Pháp luật về hòa giải thương mại một số quốc gia - ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp luật học phân tích pháp luật hoà giải thương mại tại một số quốc gia, rút ra bài học kinh nghiệm và giải pháp hoàn thiện cho Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật So sánh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan pháp luật về hoà giải thương mại ở một số quốc gia

Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Cơ chế này vận hành dựa trên sự tham gia của một bên thứ ba độc lập và trung lập. Người này đóng vai trò hỗ trợ các bên tìm kiếm giải pháp có lợi cho đôi bên. Pháp luật điều chỉnh hoạt động này tại các quốc gia thường chia thành hai mô hình chính: mô hình hòa giải tạo thuận lợi và mô hình hòa giải chuyển đổi. Mô hình tạo thuận lợi tập trung vào việc trợ giúp các bên đàm phán trực tiếp để đạt thỏa thuận thực tế. Hòa giải viên không áp đặt phán quyết mà chỉ điều phối tiến trình. Ngược lại, hòa giải chuyển đổi hướng tới việc hàn gắn quan hệ kinh doanh và thay đổi nhận thức của các đương sự. Pháp luật các quốc gia tiên tiến như Hoa Kỳ quy định rõ cơ chế bảo mật thông tin và tiêu chuẩn hành nghề của hòa giải viên. Nhờ đó, phương thức hòa giải bảo vệ uy tín doanh nghiệp và tiết kiệm chi phí tố tụng đáng kể.

1.1. Bản chất pháp lý của hòa giải thương mại quốc tế

Hòa giải thương mại quốc tế mang bản chất hợp đồng và quyền tự quyết cao. Các bên tự do lựa chọn hòa giải viên, địa điểm và quy tắc giải quyết. Quy trình này diễn ra kín đáo, giúp bảo vệ bí mật kinh doanh tuyệt đối. Kết quả hòa giải không mang tính cưỡng chế ngay như bản án tư pháp. Kết quả này phản ánh sự thỏa hiệp tự nguyện dựa trên lợi ích kinh tế chung. Pháp luật quốc tế thiết lập khung pháp lý bảo hộ tính độc lập của bên trung gian. Hòa giải viên không thể là nhân chứng trong các vụ kiện tụng sau này. Đây là yếu tố then chốt tạo dựng niềm tin cho thương nhân toàn cầu.

1.2. Phân loại các phương thức hòa giải thương mại

Hòa giải thương mại bao gồm nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu vụ việc. Phương thức hòa giải tạo thuận lợi được sử dụng phổ biến nhất trong thương mại quốc tế. Người hòa giải đặt câu hỏi và phân tích rủi ro để các bên tự tìm giải pháp. Phương thức hòa giải đánh giá cho phép chuyên gia đưa ra ý kiến định lượng về cơ hội thắng kiện. Phương thức hòa giải chuyển đổi tập trung sâu vào cải thiện mối quan hệ hợp tác dài hạn. Ngoài ra, hòa giải trực tuyến đang phát triển vượt bậc nhờ công nghệ số. Mỗi hình thức mang lại giá trị riêng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của các tập đoàn kinh tế.

II. Phân tích pháp luật về hoà giải thương mại ở một số quốc gia

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy khung pháp lý đồng bộ là nền tảng cho sự thành công của hòa giải thương mại. Tại Hoa Kỳ, Đạo luật Hòa giải Thống nhất thiết lập tiêu chuẩn pháp lý chặt chẽ về đặc quyền giữ bí mật thông tin. Các trung tâm tư nhân như Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ và JAMS quản lý đội ngũ hòa giải viên chuyên nghiệp. Họ ban hành quy tắc tố tụng linh hoạt và đào tạo kỹ năng chuyên sâu. Singapore cũng là một điển hình thành công vượt bậc. Quốc gia này ban hành Đạo luật Hòa giải và thành lập Trung tâm Hòa giải Quốc tế Singapore. Đồng thời, Công ước Singapore về Hòa giải tạo cơ chế thực thi trực tiếp các thỏa thuận hòa giải xuyên biên giới. Trái lại, thực tiễn tại Việt Nam bộc lộ nhiều bất cập mang tính cấu trúc. Nghị định số 22/2017/NĐ-CP chưa tạo lập đủ cơ chế bảo vệ tính bảo mật thông tin. Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành tại tòa án còn rườm rà. Nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp trong nước về giải quyết tranh chấp bằng hòa giải vẫn còn hạn chế.

2.1. Khung pháp lý hòa giải thương mại tại Hoa Kỳ và Singapore

Hoa Kỳ xây dựng hệ thống hòa giải kết hợp giữa tư pháp công và tổ chức tư nhân. Đạo luật Hòa giải Thống nhất ngăn chặn việc sử dụng chứng cứ hòa giải tại tòa án. Các tổ chức như AAA và JAMS đóng vai trò trụ cột trong việc thiết lập chuẩn mực dịch vụ. Trong khi đó, Singapore hoàn thiện mô hình thông qua Đạo luật Hòa giải năm 2017. Quốc gia này hỗ trợ doanh nghiệp thực thi kết quả hòa giải như một phán quyết của tòa án. Tòa án Singapore khuyến khích mạnh mẽ các bên hòa giải trước khi mở phiên xét xử chính thức. Đây là mô hình chuẩn mực giúp nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp kinh tế quốc tế.

2.2. Những rào cản và vướng mắc thực tiễn tại Việt Nam

Hệ thống pháp luật hòa giải thương mại Việt Nam đang đối mặt nhiều vướng mắc lớn. Nghị định số 22/2017/NĐ-CP chưa quy định cơ chế cưỡng chế thi hành trực tiếp cho thỏa thuận hòa giải. Doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện thủ tục công nhận kết quả tại Tòa án theo Bộ luật Tố tụng Dân sự. Quy trình tư pháp này làm tiêu tốn thời gian và tăng gánh nặng chi phí. Ngoài ra, quy chế bảo mật thông tin trong quá trình hòa giải vẫn chưa được bảo đảm toàn diện. Đội ngũ hòa giải viên thương mại trong nước còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn sâu. Thói quen sử dụng tòa án và tâm lý e ngại trung gian hòa giải của doanh nghiệp cũng là rào cản đáng kể.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoà giải thương mại ở Việt Nam

Việt Nam cần thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm phát triển phương thức hòa giải thương mại. Trước hết, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu xây dựng Luật Hòa giải Thương mại chuyên biệt. Luật mới cần thay thế Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và mở rộng quyền tự chủ cho các bên tranh chấp. Khung pháp lý cần bổ sung quy định bảo vệ triệt để nguyên tắc bảo mật thông tin. Mọi thông tin trao đổi trong phiên hòa giải không được dùng làm chứng cứ tại tòa án. Đồng thời, nhà nước cần cải cách thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành theo hướng rút gọn. Việc xem xét gia nhập Công ước Singapore về Hòa giải là bước đi chiến lược quan trọng. Động thái này giúp doanh nghiệp Việt Nam bảo hộ quyền lợi trong các tranh chấp quốc tế. Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng hòa giải viên là điều kiện bắt buộc. Các cơ sở đào tạo luật cần bổ sung học phần chuyên sâu về kỹ năng hòa giải. Cuối cùng, việc đẩy mạnh ứng dụng hòa giải trực tuyến sẽ tối ưu hóa chi phí và rút ngắn thời gian xử lý tranh chấp.

3.1. Hoàn thiện thể chế và cơ chế công nhận thi hành hòa giải

Hoàn thiện thể chế là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Cơ quan lập pháp cần sửa đổi quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự nhằm đơn giản hóa thủ tục công nhận kết quả hòa giải. Quyết định công nhận cần được ban hành nhanh chóng để tạo hiệu lực thi hành ngay. Ngoài ra, việc gia nhập Công ước Singapore sẽ mở ra cơ chế công nhận thỏa thuận hòa giải quốc tế trực tiếp. Pháp luật cũng cần bổ sung các chế tài xử lý nghiêm khắc đối với hành vi tiết lộ thông tin hòa giải trái phép. Điều này giúp củng cố niềm tin tuyệt đối của cộng đồng thương nhân vào quy trình giải quyết ngoài tòa án.

3.2. Nâng cao năng lực hòa giải viên và ứng dụng giải pháp số

Nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên là yếu tố cốt lõi bảo đảm chất lượng. Các hiệp hội nghề nghiệp cần phối hợp với trung tâm quốc tế để tổ chức các khóa đào tạo chuẩn mực. Tiêu chuẩn cấp chứng chỉ hòa giải viên cần được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế. Bên cạnh đó, việc xây dựng nền tảng hòa giải trực tuyến là xu hướng tất yếu. Nền tảng số giúp các bên tiến hành hòa giải từ xa an toàn, tiết kiệm chi phí và thời gian di chuyển. Sự kết hợp giữa con người có chuyên môn cao và hạ tầng công nghệ hiện đại sẽ thúc đẩy hoạt động hòa giải phát triển mạnh mẽ.

IV. Ý nghĩa ứng dụng nghiên cứu pháp luật về hoà giải thương mại

Nghiên cứu so sánh pháp luật về hòa giải thương mại mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho tiến trình hội nhập. Đề tài khóa luận cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ công tác lập pháp tại Việt Nam. Việc tiếp thu có chọn lọc các mô hình thành công từ Hoa Kỳ và Singapore giúp hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh. Doanh nghiệp trong nước có thêm cơ sở để lựa chọn phương thức hòa giải phù hợp khi ký kết hợp đồng. Phương thức này giúp bảo toàn mối quan hệ hợp tác đối tác chiến lược và giảm thiểu chi phí phát sinh. Đồng thời, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các luật sư, thẩm phán và giảng viên luật. Áp dụng hiệu quả các khuyến nghị sẽ tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch và an toàn pháp lý. Hệ thống giải quyết tranh chấp ngoài tòa án phát triển mạnh mẽ sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế.

4.1. Giá trị học thuật cho nghiên cứu luật học so sánh

Nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận chuyên sâu vào kho tàng khoa học pháp lý. Các phân tích so sánh giữa hệ thống thông luật và dân luật làm sáng tỏ tính linh hoạt của hòa giải thương mại. Khóa luận cung cấp góc nhìn đa chiều về các mô hình giải quyết tranh chấp hiện đại. Nguồn tài liệu này hỗ trợ đắc lực cho sinh viên và học viên luật nghiên cứu chuyên ngành luật thương mại quốc tế. Đây là tài liệu hữu ích cho việc biên soạn giáo trình và giảng dạy tại các trường đại học đào tạo luật.

4.2. Khả năng ứng dụng thực tiễn trong hoạt động doanh nghiệp

Các khuyến nghị từ nghiên cứu giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị rủi ro pháp lý. Doanh nghiệp có thể chủ động cài đặt điều khoản hòa giải nhiều tầng vào hợp đồng thương mại quốc tế. Giải pháp này giúp tiết kiệm thời gian, bảo mật bí mật kinh doanh và tối ưu hóa ngân sách xử lý bất đồng. Hơn nữa, việc chủ động hòa giải giúp duy trì mạng lưới đối tác cung ứng trong bối cảnh thị trường biến động. Việc trang bị kiến thức pháp luật hòa giải giúp người quản lý đưa ra quyết định thương lượng chuẩn xác và hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học pháp luật về hoà giải thương mại ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VE HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về hòa giải thương mại 1. Khái niệm hòa giải thương mại Hòa giải từ lâu đã được xem là một phương thức truyền thông để GQTC trong đời sống xã hội, xuất hiện trước cả khi các thiết chế xã hội chính thức được hình thành.

Trên phạm vi toàn cầu, các cơ chế GQTC ngoài tòa án, bao gồm hòa giải và trọng tài, đã được áp dụng từ rất sớm, từ những giai đoạn 1200-900 trước Công nguyênŠ. Có thê thấy, HGTM là sự kết hợp giữa hai yêu tố: “hòa giải” và “thương mại”. Trong đó, “hòa giải” thể hiện PTGQTC, còn “thương mại” phản ánh loại tranh chấp cân giải quyết. Vì vậy, để hiểu rõ khái niệm HGTM, trước tiên cần xác định chính xác bản chất của hòa giải nói chung.

Trước hết, xét dưới góc độ học thuật. Theo Từ dién Luật học Việt Nam, hòa giải được hiểu là “việc “huyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chap của mình một cách ồn thỏa”9. Trong khi đó, Từ điển Black’s Law đã khái quát rằng: “Hỏa giải là phương thức giải quyết tranh chấp không mang tinh ràng buộc có liên quan tới bên thứ ba trung lập với nỗ lực giúp các bên hướng tới một thỏa thuận chung "19, Như vậy, theo cách giải nghĩa của các từ điển, có thé thay hòa giải được hiểu là cách thức GỌTC giữa các bên, dù có sự can thiệp của bên thứ ba thì bản chất vẫn là các bên tự quyết định kết quả vụ tranh chấp. Trong giới học thuật quốc tế, định nghĩa về hòa giải cũng được khá nhiều học giả đưa ra.

Chang hạn, David Spencer và Michael Brogan định nghĩa hòa giải là “một phương thức giải guyết tranh chấp không mang tính xét xử, trong đó một bên thứ ba trung lập giúp các bên giải quyết xung đột của họ ”1, Tương tự, Alexander Bevan cho rang: “Hoa giải là việc sử dụng bên thứ ba dé hỗ trợ các bên giải quyết tranh chấp nhằm đạt được thỏa thuận mà nếu không có sự giúp đỡ này, họ có thể không bao giờ đạt được hoặc đạt được một cách chậm trễ gây ton thất cho một hoặc nhiều bên ”!?. Như vậy, có thé thay rằng dù cách điễn đạt khác Š Jerome T. Barrett with Joseph P. Barrett (2004), A history of alternative dispute resolution- The story of political, cultural and social movement, John Wiley & Sons, Inc.

? Bộ tư pháp (2006), “Tir điển luật học”, Nxb. Từ điển bách khoa, Nxb. Tu pháp, tr. Garner (2004), Black's Law Dictionary, 8th Edition pg.

1! David Spencer, Michael Brogan (2006), Mediation Law and Pratice, Cambridge University Press. 12 Alexander Bevan (1992), Alternative dispute resolution: A lawyer's guide to mediation and others forms of dispute resolution, Sweet&Maxwell Press. 14 nhau, các học giả quốc tế đều có chung quan điểm răng hòa giải là một PTGOTC tự nguyện với sự hỗ trợ từ một bên thiện chí trung gian. Tại Việt Nam, mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về HGTM, nhưng một số học giá trong nước đã đưa ra quan niệm nhất quán về hòa giải nói chung.

Tác giả Nguyễn Thị Minh đã đưa ra quan điểm của mình như sau: “Hoa giải là một quá trình mà các bên tranh chấp sử dụng một bên hoặc các bên thứ ba trung lập thường xuyên bóc tách từng vấn đề tranh chấp để tìm kiếm cách thức giải quyết khác nhau nhằm đáp ứng yêu cẩu của các bên để các bên tự thoả thuận về quyết định giải quyết tranh chấp ”!°. Theo Lê Hương Giang — một tác giả có khá nhiều công trình nghiên cứu giá trị về lĩnh vực này, cũng đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm về HGTM tương đối chỉ tiết: “Hoa giải thương mai là một phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại độc lập, theo đó, nội dụng tranh chấp chủ yếu liên quan đến các hoạt động có muc tiêu sinh lợi. Việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại diễn ra theo một trình tự, thủ tục te nguyện, bảo mật, với sự tham gia của các bên tranh chấp và bên thie ba trung lập, được gọi là hòa giải viên thương mại) do các bên lựa chọn. Hỏa giải viên thương mại trợ giúp các bên tranh đạt được một thỏa thuận trên cơ sở tự quyết”!.

Qua đó có thé thấy các nhà nghiên cứu trong nước đều có sự thống nhật rằng hòa giải là quá trình có sự tham gia của bên thứ ba trung lập nhằm giúp các bên tranh chấp đạt được một sự đồng thuận trên cơ sở tự nguyện. Tiếp theo, xét dưới góc độ pháp luật. Song song với các nghiên cứu học thuật, định nghĩa về HGTM được hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thé giới đưa ra dưới góc độ pháp lý, cụ thể thường quy định trong các văn bản điều chỉnh chung về lĩnh vực hòa giải thay vì chỉ giới hạn trong lĩnh vực thương mại. Theo Đạo luật Hòa giải Thống nhất của Hoa Kỳ năm 2003 định nghĩa: “Hoa giải là một quy trình mà hòa giải viên đóng vai trò làm đơn giản hóa các cuộc giao tiếp và đàm phản giữa các bên tranh chấp, giúp ho đạt được thỏa thuận tự nguyện”)5.

Trong khi đó, Luật Hòa giải Đức năm 2012 quy định rằng: “Hoa giải là một quá trình mang tính bảo mật, trong đó các bên tranh chấp cé gắng đạt được một giải pháp thiện chí trên cơ !3 Nguyễn Thị Minh (2012), “Hỏa giải thương mại - Thực trang hoạt động và xu hướng phat triển tại Việt Nam’, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên dé: “Pháp luật về hòa giải"/2012, tr. !‡ Lê Hương Giang (2019), “Ban chất pháp lý của hòa giải thương mại”, Tạp chí Luật học, số 10/2019. '5 Điền 2(1) Đạo luật Hòa giải Thống nhất Hoa Kỳ năm 2003. 15 SỞ tu nguyện, voi sự hỗ trợ của một hoặc nhiều hòa giải viên”!5, Bên cạnh đó, Luật Hòa giải Singapore năm 2017 cũng mô tả hòa giải là “ột quá trình bao gồm một hoặc nhiều phiên làm việc, trong đó hòa giải viên hỗ trợ các bên tranh chấp nhận điện vấn dé, đưa ra lựa chọn, thảo luận và đạt đến thỏa thuận một cách tự nguyện”, Tại Việt Nam, cụ thể theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, HGTM được định nghĩa “/a phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này”'8.

Nhìn chung, định nghĩa về HGTM trong pháp luật Việt Nam có sự tương đồng với cách hiểu chung về hòa giải trên thé giới, tuy nhiên thuật ngữ “HGTM” được sử đụng dé nhẫn mạnh phạm vi áp dung trong lĩnh vực thương mại và sự điều chính của các văn bản pháp luật liên quan đến GQTC thương mại. Do đó, từ những phân tích trên đây, tác giả có quan điểm về HGTM như sau: HGTM là một PTGOTC độc lập với nội dụng tranh chấp chủ yếu về kinh doanh, thương mại và các hoạt động có muc tiêu sinh lợi. Việc GOTC bằng HGTM được tiễn hành với sự có mặt của các bên tranh chấp và bên thứ ba trung lập (gọi là HGVTM) theo trình tụ, thu tục do luật định, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự quyết, bảo mật để đưa các bên trong tranh chấp di đến một sự đông thuận chung. Đặc điểm của hòa giải thương mại Với sự phát triển mạnh mẽ của các PTGQTC, HGTM mang rất nhiều đặc điểm nồi trội mà các phương thức khác không thể sở hữu được.

Việc hiểu rõ các đặc điểm ưu việt này sẽ giúp nhận diện HGTM cũng như thấy được sự khác biệt của phương thức này với các PTGQTC hiện hành khác, cụ thé HGTM có những đặc điểm sau, Thứ nhất, tinh độc lập của HGTM trong việc GOTC kinh doanh, thương mại là một trong những đặc điểm nhận điện quan trọng nhất của phương thức này. HGTM, khi được xem là một cách thức GQTC, cần được hiểu là một quy trình độc lập với các thủ tục tô tụng thông thường. Trên thực tế, HGTM có thé được thực hiện theo hai hình thức: (i) như một bước trong quy trình GQTC tai tòa án hoặc trong tài và (ii) như một phương thức độc lập ngoài tố tụng. Nếu hòa giải diễn ra trong quá '6 Điều 1(1) Luật Hòa giải Đức năm 2012.

Điều 3(1) Luật Hòa giải Singapore năm 2017. 18 Điều 3(1) Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại. !2 Lê Hương Giang (2019), “Hoàn thiện pháp luật về hòa giải thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội 16 trình tố tụng, nó đóng vai trò hỗ trợ các bên đàm phán và đạt thỏa thuận dưới sự giám sát của tòa án hoặc trọng tài. Khi thỏa thuận đạt được, kết quả có thể được công nhận như một bản án hoặc phán quyết trọng tài.

Ngược lại, HGTM khi được thực hiện một cách độc lập cho phép các bên tự quyết định quy trình, lựa chọn HGV mà không chịu sự ràng buộc của các thủ tục tô tụng chặt chẽ. Kết quả của quá trình này là một thỏa thuận có giá trị hợp đồng nhưng không có tính cưỡng chế pháp lý như phán quyết của tòa án hoặc trọng tài. Tính độc lập của HGTM thể hiện rõ qua sự khác biệt với các PTGOTC truyền thống. Một số chuyên gia cho rằng hòa giải là xu hướng quan trọng trong GQTC thay thế, bởi nó không chỉ khác biệt về bản chất so với tố tụng mà còn dựa trên các nguyên tắc linh hoạt, đối lập với quy trình xét xử tại tòa An2°.

Vì vậy, khi nghiên cứu HGTM, cần phân biệt rõ giữa mô hình hòa giải độc lập và hòa giải trong thủ tục tô tụng dé tránh nhằm lẫn và áp dung đúng ban chất của từng phương thức trong thực tiễn. Thứ hai, sự tham gia của HGVTM là yếu tố bắt buộc trong quan hệ HGTM. Khác với các phương thức giải quyết mang tính bắt buộc, HGTM chỉ được thực hiện khi các bên tự nguyện lựa chọn. Tranh chấp trong lĩnh vực này có phạm vi rộng, không chỉ giới hạn ở thương nhân mà còn có thể liên quan đến tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh.

Đặc điểm chung của các tranh chấp là sự xung đột lợi ích, và nếu các bên tự đàm phán mà không có bên thứ ba hỗ trợ, đó là thương lượng chứ không phải hòa giải. Chỉ khi HGV tham gia với vai trò trung gian, hỗ trợ quá trình trao đổi thì tranh chấp mới được giải quyết theo phương thức HGTM. HGV có thé làm việc độc lập theo yêu cầu của các bên hoặc thuộc tổ chức chuyên môn về hòa giải.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ