Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, các giao dịch tài chính, đặc biệt là hoạt động cấp tín dụng ngân hàng, diễn ra với quy mô ngày càng lớn. Sự gia tăng của thị trường tín dụng kéo theo những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Nhằm hạn chế rủi ro và bảo toàn nguồn vốn, các tổ chức tín dụng và bên cho vay thường yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo đảm, trong đó tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất luôn là lựa chọn hàng đầu nhờ các đặc tính: giá trị lớn, có xu hướng gia tăng theo thời gian; chỉ thuộc đối tượng của biện pháp thế chấp theo pháp luật đất đai; tính chất cố định, không thể di dời, thuận lợi cho việc theo dõi, quản lý; đồng thời có hồ sơ pháp lý rõ ràng thông qua Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất đang đối mặt với nhiều bất cập. Bên cạnh các nguyên nhân khách quan từ biến động của thị trường bất động sản, hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ này còn tồn tại sự thiếu đồng bộ, chồng chéo và thiếu hụt, gây lúng túng cho các bên tham gia giao dịch cũng như các cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp. Khóa luận tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Nghiên cứu hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất.
  2. Phân tích các yếu tố pháp lý cấu thành và điều chỉnh quá trình xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất.
  3. Khảo sát, tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thông qua các bản án và vụ việc tranh chấp.
  4. Đánh giá những kết quả đạt được, phát hiện những điểm chưa phù hợp, vướng mắc trong quy định và thực tiễn thi hành; từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất trong Bộ luật Dân sự 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, Luật Đất đai 2024 và các văn bản liên quan; cùng các bản án, vụ việc thực tế về áp dụng pháp luật xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Hệ thống pháp luật dân sự, đất đai Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
  • Thời gian: Tập trung vào các văn bản pháp luật và vụ việc thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2015 đến nay, gắn liền với các mốc hiệu lực của Bộ luật Dân sự 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP và Luật Đất đai 2024.
  • Nội dung: Cơ sở lý luận về quyền sử dụng đất với tư cách tài sản thế chấp; thực trạng quy định pháp luật về phương thức, trình tự, thủ tục xử lý; đánh giá bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận về chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và quyền tài sản trong khoa học pháp lý Việt Nam, kết hợp hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 53 về sở hữu toàn dân đối với đất đai).
  • Bộ luật Dân sự 2015 (các quy định về tài sản tại Điều 105, Điều 115; đại diện chủ sở hữu tại Điều 197, Điều 198; các biện pháp bảo đảm tại Điều 292; xử lý tài sản bảo đảm tại các điều từ Điều 299 đến Điều 308).
  • Luật Đất đai năm 2024 (kế thừa và phát triển từ các Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2003, 2013; đặc biệt là Điều 3, Điều 4, Điều 12, Điều 13, Điều 45).
  • Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Điều 9, Điều 51, Điều 57, Điều 59).
  • Luật Đấu giá tài sản, Luật Thi hành án dân sự năm 2022, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Các tổ chức tín dụng.

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp khái quát hóa, phương pháp so sánh luật học và phương pháp bình luận văn bản quy phạm pháp luật cũng như thực tiễn xét xử.

Nguồn dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; các giáo trình, từ điển luật học, từ điển tiếng Việt; các công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Dân sự; bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý; số liệu và nội dung các bản án thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về tài sản bảo đảm, quyền sử dụng đất và cơ chế xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất:

  • Khái niệm và đặc điểm pháp lý của tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm là đối tượng bên bảo đảm đưa ra nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm theo 09 biện pháp quy định tại Điều 292 Bộ luật Dân sự 2015. Tài sản bảo đảm có 06 đặc điểm pháp lý cơ bản: (1) Phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (trừ cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu); (2) Là đối tượng của một nghĩa vụ dân sự; (3) Có thể là tài sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai; (4) Phải trị giá được thành tiền; (5) Có khả năng chuyển nhượng hợp pháp; (6) Có tính chất "mở" với sự xuất hiện của nhiều loại quyền tài sản mới.
  • Khái niệm và đặc trưng của quyền sử dụng đất: Căn cứ Điều 53 Hiến pháp 2013 và Điều 4 Luật Đất đai 2024, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản vô hình (Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015), có 05 đặc trưng: (1) Tách rời khỏi quyền sở hữu đất đai và tồn tại độc lập; (2) Chủ thể là người sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc công nhận; (3) Là một hệ thống quyền năng ngày càng mở rộng qua các thời kỳ lập pháp đất đai; (4) Là quyền tài sản trị giá được bằng tiền; (5) Là quyền có giới hạn về hình thức giao dịch, thời hạn sử dụng và mục đích sử dụng.
  • Bản chất và đặc điểm xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất: Được tiếp cận dưới hai góc độ: (i) Góc độ kinh tế: là quá trình chuyển đổi quyền sử dụng đất thành giá trị tiền tệ nhằm bù đắp lợi ích tài chính bị xâm phạm, tạo thanh khoản cho tài sản; (ii) Góc độ học thuyết pháp lý: là quá trình thực hiện quyền định đoạt quyền sử dụng đất của bên nhận thế chấp theo thỏa thuận hoặc luật định, tuân thủ nguyên tắc ưu tiên thanh toán căn cứ vào hiệu lực đối kháng với người thứ ba (Điều 308 Bộ luật Dân sự 2015).
Tiêu chí so sánh Xử lý tài sản bảo đảm thông thường (động sản/quyền tài sản khác) Xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất
Hình thức biện pháp bảo đảm áp dụng Áp dụng đa dạng các biện pháp: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ. Chỉ áp dụng duy nhất biện pháp thế chấp theo quy định của pháp luật đất đai.
Tính chất quyền năng của tài sản Chủ sở hữu có toàn quyền sở hữu tuyệt đối đối với tài sản (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt). Người sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng phái sinh từ quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện.
Thủ tục chuyển quyền khi xử lý Chuyển giao thực tế hoặc đăng ký quyền sở hữu theo thủ tục chuyển nhượng thông thường. Phải đáp ứng đầy đủ điều kiện Điều 45 Luật Đất đai 2024, thực hiện thủ tục sang tên, đăng ký biến động và xóa đăng ký thế chấp tại cơ quan đăng ký đất đai.
Biện pháp xử lý khẩn cấp Được xử lý ngay nếu tài sản có nguy cơ hư hỏng, giảm sút giá trị vật lý (Khoản 1 Điều 300 BLDS). Không thể áp dụng cơ chế xử lý khẩn cấp do hư hỏng vật chất; phải thông báo trước tối thiểu 15 ngày.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất

Chương 2 phân tích chi tiết quy định pháp luật thực định và đánh giá ưu điểm, hạn chế trong quá trình áp dụng:

  • Phương thức xử lý: Theo Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015, phương thức xử lý được chia thành:
    1. Phương thức thỏa thuận: Bao gồm bán đấu giá tài sản thông qua tổ chức đấu giá chuyên nghiệp; bên nhận bảo đảm tự bán quyền sử dụng đất cho bên thứ ba (với điều kiện đáp ứng Điều 45 Luật Đất đai 2024 và thông báo theo Điều 300 BLDS 2015); bên nhận bảo đảm nhận chính quyền sử dụng đất để khấu trừ nghĩa vụ (theo Điều 59 Nghị định 21/2021/NĐ-CP và Điều 223 BLDS 2015, có xử lý chênh lệch giá trị); và phương thức khác do các bên thỏa thuận không trái pháp luật.
    2. Phương thức luật định: Bán đấu giá bắt buộc khi các bên không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, ngoại trừ các trường hợp luật định riêng (như dự án đầu tư gắn liền với quyền sử dụng đất phải xử lý theo hình thức chuyển nhượng dự án theo Khoản 2 Điều 149 Luật Nhà ở 2014).
  • Trình tự, thủ tục xử lý 07 bước: (1) Thông báo xử lý quyền sử dụng đất thế chấp trước ít nhất 15 ngày đối với bất động sản (Khoản 4 Điều 51 Nghị định 21/2021/NĐ-CP); (2) Bàn giao quyền sử dụng đất để xử lý theo Điều 301 Bộ luật Dân sự 2015; (3) Thu giữ tài sản bảo đảm với sự phối hợp niêm yết tại UBND cấp xã; (4) Nhận lại quyền sử dụng đất trước thời điểm xử lý khi bên bảo đảm đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ và chi phí phát sinh (Điều 302 BLDS 2015, Điều 57 Nghị định 21/2021/NĐ-CP); (5) Thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo Luật Thi hành án dân sự năm 2022; (6) Thủ tục xóa đăng ký thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền; (7) Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán căn cứ thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng và thời điểm xác lập biện pháp theo Điều 308 Bộ luật Dân sự 2015.
  • Đánh giá kết quả đạt được: Khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các tổ chức tín dụng thu hồi nợ, bảo vệ quyền lợi các bên, hạn chế nợ xấu kéo dài, thúc đẩy lưu thông dòng vốn tín dụng.
  • Hạn chế, bất cập:
    1. Bất cập về thông báo xử lý: Thiếu chế tài cụ thể khi bên thế chấp cố tình né tránh, không nhận thông báo; quy định cho phép "xử lý ngay khi tài sản có nguy cơ hư hỏng" tại Khoản 1 Điều 300 BLDS 2015 không phù hợp với đặc tính phi vật thể của quyền sử dụng đất, dễ bị lạm dụng khi thị trường biến động giá.
    2. Bất cập trong chuyển giao tài sản: Ách tắc khi bên thế chấp bất hợp tác, từ chối ký hợp đồng chuyển nhượng; khó khăn khi bên thế chấp thay đổi nơi cư trú dẫn đến việc xác minh địa chỉ kéo dài, không thể giải quyết dứt điểm.
    3. Bất cập về định giá: Xung đột giữa 03 cơ chế định giá (thỏa thuận, tổ chức thẩm định giá độc lập, và khung giá của Nhà nước); thiếu quy định giá thẩm định có mặc nhiên là giá khởi điểm đấu giá hay không; khó khăn trong việc quy trách nhiệm bồi thường của tổ chức định giá theo Khoản 2 Điều 306 Bộ luật Dân sự 2015.
    4. Bất cập trong bán đấu giá tài sản thế chấp: Trình tự đấu giá còn phức tạp, kéo dài thời gian thi hành án.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất

Chương 3 tập trung làm rõ thực tiễn tranh chấp và đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Thực tiễn áp dụng: Phân tích tình hình thực hiện pháp luật qua các tranh chấp thực tế tại Tòa án liên quan đến việc bên nhận bảo đảm tự xử lý tài sản không qua đấu giá, tranh chấp về tính hợp lệ của văn bản thông báo xử lý, tranh chấp quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền với đất chưa được chứng nhận quyền sở hữu, và vướng mắc trong việc cưỡng chế thu giữ, kê biên thi hành án.
  • Cơ sở hoàn thiện: Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai 2024, Luật Đấu giá tài sản và Luật Thi hành án dân sự; cân bằng lợi ích hợp pháp giữa bên vay, bên cho vay và bên thứ ba ngay tình; thích ứng với các yêu cầu phát triển của thị trường tài chính và bất động sản.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    1. Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 300 Bộ luật Dân sự 2015: loại trừ quy định "xử lý ngay không cần thông báo do nguy cơ hư hỏng" đối với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất; bổ sung cơ chế suy đoán pháp lý về việc đã nhận thông báo hợp lệ khi bên nhận bảo đảm đã tống đạt theo đúng địa chỉ đăng ký hợp đồng.
    2. Thiết lập quy trình chuyển quyền sử dụng đất bắt buộc: cho phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký sang tên cho người mua trúng đấu giá hoặc bên nhận tài sản trên cơ sở hợp đồng thế chấp hợp pháp và biên bản xử lý tài sản mà không bắt buộc phải có chữ ký chuyển nhượng của bên thế chấp.
    3. Chuẩn hóa cơ chế định giá: quy định rõ giá trị do tổ chức thẩm định giá độc lập xác định là căn cứ xác lập giá khởi điểm đấu giá nếu các bên không đạt được thỏa thuận; quy định cụ thể biên độ giảm giá qua các lần đấu giá không thành.
    4. Rà soát, đồng bộ hóa các điều khoản giữa Luật Đất đai 2024 và Bộ luật Dân sự 2015 về điều kiện thế chấp và chuyển giao quyền sử dụng đất xử lý nợ.
  • Giải pháp nâng cao kết quả áp dụng: Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ Chấp hành viên và Thẩm phán; tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa ngân hàng, chính quyền địa phương và cơ quan đăng ký đất đai trong việc cưỡng chế thu giữ, bàn giao tài sản; đẩy mạnh số hóa, công khai minh bạch dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quyền sử dụng đất với tư cách là tài sản bảo đảm đặc thù theo pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu đã làm rõ toàn bộ quy trình xử lý 07 bước theo quy định mới nhất của Bộ luật Dân sự 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP và Luật Đất đai 2024; đồng thời chỉ ra 04 nhóm hạn chế, bất cập căn bản trong quy định về thông báo, chuyển giao, định giá và bán đấu giá quyền sử dụng đất.
  • Giải pháp và kiến nghị: Tác giả đề xuất 04 nhóm kiến nghị sửa đổi quy phạm pháp luật (hoàn thiện chế tài thông báo, cơ chế chuyển dịch quyền sử dụng đất khi bên thế chấp không hợp tác, chuẩn hóa định giá và đồng bộ hóa pháp luật đất đai - dân sự) cùng các giải pháp liên ngành nâng cao hiệu quả thi hành án.
  • Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khóa luận là công trình nghiên cứu có tính hệ thống và tính cập nhật mới khi phân tích quy chế xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất đặt trong mối tương quan trực tiếp với Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP. Khác với các đề tài trước đây vốn chỉ xem quyền sử dụng đất là một khía cạnh nhỏ trong hợp đồng thế chấp hoặc chỉ khảo sát tại một chi nhánh ngân hàng cụ thể, công trình này tiếp cận toàn diện từ lý luận, thực trạng quy định đến thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự trên bình diện lập pháp và áp dụng pháp luật chung.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu trong hệ thống pháp luật thực định Việt Nam giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2025; trọng tâm tập trung vào biện pháp thế chấp quyền sử dụng đất trong quan hệ tín dụng dân sự - thương mại, chưa mở rộng so sánh sâu rộng với pháp luật quốc tế về giao dịch bảo đảm bất động sản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành các điểm mới của Luật Đất đai 2024 khi các văn bản quy định chi tiết có hiệu lực đầy đủ; nghiên cứu mở rộng cơ chế xử lý tài sản bảo đảm đối với các loại hình quyền tài sản mới phái sinh từ đất đai như quyền thuê đất trả tiền hàng năm, quyền tài sản từ dự án bất động sản hình thành trong tương lai.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Kinh tế, Luật Đất đai; cán bộ pháp chế và cán bộ xử lý nợ tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng; Thẩm phán, Chấp hành viên, Thẩm định viên và Luật sư tham gia giải quyết tranh chấp hợp đồng thế chấp và thi hành án dân sự.
  • Nội dung giá trị: Mục phân tích trình tự 07 bước xử lý tài sản bảo đảm và các điều kiện chuyển giao quyền sử dụng đất theo Nghị định số 21/2021/NĐ-CP và Luật Đất đai 2024 (Chương 2); phân tích thực tiễn các điểm nghẽn về thông báo, định giá và thu giữ tài sản (Chương 2 và Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Thời hạn thông báo trước khi xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất được pháp luật quy định như thế nào? Theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp. Trường hợp không có thỏa thuận, căn cứ Khoản 4 Điều 51 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, bên nhận thế chấp phải thông báo bằng văn bản cho bên thế chấp và các bên cùng nhận thế chấp trước ít nhất 15 ngày đối với tài sản là bất động sản tính đến thời điểm xử lý.

2. Bên nhận thế chấp có đương nhiên được nhận chính quyền sử dụng đất để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không? Không. Căn cứ Khoản 3 Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 59 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, bên nhận bảo đảm chỉ được nhận chính tài sản khi có thỏa thuận rõ ràng giữa các bên. Đồng thời, việc nhận quyền sử dụng đất phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện giao dịch đất đai theo Điều 45 Luật Đất đai 2024 (có Giấy chứng nhận, không tranh chấp, không bị kê biên, còn thời hạn sử dụng).

3. Vì sao quy định "xử lý ngay tài sản có nguy cơ bị hư hỏng" tại Khoản 1 Điều 300 BLDS 2015 lại bất cập khi áp dụng cho quyền sử dụng đất? Vì quyền sử dụng đất là quyền tài sản vô hình, không bị hư hỏng hay suy giảm giá trị vật lý như động sản, hàng hóa, máy móc. Biến động giảm giá của đất đai chỉ mang tính chất thị trường, không phải tình trạng khẩn cấp vật chất. Áp dụng quy định này có thể dẫn tới việc bên nhận bảo đảm lạm quyền xử lý tài sản mà không tuân thủ thủ tục thông báo bắt buộc.

4. Thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận thế chấp một quyền sử dụng đất được xác định như thế nào theo Điều 308 BLDS 2015? Thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo 03 nguyên tắc: (i) Các biện pháp đều có hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thanh toán theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng (thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm); (ii) Biện pháp có hiệu lực đối kháng được thanh toán trước biện pháp không có hiệu lực đối kháng; (iii) Các biện pháp đều không có hiệu lực đối kháng thì thanh toán theo thứ tự thời điểm giao kết hợp đồng bảo đảm. Các bên có quyền thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau trong phạm vi bảo đảm của mình.

5. Khóa luận chỉ ra những vướng mắc chính nào trong việc định giá quyền sử dụng đất khi xử lý tài sản? Các vướng mắc bao gồm: (i) Chưa có tiêu chí xác định chính xác "giá thị trường"; (ii) Sự thiếu thống nhất giữa 03 cơ chế giá (thỏa thuận, tổ chức thẩm định giá, khung giá nhà nước); (iii) Pháp luật chưa quy định rõ giá do tổ chức thẩm định xác định có bắt buộc là giá khởi điểm đấu giá hay không; (iv) Khó khăn trong việc chứng minh lỗi để yêu cầu tổ chức định giá bồi thường thiệt hại theo Khoản 2 Điều 306 Bộ luật Dân sự 2015.

Kết luận

Khóa luận "Xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam" của tác giả Nguyễn Mai Anh là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về chế định thế chấp và xử lý quyền sử dụng đất trong pháp luật dân sự thực định. Tác giả đã làm sáng tỏ các cơ sở lý luận, phân tích chi tiết quy trình xử lý tài sản theo Bộ luật Dân sự 2015, Nghị định 21/2021/NĐ-CP và Luật Đất đai 2024, đồng thời nhận diện chính xác các bất cập về thông báo, định giá và thủ tục chuyển giao tài sản trong thực tiễn xét xử. Các kiến nghị sửa đổi quy phạm và giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành được đề xuất có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp và hoạt động xử lý nợ có bảo đảm tại các tổ chức tín dụng hiện nay.