Khóa luận: Quy chế pháp lý cấu trúc địa chất ở Trường Sa - ĐH Luật HN

Khóa luận nghiên cứu quy chế pháp lý của các cấu trúc địa chất ở Trường Sa qua cuộc chiến công hàm 2019-2020, làm rõ các thách thức pháp lý đối với Việt Nam.

Chuyên ngành

Pháp luật Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quy chế pháp lý cấu trúc địa chất ở Trường Sa

Quy chế pháp lý của các cấu trúc địa chất trên biển là nền tảng cốt lõi trong Luật Biển quốc tế. Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) phân chia rõ ràng các thực thể địa lý thành nhiều nhóm khác nhau. Nhóm thứ nhất bao gồm đảo tự nhiên có khả năng duy trì sự sống con người hoặc đời sống kinh tế riêng. Nhóm thứ hai gồm các đảo đá không đáp ứng hai điều kiện trên theo quy định tại Điều 121 khoản 3. Nhóm thứ ba là bãi cạn lúc nổi lúc chìm quy định tại Điều 13. Nhóm cuối cùng là các bãi ngầm hoàn toàn dưới mặt nước biển. Quần đảo Trường Sa tập hợp hàng trăm thực thể địa chất phức tạp với hình thái đa dạng. Việc xác định chính xác bản chất tự nhiên của từng thực thể quyết định phạm vi vùng biển được hưởng. Phán quyết Tòa Trọng tài năm 2016 đã làm sáng tỏ tiêu chí phân loại thực thể địa lý. Các cấu trúc không thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế nếu thiếu điều kiện tự nhiên bền vững. Do đó, việc nghiên cứu quy chế pháp lý tại Trường Sa giữ vai trò then chốt đối với an ninh hàng hải.

1.1. Phân loại cấu trúc địa chất theo UNCLOS 1982

UNCLOS 1982 thiết lập ranh giới pháp lý nghiêm ngặt cho từng dạng cấu trúc địa chất. Đảo hoàn chỉnh được hưởng đầy đủ lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đảo đá chỉ có vùng lãnh hải tối đa 12 hải lý, không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa riêng biệt. Bãi cạn lúc nổi lúc chìm nằm ngoài phạm vi lãnh hải của đất liền hoặc đảo thì không tạo ra bất kỳ vùng biển nào. Bãi ngầm hoàn toàn chìm dưới nước không phải là đối tượng thụ đắc lãnh thổ. Mọi hành vi cải tạo nhân tạo không làm thay đổi bản chất pháp lý ban đầu của thực thể địa lý tự nhiên.

1.2. Đặc điểm địa lý và pháp lý quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa bao gồm nhiều rạn san hô, bãi cạn, bãi ngầm và đảo đá nhỏ nằm rải rác trên diện tích biển rộng lớn. Đa số các thực thể tại đây có quy mô hạn chế và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Trước khi có sự can thiệp nhân tạo, không cấu trúc nào tại Trường Sa có khả năng tự duy trì đời sống cộng đồng dân cư ổn định. Căn cứ phán quyết năm 2016, toàn bộ các cấu trúc tại Trường Sa chỉ là đảo đá hoặc bãi cạn lúc nổi lúc chìm. Do đó, không thực thể nào tại quần đảo Trường Sa đủ điều kiện pháp lý để tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý độc lập.

II. Cuộc chiến công hàm và tranh chấp quy chế pháp lý Trường Sa

Cuộc chiến công hàm giai đoạn 2019-2020 khởi nguồn khi Malaysia đệ trình ranh giới thềm lục địa mở rộng lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS). Sự kiện này kích hoạt hàng loạt công hàm ngoại giao từ các bên liên quan tại Biển Đông. Trung Quốc gửi công hàm phản đối kịch liệt nhằm bảo vệ yêu sách 'Đường chín đoạn' và quyền lịch sử phi lý. Nước này còn lập luận sai trái về việc gộp toàn bộ quần đảo Trường Sa thành một thực thể duy nhất để vẽ đường cơ sở thẳng bao quanh. Việt Nam, Philippines, Indonesia cùng nhiều quốc gia ngoài khu vực như Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Australia đã gửi công hàm phản hồi chính thức. Các quốc gia khẳng định tính tối thượng của UNCLOS 1982 trong việc điều chỉnh mọi yêu sách biển. Cuộc chiến công hàm phản ánh sự xung đột sâu sắc giữa luật pháp quốc tế chuẩn mực và chủ nghĩa xét lại đơn phương. Đây là diễn đàn pháp lý đa phương quy mô lớn, khẳng định rõ ràng vị thế của các cấu trúc địa chất tại Trường Sa.

2.1. Yêu sách phi lý của Trung Quốc tại Biển Đông

Trung Quốc cố tình bóp méo quy định của UNCLOS 1982 bằng cách áp dụng quy chế quốc gia quần đảo cho quần đảo Trường Sa. Quốc gia này tự ý vạch đường cơ sở thẳng bao quanh toàn bộ các thực thể để đòi hỏi vùng biển rộng lớn. Họ đồng thời tuyên bố chủ quyền đối với các bãi ngầm và bãi cạn lúc chìm lúc nổi nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác. Các lập luận này hoàn toàn trái ngược với Điều 47 của UNCLOS 1982 và Phán quyết Trọng tài 2016. Yêu sách mở rộng phi pháp đe dọa nghiêm trọng trật tự pháp lý và an toàn hàng hải quốc tế.

2.2. Lập trường pháp lý kiên định của Việt Nam

Việt Nam đã gửi nhiều công hàm lên Liên Hợp Quốc khẳng định chủ quyền lịch sử không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Đồng thời, Việt Nam nhấn mạnh các cấu trúc tại Trường Sa chỉ có tối đa 12 hải lý lãnh hải. Mọi hành vi vẽ đường cơ sở thẳng bao quanh quần đảo này đều vô giá trị pháp lý. Việt Nam bác bỏ toàn bộ yêu sách lịch sử nằm ngoài phạm vi UNCLOS 1982. Lập trường này nhận được sự đồng thuận và ủng hộ rộng rãi từ cộng đồng quốc tế, góp phần bảo vệ tính toàn vẹn của Công ước Luật Biển.

III. Giải pháp pháp lý và ngoại giao bảo vệ chủ quyền biển đảo

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại Biển Đông đòi hỏi chiến lược kết hợp đồng bộ giữa pháp lý, ngoại giao và thực địa. Công cụ pháp lý quốc tế đóng vai trò cốt lõi trong việc vô hiệu hóa các yêu sách bành trướng lãnh thổ sai trái. Việt Nam cần tiếp tục củng cố hồ sơ pháp lý vững chắc, dựa trên các quy định bất di bất dịch của UNCLOS 1982. Hồ sơ này phải chứng minh rõ ràng danh nghĩa lịch sử kết hợp với việc quản lý thực tế liên tục, hòa bình qua nhiều thế kỷ. Về mặt ngoại giao, việc tăng cường vận động quốc tế giúp nâng cao nhận thức chung về tầm quan trọng của việc tôn trọng luật biển. Hợp tác đa phương trong khuôn khổ ASEAN và thúc đẩy xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực là ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần giám sát chặt chẽ mọi biến động địa chất và hoạt động bồi đắp phi pháp trên thực địa để có biện pháp can thiệp kịp thời.

3.1. Hoàn thiện hồ sơ địa chất và pháp lý quốc tế

Việt Nam cần đẩy mạnh công tác đo đạc thủy văn, khảo sát địa chất và phân định hiện trạng tự nhiên của từng cấu trúc ở Trường Sa. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học chuẩn xác giúp phân định rõ đảo đá, bãi cạn và bãi ngầm. Căn cứ này là vũ khí pháp lý sắc bén để bác bỏ các luận điệu ngụy tạo hiện trạng. Đồng thời, việc hoàn thiện hồ sơ ranh giới thềm lục địa mở rộng khẳng định quyền chủ quyền tuyệt đối đối với tài nguyên đáy biển, phù hợp với quy định quốc tế hiện hành.

3.2. Tăng cường đấu tranh ngoại giao đa phương

Đấu tranh ngoại giao cần tận dụng tối đa các diễn đàn Liên Hợp Quốc và hội nghị thượng đỉnh khu vực. Việt Nam cần liên kết chặt chẽ với các quốc gia ven biển có chung lợi ích hợp pháp để tạo tiếng nói đồng thuận. Việc công khai hóa các bằng chứng pháp lý và hành vi vi phạm của đối phương giúp tranh thủ sự ủng hộ quốc tế rộng rãi. Ngoài ra, đàm phán COC thực chất, ràng buộc pháp lý sẽ góp phần ngăn chặn các hành vi đơn phương làm thay đổi hiện trạng cấu trúc địa chất ở Biển Đông.

IV. Ứng dụng thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp luật học biển

Nghiên cứu quy chế pháp lý cấu trúc địa chất tại Trường Sa mang lại giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho sinh viên ngành Luật quốc tế. Đề tài này cung cấp góc nhìn toàn diện về phương pháp vận dụng UNCLOS 1982 vào giải quyết tranh chấp phức tạp. Sinh viên và các nhà nghiên cứu có thể tiếp cận kỹ năng phân tích công hàm ngoại giao cùng án lệ quốc tế điển hình. Đây là nguồn tài liệu quý báu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và hoạch định chính sách đối ngoại quốc gia. Trong bối cảnh thực tiễn, kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ các luận cứ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Kiến thức này trang bị nền tảng chuyên môn vững vàng cho đội ngũ cán bộ pháp lý tương lai. Từ việc đánh giá đúng bản chất của từng thực thể tự nhiên, Việt Nam có thể chủ động hoạch định chiến lược bảo vệ thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế một cách bền vững.

4.1. Đóng góp cho công tác nghiên cứu học thuật

Khóa luận hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết pháp lý hiện đại về phân loại thực thể biển theo luật quốc tế. Nghiên cứu phân tích sâu sắc mối liên hệ giữa địa chất học biển và quy chế vùng biển theo UNCLOS 1982. Tác phẩm cung cấp phương pháp luận chuẩn xác trong việc giải thích điều ước và đánh giá giá trị pháp lý của công hàm ngoại giao. Đây là tài liệu tham khảo thiết thực cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu về luật biển và quan hệ quốc tế tại Việt Nam.

4.2. Định hướng áp dụng trong hoạch định chính sách

Các kết luận nghiên cứu đưa ra định hướng chiến lược cho công tác đàm phán phân định biển và giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Việc nắm vững quy chế đảo đá giúp Việt Nam xác lập phạm vi đàm phán hợp lý, bảo đảm tối đa lợi ích quốc gia. Kết quả nghiên cứu cũng hỗ trợ các cơ quan quản lý ban hành quy định khai thác tài nguyên biển chuẩn xác. Qua đó, Việt Nam vừa khẳng định chủ quyền vững chắc, vừa duy trì môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học quy chế pháp lý của các cấu trúc địa chất ở trường sa qua cuộc chiến công hàm 122019 2020 và những vấn đề đặt ra đối với việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VE QUY CHE PHÁP LY QUOC TE CUA CÁU TRÚC DIA CHAT TREN BIEN VA TRUONG HOP QUAN DAO TRUONG SA 1. Khai niệm quy chế pháp lý của cấu trúc địa chat trên bién 1. Nhận diện cấu trúc địa chất trên biển Cấu trúc địa chất trên biển là những thực thé địa chất gắn cố định với đáy biên, được hình thành một cách tự nhiên thông qua cdc quá trình kiến tạo, phun trào núi lửa, bồi tụ trầm tích hoặc do con Tigười xây dựng. Đặc điểm chính của cấu trúc địa chất trên biển là phải được cau thành từ đất, đá, trầm tích hoặc vật liệu khoáng và phải được gan có định với đáy biển, không thé di chuyên theo dòng chảy hoặc bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài.

Định nghĩa này loại trừ các thực thể không cầu thành từ đất, chang hạn như núi băng ở Bắc Cực, các vật thé không gắn cố định với đáy biển như tàu thuyền, cũng như những công trình nhân tạo gắn với đáy biển nhưng không có nguồn gốc địa chất và có thể đi đời như nhà giàn hay đàn khoan. Nhìn chung, dựa trên sự hình thành và trạng thái của các câu trúc địa chất khi thuỷ triều lên, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) phân loại các câu trúc địa chất trên biển bao gồm dao, dao đá (Điều 121), mom đá (Điều 6), bãi cạn lúc nối lúc chìm (Điều 13) và đảo nhân tạo (Điều 60 và Điều 80). Thứ nhất, Đảo là “một vùng đất hình thành một cách tự nhiên có nước bao bọc, 12 khi thủy triéu lên vung dat này vẫn ở trên mặt nước `”. “Đảo” từ lau đã được các nhà dia chất thừa nhận là một vùng đất có nước bao bọc xung quanh.

Song, việc định nghĩa đảo dưới góc độ pháp lý quốc tế lại là vấn đề hết sức phức tạp, bởi vì nội dung của định nghĩa pháp lý quốc tế về đảo có liên quan trực tiếp đến lợi ích của tất cả các quốc gia cũng như trật tự pháp lý trên biển. Một số thực thể được coi là đảo phải thoả mãn tât cả các tiêu chí là: ! Article121 (1): “An island is a naturally formed area of land, surrounded by water, which is above water at high tide”, hitps://www.org/depts/los/convention_agreements/texts/unclos/part8.htm, truy cập ngày 01/02/2025. 7 Trước tiên, “đảo” phải “là một vùng dat” đã được thừa nhận từ lâu, sự hình thành vùng đất đó phải găn tự nhiên với đáy biển và vùng đất đó có tính chất của “terra firma- đất cứng 2” Yêu tô này nhân mạnh răng đảo phải có tinh chat "terra firma” — nghĩa là một vùng đất ôn định, có cấu trúc vat lý vững chắc. Thành phần của đảo không bị giới hạn chỉ là đất mà có thể bao gồm bùn, cát, đá, hoặc san hô, miễn là chúng hình thành một cách tự nhiên và cố định với đáy biển.

Luật quốc tế cũng không đặt ra yêu cầu về kích thước tôi thiêu của một đảo. Tiêu chí “được hình thành một cách tự nhiên” đóng vai trò trong việc xác định một thực thể có phải là đảo hay không theo luật pháp quốc tế. Điều này có nghĩa là thực thé đó phải được hình thành mà không có sự can thiệp trực tiếp của con người ngay từ đầu. Tuy nhiên, tiêu chí này không nên bị hiểu theo cách quá cứng nhắc.

Chang hạn, nêu một quốc gia thực hiện các biện pháp để bảo vệ một đảo trước nguy cơ xói mòn hoặc ngập chìm do nước biển dâng, điều đó không làm mất đi tính tự nhiên của đảo. Ngược lại, néu một quốc gia chủ động cải tạo, bồi đắp hoặc xây dựng các thực thể trên biển thành đảo, dù có sử dụng vật liệu tự nhiên, thì thực thể đó không được coi là đảo theo luật pháp quốc tế”. Việc phân biệt giữa đảo tự nhiên và đảo nhân tạo không chỉ đựa trên yếu tô địa lý mà còn cần xem xét dưới cả góc độ pháp lý. Ngoài ra, một số đảo có nguồn gốc san hô được hình thành qua hang thé kỷ nhờ quá trình phát triển tự nhiên của các rang san hô trong điều kiện nước biển ôn định.

Mặc đù các ring san hô này không phải là một phần địa chất của đáy biển nhưng chúng vẫn gan chặt với day biển và phát triển tự nhiên, đo đó vẫn được công nhận là đảo theo luật quốc tế. Quan điểm này đã được củng cô thông qua thực tiễn quốc tế và phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế (IC]), đặc biệt trong vụ Nicaragua kiện Colombia (2012)!. ? Marius Gjetnes (2000), The legal regime of islands in the South China Sea, Master Thesis of Law, University of Oslo, Norwey, tr. 3 Lê Thi Anh Đào(2017), Quy chế pháp lý của đảo theo quy định của Công ước luật biển năm 1982 và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, luận án Tiễn sĩ luật học, tr.

*'Territorial and Maritime Dispute between Nicaragua and Colombia (Nicaragua v. Colombia), Judgment, ICJ (2012), Rep 674. Tiếp đến là tiêu chí “có nước bao bọc” xác định rằng một thực thé trên biển chi được coi là đảo nếu nó độc lập và hoàn toàn tách biệt với đất liền hoặc các đảo khác, không có sự kết nối tự nhiên nào với luc địa. Nếu một thực thé được nối với đất liền hoặc một đảo khác thông qua một bãi cát ở cửa sông hoặc một con đường dap cao, thì nó không được xem là một đảo độc lập mà chỉ là một phần mở rộng của bờ biển.

Tuy nhiên, nếu thực thê đó được kết nối với đất liền bằng một cây cầu, thì vẫn có thê đáp ứng tiêu chí “có nước bao bọc”, vì cây cầu không làm thay đổi bản chất tách biệt tự nhiên của đảo. Trên thực tế, tiêu chí này ít gây tranh cãi vì ngay cả các vùng đất như bán đảo, vốn có một phan tiếp giáp với nước, cũng có thé được sử dụng dé xác định đường cơ sở phục vụ cho việc tính chiêu rộng lãnh hai và các vùng biên tiệp giáp. Tiêu chí cuối cùng, một đảo phải “nổi trên mặt nước khi thủy triều lên”, tiêu chí này giúp phân biệt với bãi cạn lúc nổi lúc chìm nằm dưới mặt nước biển khi thuỷ triều lên, còn đảo cần phải phải tồn tại và duy trì trạng thái nỗi khi thủy triều lên. Mặc đù các Công ước Luật biển có đề cập đến các khái niệm như “thủy triều lên”, “thủy triều xuống” và “ngắn nước thủy triều thấp nhất”, nhưng không quy định cụ thé hệ thống thủy triều nào được sử dụng làm tiêu chuẩn.

Thực tiễn quốc gia về xác định mực nước thủy triều cũng không thống nhất, dẫn đến việc không thẻ hình thành một quy tắc tập quán quốc tế chung trong van dé này. Tuy nhiên, theo luật biên quốc tế, một thực thé chỉ cần “vẫn ở trên mặt nước khi thủy triều lên” là đủ điều kiện để được xem xét là đảo. Điều này có nghĩa là các quốc gia có thé áp dụng bat kỳ hệ thống thủy triều nào dé xác định một thực thể là đảo, miễn là phù hợp với nghĩa thông thường của thuật ngữ “thủy triều lên”. Ngoài ra, độ cao của thực thé so với mặt nước biển khi thủy triều lên không phải là yếu tô quyết định, mà quan trọng là thực thê đó vẫn nổi trên mặt nước tại mức thủy triêu lên.

Như vậy, theo quy định của luật biển quốc tế, mọi cấu trúc thỏa mãn các tiêu chí “là một vùng đất, được hình thành một cách tự nhiên, có nước bao bọc xung quanh và vẫn nồi trên mặt nước khi thủy triều lên” sẽ được coi là dao. Việc xác định một thực thé là đảo không phụ thuộc vào kích thước, đặc điểm địa chất, khả nang thích hợp cho con người sinh sống hay loại đời sống kinh tế có thê tồn tại trên đó. Thứ hai là “đảo đá”: Thực tiễn và lý luận đều chưa thống nhất được các tiêu chuẩn chung để xác định thé nào là một dao đá. Về mặt lý luận khái niệm “đá” hay “đảo” không thé hiện rằng chúng là hai thực thê khác nhau mà chỉ đơn giản khác nhau về cấu tạo vật lý.

Theo Điều 121 (1) UNCLOS, “một đảo là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc và vẫn nổi trên mặt nước khi thủy triều lên”, bat ké thành phan dia chất của nó là đá, bùn hay san hô. Do đó, về mặt địa chất, có thể phân loại thành các dạng như đảo đá, đảo san hô hay đảo bùn. Như vậy, “dao đá” trước tiên cần thỏa mãn các yếu tố cấu thành đảo đã được đưa ra tại 121(1) UNCLOS 1982. Tại khoản 3 điều 1215 UNCLOS 1982 đề cập đến "đá-rocks” (mà không phải “islands”) nhưng không có nghĩa rằng những thực thé này không phải là đảo.

Khoản 3 nói về trường hợp đặc biệt của đảo đó là “đá” (rock), ám chỉ những thực thé đảo nhỏ, phân biệt với các thực thé “hoàn toàn có quyền là đáo” (fully entitled island). Việc UNCLOS sử dụng thuật ngữ "đá” (rocks) trong điều khoản này xuất phát từ lịch sử đàm phán điều 121 của UNCLOS, nhằm giới hạn quyền của những thực thể nhỏ, “không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng”. Tại điều 6 UNCLOS 1982 có nhắc tới “các mom đá” (reefs), nhưng không có một định nghĩa cụ thé nào về nó. Câu hỏi đặt ra ở đây là: Các mom đá (reefs) có phái là dao ? Theo như phân tích ở phần trên, một thực thé trên biển chỉ được coi là dao nếu thỏa mãn các tiêu chí: là vùng đất, được hình thành tự nhiên, có nước bao bọc và nỗi trên mặt nước khi thủy triều lên.

Do đó, không phải tat ca các mom đá (reefs) đều được coi là đảo. Nếu một mỏm đá có đầy đủ những tiêu chí như trên và vẫn nổi trên mặt nước khi thủy triều lên, nó có thé được xem là đảo theo Điều 121 UNCLOS. Ngược lại, nếu nó chỉ lộ ra khi thủy triều xuống và bị ngập khi thúy triều lên, nó được coi là một dạng đặc biệt của bãi cạn lúc nôi lúc chìm (low-tide elevation). Thứ ba là bãi cạn lúc nổi lúc chim: Theo khoản 1 Điều 13 UNCLOS 1982, bãi cạn lúc nỗi lúc chìm là “những vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thủy 5 Article121 (3): “Rocks which cannot sustain human habitation or economic life of their own shall have no exclusive economic zone or continental shelf.org/depts/los/convention_agreements/texts/unclos/part8 htm, truy cập ngày 01/02/2025 Š https://iuscogens-vie.org/2017/12/03/49/, truy cập ngày 01/02/2025.

10 triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước””. Thực thé này có 3 đặc điểm chính: là những thực thể đất tự nhiên có nước bao quanh; nồi lên trên mặt nước khi thuỷ triều xuống: và chìm dưới nước khi thuỷ triều lên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ