựa chọn. * Quá trình day học theo phương pháp giải quyết vấn đề được chia thành những giai đoạn có mục đích chuyên biệt. - Có nhiều cách chia bước, chia giai đoạn dé giải quyết van đề. Ví dụ: + John Dewey dé nghị 5 bước dé giải quyết vấn dé: Tìm hiệu vấn dé; Xác định van dé; Dua ra những gia thuyết khác nhau dé giải quyết van dé: Xem xét hệ qua cua từng gia thuyết dưới anh sáng của những kinh nghiệm trước đây; Thử nghiệm giải pháp thích hợp nhất.
+ Kudriasev chia 4 giai đoạn: Sự xuất hiện của chính van dé và những kích thích đầu tiên thúc đây chú thé giải quyết van dé; Chủ thể nhận thức sâu sắc va chấp nhận vấn dé can giải quyết: Quá trình tìm kiếm lời giải cho vấn dé được "chấp nhận” giải quyết. lý giải, chứng minh, kiểm tra: Tìm được kết quả cuối cùng và đánh giá toàn diện các kết quả tìm được. - Như vậy, học tập theo phương pháp giải quyết vấn đẻ là hình thức dạy học ở đó ta tô chức được THCVD, giúp người học nhận thức nó, chấp nhận giai quyết va tìm kiểm lời giải trong quá trình “hoạt động hợp tác” giữa thay và trò, phát huy tôi đa tính độc lập của học sinh kết hợp với sự hướng din của thay giáo. - Đặc trưng độc đáo của day học giải quyết vấn đề là sự tiếp thu tri thức trong hoạt động tư duy sáng tạo.
Sau đây là một số vi dụ về các bước thực hiện dạy học giải quyết vẫn de: (a) Thực hiện day học giải quyết vấn đề theo 3 bước [9]: Bước 1; Tri giác vấn đề - Tao tình huỗng gợi van dé - Giải thích và chính xác hóa dé hiểu đúng tình huống - Phat biểu van đề vả đặt mục đích giải quyết vấn dé đó Bước 2: Giải quyết van dé - Phan tích van dé, làm rõ những mỗi liên hệ giữa cai đã biết và cái phải tìm - Để xuất va thực hiện hướng giải quyết, có thé điều chỉnh, thậm chi bác bỏ va chuyển hướng khi cần thiết. Trong khâu nảy thường hay sử dụng những 0 quy tắc tìm đoán va chiến lược nhận thức như sau: Quy lạ về quen; Đặc biệt hóa va chuyền qua những trường hợp giới hạn; Xem tương tự: Khai quát hóa: Xét những mỗi liên hệ va phụ thuộc: Suy ngược (tiền ngược, lùi ngược) va suy xuôi (khâu nảy có thẻ được làm nhiều lần cho đến khi tìm ra hướng đi đủng) - Trinh bay cách giải quyết van đẻ Bước 3: Kiểm tra và nghiên cứu lời giải - Kiêm tra sự đúng đắn va phù hợp thực tế của lời giải - Kiểm tra tính hợp lý hoặc tôi ưu của lời giải - Tim hiểu những khả năng ứng dụng của kết quả - Dé xuất những van đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật ngược vin đề. và giải quyết nếu có thể. (b) Thực hiện dạy học giải quyết vấn đề theo 4 bước [9]: Bước 1: Đưa ra van đề Đưa ra các nhiệm vụ và tình huống; Đưa ra mục đích của hoạt động Bước 2: Nghiên cửu vấn dé Thu thập hiéu biết của học sinh; Nghiên cứu tài liệu Bước 3: Giải quyết vấn đề Đưa ra lời giải; Đánh giá chọn phương án tối ưu Bước 4: Vận dụng.
Vận dụng kết quả giải quyết vài tình huống, vấn đề tương tự. * Qué trình day học theo phương pháp giải quyết vấn dé bao gồm nhiều hình thức t6 chức đa dạng. Qua trình học tập có thê diễn ra với những cách tô chức đa dang lôi cuốn người học tham gia cùng tập thé, động não. tranh luận đưới sự dẫn dắt, gợi mở, cổ van của thay.
Vi dụ: - Làm việc theo nhóm nhỏ (trao đổi ý kiến, khuyến khích tìm tòi.); - Thực hiện những kĩ thuật hỗ trợ tranh luận (ngồi vòng tròn, chia nhóm nhỏ theo những y kiến củng loại. © Có nhiều mức độ tích cực tham gia của học sinh khác nhau Tùy theo mức độ độc lập của học sinh trong quá trình giải quyết van dé, người ta đề cập đến các cấp độ khác nhau, cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của dạy học giải quyết van đề : (1) Tự nghiên cứu van đề Trong tự nghiên cứu vấn đẻ, tính độc lập của học sinh được phát huy cao độ. Người thầy chỉ tạo ra tình huống có van đẻ, người học tự phát hiện và giải quyết van dé đó. Tùy vào trình độ va học tập của học sinh, giáo viên có thé giúp học sinh ở khâu phát hiện vấn đẻ.
Như vậy trong hình thức này học sinh độc lập nghiên cứu vấn dé và thực hiện tất cả các khâu cơ bản của quá trình nghiên cứu này. (2) Tìm tòi từng phan n Trong cách tô chức này, học sinh giải quyết vẫn dé không hoàn toản độc lập ma lả có sự gợi ý dẫn dắt của thầy khi cần thiết. Phương tiện đẻ thực hiện hình thức nảy là những câu hỏi của giáo viên và những câu tra lời hoặc hành động dap lại của học sinh. Như vậy có sự đan kết thay đổi hoạt động của thay va trò dưới hình thức dam thoại.
Với hình thức nay, ta nhận thấy day học giải quyết vấn dé có thé tiến hành theo phương pháp đàm thoại hoặc tổ chức tự nghiên cứu sau đó báo cáo lại. Nét quan trọng của day học giải quyết van dé là tình huéng có vấn đề chứ không phải câu hỏi. Trong một giờ học, giáo viên đặt nhiều câu hỏi nhằm mục đích tái hiện kiến thức thì đó không phải là dạy học nêu vấn đẻ. Ngược lại, trong một số trường hợp, việc giải quyết van dé của học sinh có thẻ diễn ra mà không có một câu hỏi nao của thay.
(3) Trinh bay giải quyết van dé Ởhình thức này, mức độ học tập của học sinh thấp hơn hai hình thức trên. Thay giáo tạo ra tình huống có van đề, sau đó thay tiếp tục đặt vấn dé và trình bày quá trình suy nghĩ giải quyết.