Khóa luận lỗi trong trách nhiệm dân sự - ĐH Luật Hà Nội

Nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự. Khóa luận phân tích lý luận, thực trạng áp dụng và kiến nghị hoàn thiện.

Chuyên ngành

Pháp luật Dân sự

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan lý luận về lỗi trong trách nhiệm dân sự hiện nay

Lỗi trong trách nhiệm dân sự giữ vị trí trung tâm trong khoa học pháp lý dân sự. Chế định này xác lập cơ sở quy kết nghĩa vụ pháp lý cho chủ thể vi phạm. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định lỗi thể hiện qua hình thức cố ý hoặc vô ý. Lỗi cố ý xảy ra khi chủ thể nhận thức rõ hành vi có thể gây thiệt hại nhưng vẫn thực hiện. Lỗi vô ý phản ánh sự cẩu thả hoặc quá tự tin khi không lường trước hậu quả có thể thấy trước. Yếu tố lỗi liên kết chặt chẽ giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả thiệt hại. Việc xem xét lỗi đảm bảo tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật. Đề tài khóa luận tốt nghiệp luật học làm rõ cấu thành lỗi để bảo vệ quyền dân sự. Nhận thức đúng về lỗi giúp giải quyết tranh chấp hiệu quả. Cơ quan tài phán căn cứ vào yếu tố lỗi để đưa ra phán quyết chuẩn xác. Sự phân hóa hình thức lỗi tạo nền tảng vững chắc cho việc cá thể hóa trách nhiệm dân sự của mỗi bên liên quan.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của lỗi

Lỗi là thái độ chủ quan của người có hành vi trái luật. Người thực hiện nhận thức được hành vi gây nguy hại. Đặc điểm đầu tiên của lỗi là tính chủ quan gắn với nhận thức và ý chí. Đặc điểm thứ hai là mối quan hệ giữa ý chí và hành vi thực tế. Lỗi chỉ được xem xét khi hành vi khách quan gây tổn hại quyền dân sự. Pháp luật dân sự không xử lý tư tưởng thuần túy. Hành vi biểu hiện ra thế giới khách quan mới làm phát sinh lỗi. Trách nhiệm dân sự đòi hỏi phải chứng minh trạng thái tâm lý này trong hầu hết quan hệ. Việc nhận diện chính xác đặc điểm lỗi giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các chủ thể tham gia.

1.2. Phân loại lỗi theo Bộ luật Dân sự 2015

Pháp luật dân sự Việt Nam phân chia lỗi thành lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý bao gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp. Chủ thể cố ý nhận thức rõ thiệt hại nhưng vẫn mong muốn hoặc để mặc hậu quả xảy ra. Lỗi vô ý gồm vô ý do quá tự tin và vô ý do cẩu thả. Trường hợp cẩu thả xuất hiện khi chủ thể không thấy trước hậu quả dù phải thấy trước. Sự phân loại này có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Căn cứ phân loại giúp xác định tính chất vi phạm hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng. Tòa án dựa vào mức độ lỗi để giảm trừ hoặc tăng mức bồi thường thiệt hại.

II. Phân tích thực trạng quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã cải cách nhiều quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự. Lỗi đóng vai trò là căn cứ xác định trách nhiệm và mức độ bồi thường thiệt hại. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, lỗi không còn là điều kiện tiên quyết bắt buộc ở mọi trường hợp. Khoản 3 Điều 584 đặt ra ngoại lệ trách nhiệm bồi thường do tài sản gây ra. Chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi cá nhân. Điều luật này bảo vệ nạn nhân nhanh chóng nhưng nảy sinh bất cập khi áp dụng thực tế. Quy định về trách nhiệm liên đới khi có lỗi của người thứ ba vẫn còn chưa đồng bộ. Ví dụ điển hình là quy định bồi thường do súc vật gây ra tại Điều 603. Quy chế pháp lý chưa phân định rõ ranh giới giữa người chiếm hữu hợp pháp và người sử dụng thực tế. Sự thiếu thống nhất trong giải thích luật gây khó khăn cho hoạt động xét xử. Việc chứng minh yếu tố lỗi của các bên vẫn là thách thức lớn trong thực tiễn.

2.1. Lỗi trong trách nhiệm bồi thường do tài sản gây ra

Khoản 3 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chủ sở hữu và người chiếm hữu phải bồi thường khi tài sản gây thiệt hại. Nguyên tắc này thiết lập cơ chế trách nhiệm nghiêm ngặt. Người bị thiệt hại không cần chứng minh hành vi có lỗi của chủ sở hữu tài sản. Tuy nhiên, mâu thuẫn xuất hiện giữa quy định chung và các quy định riêng biệt trong Bộ luật. Điển hình là trường hợp súc vật gây thiệt hại tại Điều 603. Điều luật bổ sung tư cách người sử dụng tài sản gánh chịu trách nhiệm. Sự không tương thích giữa điều luật chung và điều luật cụ thể tạo ra lỗ hổng pháp lý. Tòa án gặp lúng túng khi xác định chủ thể chịu trách nhiệm chính.

2.2. Vấn đề loại trừ và phân chia lỗi hỗn hợp

Lỗi là căn cứ pháp lý quan trọng để loại trừ trách nhiệm bồi thường. Bên gây tổn thất được miễn trách nhiệm khi thiệt hại do lỗi hoàn toàn của bên bị hại. Trường hợp cả hai bên cùng có lỗi được gọi là lỗi hỗn hợp. Khi đó, mức bồi thường được chia theo tỷ lệ tương ứng với mức độ lỗi của mỗi bên. Thực tiễn áp dụng phát sinh nhiều vướng mắc khi lượng hóa tỷ lệ lỗi. Pháp luật hiện hành thiếu tiêu chí định lượng cụ thể để chia phần trách nhiệm. Thẩm phán thường dựa vào đánh giá chủ quan để đưa ra quyết định. Thực trạng này dẫn đến thiếu sự thống nhất trong các bản án cùng tính chất tương đồng.

III. Giải pháp hoàn thiện quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự

Hoàn thiện quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân sự là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Cơ quan lập pháp cần sửa đổi khoản 3 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc bổ sung chủ thể là người sử dụng tài sản vào điều luật chung tạo sự thống nhất. Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về xác định mức độ lỗi. Hướng dẫn áp dụng pháp luật giúp giảm thiểu sự tùy nghi của thẩm phán khi xét xử. Cơ chế phân định mức độ bồi thường cần có tiêu chuẩn định lượng cụ thể hơn. Hội đồng thẩm phán nên phát triển các án lệ chuyên sâu về bồi thường thiệt hại. Án lệ cung cấp giải pháp mẫu cho các tranh chấp phức tạp có yếu tố lỗi của bên thứ ba. Quá trình xét xử cần kết hợp chặt chẽ việc kiểm tra chứng cứ khách quan và tâm lý chủ thể. Sự cải cách toàn diện sẽ củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống tư pháp.

3.1. Sửa đổi và đồng bộ hóa các điều luật liên quan

Nhiệm vụ trọng tâm là sửa đổi khoản 3 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều luật cần bổ sung chủ thể người sử dụng tài sản vào diện chịu trách nhiệm. Việc này tạo sự tương thích với các quy định về súc vật và công trình xây dựng. Nhà làm luật cần chuẩn hóa khái niệm lỗi suy đoán trong quan hệ bồi thường. Các thuật ngữ liên quan đến quyền chiếm hữu và sử dụng phải được định nghĩa tường minh. Sự thống nhất giữa phần chung và phần riêng ngăn chặn hiện tượng xung đột quy phạm. Luật pháp rõ ràng sẽ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm trên thực tế.

3.2. Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật và án lệ

Tòa án nhân dân tối cao cần đẩy mạnh phát triển nguồn án lệ về lỗi dân sự. Án lệ giúp thẩm phán xử lý các tình huống phức tạp về lỗi hỗn hợp. Quá trình điều tra cần áp dụng công nghệ để thu thập chứng cứ chứng minh lỗi. Các cơ quan tiến hành tố tụng cần tổ chức tập huấn chuyên sâu cho đội ngũ thẩm phán. Kỹ năng đánh giá tâm lý chủ thể và hành vi khách quan cần được bồi dưỡng. Thẩm phán phải phân tích khách quan toàn bộ bối cảnh dẫn đến hành vi vi phạm. Việc áp dụng đúng pháp luật bảo đảm bản án có sức thuyết phục cao.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu lỗi trong trách nhiệm dân sự

Nghiên cứu về lỗi trong trách nhiệm dân sự mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Khóa luận tốt nghiệp đã hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về chế định lỗi. Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị cho sinh viên luật. Nghiên cứu hỗ trợ các luật sư trong việc xây dựng luận cứ bảo vệ quyền lợi đương sự. Các tổ chức pháp lý có thể vận dụng kiến thức để soạn thảo hợp đồng chặt chẽ hơn. Việc đánh giá rủi ro pháp lý gắn liền với việc kiểm soát lỗi của các bên tham gia giao dịch. Doanh nghiệp cần chủ động thiết lập quy trình quản trị nội bộ để ngăn ngừa vi phạm. Quy định pháp luật hoàn thiện sẽ thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển minh bạch. Sự minh bạch trong phân định lỗi củng cố an toàn pháp lý cho toàn xã hội. Nhận thức đúng đắn về trách nhiệm dân sự góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền vững mạnh hơn.

4.1. Giá trị học thuật cho nghiên cứu và đào tạo luật

Khóa luận tốt nghiệp đóng góp nguồn tư liệu học thuật phong phú cho ngành luật dân sự. Đề tài làm sáng tỏ các tranh luận khoa học xoay quanh yếu tố lỗi. Sinh viên và học viên cao học có thể kế thừa các phân tích để mở rộng nghiên cứu. Nội dung đề tài bổ trợ trực tiếp cho chương trình đào tạo cử nhân luật học. Các giảng viên có thêm tài liệu tham khảo thực tiễn sinh động để phục vụ giảng dạy. Nghiên cứu thúc đẩy tư duy phản biện trong việc đánh giá các quy phạm pháp luật hiện hành. Đây là nền tảng quan trọng giúp phát triển các công trình khoa học pháp lý sau này.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn trong giải quyết tranh chấp dân sự

Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng cao cho thực tiễn xét xử. Luật sư có thể áp dụng các luận điểm khoa học để xác định chứng cứ có lợi. Thẩm phán có thêm cơ sở lý luận vững chắc khi phân xử các vụ án bồi thường thiệt hại. Doanh nghiệp và cá nhân nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong các giao dịch. Việc hiểu rõ yếu tố lỗi giúp các bên phòng ngừa các rủi ro phát sinh tranh chấp. Các bên hợp đồng có thể chủ động thương lượng điều khoản miễn trừ trách nhiệm hợp pháp. Tính minh bạch trong áp dụng luật bảo đảm trật tự an toàn cho các giao dịch dân sự.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học lỗi trong trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, khóa luận đã trình bày và đi sâu phân tích một số vấn đề lý luận về lỗi trong TNDS. Dựa trên phan khái quát về TNDS, tác giả đã lí giải những nội dung cụ thể về lỗi trong TNDS: Khái niệm lỗi trong TNDS, hình thức lỗi trong TNDS và ý nghĩa của việc xác định lỗi trong TNDS. Đầu tiên, pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành chưa đưa ra định nghĩa cụ thé về lỗi trong TNDS. Song, có thể hiểu ban chat lỗi trong TNDS phản ánh thái độ tâm lý bên trong của chủ thể với hành vi trái pháp luật và hậu quả pháp lý của hành vi đó.

Cách pháp luật đân sự xây dựng khái niệm về lỗi có nhiều điểm tương đồng với khái niệm lỗi trong khoa học pháp lý hình sự, tuy nhiên vẫn có những điểm khác biệt tiêu biểu dé phân biệt lỗi trong hai lĩnh vực riêng biệt này. Tiếp theo, lỗi trong TNDS được chia thành hai hình thức chính là lỗi cỗ ý và lỗi vô ý. Hình thức về lỗi bao hàm hai khía cạnh ý chí - năng lực nhận thức - và lý trí - năng lực điêu khiên hành vi - của chủ thê. 18 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUAT VIỆT NAM VE LOI TRONG TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ 2.

Quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân sự 2. Lỗi là căn cứ xác định việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của một bên trong hợp đồng Điều 413 BLDS 2015 quy định về nghĩa vụ không thực hiện được do lỗi của một bên: “Trong hop dong song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cau bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc hủy bó hợp đông và yêu cau bôi thường thiệt hại ”. Đây là quy định áp đụng cho hợp đồng song vụ. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau!?.

Nghĩa vụ ở đây có thé hiểu là việc phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng khi đến hạn; không được viện dẫn lí do bên kia chưa hoàn thành nghĩa vụ dé hoãn việc thực hiện nghĩa vụ của mình trừ một số trường hợp luật định!!. Một trường hợp trong số đó là khoản 2 Điều 411 BLDS 2015 khi quy định quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ. Theo đó, “bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của minh khi đến hạn”. Không phải trong mọi trường hợp, bên có nghĩa vụ luôn phải hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với bên có quyền.

Nếu bên có nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn tức là họ đã xâm phạm đến quyền của bên có quyền và đi ngược với nguyên tắc thiện chí trong GDDS. Việc tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ của mình dù bên kia chưa hoàn thành nghĩa vụ của họ khi đến hạn dẫn đến sự thiếu công bang, bat bình dang giữa các bên cùng tham gia hợp đồng, thậm chí có thé dẫn đến thiệt hại cho bên thực hiện nghĩa vụ sau. Vì vậy, pháp luật quy định trong trường hợp này, bên thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ !9 Điều 402 BLDS 2015. '' Khoản | Điều 410 BLDS 2015.

19 như một biện pháp bảo vệ họ, tránh mắt thêm của cải, vật chất để thực hiện nghĩa vụ khi bên kia chưa hoàn thành nghĩa vụ của họ. Tuy nhiên, không phải lúc nào việc bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa hoàn thành nghĩa vụ của họ khi đến hạn cũng là lí do để bên thực hiện nghĩa vụ sau hoãn thực hiện phan nghĩa vụ của mình. Điều 413 BLDS 2015 quy định “khi một bên không thực hiện duoc nghĩa vu của mình do lỗi của bên kia thì có quyên yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu câu bôi thường thiệt hai”. Day là trường hợp một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà không bị coi là có lỗi, lỗi thực chất thuộc về phía bên kia khi khiến họ không thé hoàn thành nghĩa vụ của mình.

Việc “vi phạm” này nằm ngoài ý chí và khả năng kiểm soát của bên không thực hiện nghĩa vụ, vì vậy họ không phải chịu bat kì TNDS nào. Bên không thực hiện được nghĩa vụ trong trường hợp này được pháp luật cho phép lựa chọn một trong hai cách Xử su sau: (i) yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc (ii) hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hai. Vi du, A thỏa thuận với B về việc nấu cỗ cho tiệc tân gia cua A. Hai bên thỏa thuận A có nghĩa vụ chuan bị nguyên liệu, B có nghĩa vụ dam bảo nhân sự và dụng cụ.

Tuy nhiên, đến ngày tổ chức tiệc theo thỏa thuận, A không cung cấp đủ nguyên liệu, vì vậy B không thể chuẩn bị cỗ đúng theo thỏa thuận ban đầu. Trong trường hợp này, B vẫn có quyền yêu cầu A thực hiện nghĩa vụ trả tiền đối với mình hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu A bồi thường thiệt hại liên quan đến nhân công, tiền thuê dụng cụ và các chỉ phí phát sinh khác (nếu có). Lỗi là căn cứ xác định chủ thể chịu trách nhiệm dân sự Thứ nhất, đối với trường hợp GDDS vô hiệu: Khoản 4 Điều 131 BLDS 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: “4. Bén có lỗi gây thiệt hại thì phải bôi thường ”.

GDDS được hiểu là một trong những phương thức cho cá nhân, pháp nhân xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự nhằm thỏa mãn các hoạt động trong đời sống hàng ngày. Điều 116 BLDS 2015 quy định về khái niệm 20 GDDS: “Giao dich dân sự là hop đồng hoặc hành vi pháp ly đơn phương lam phát sinh, thay đối hoặc cham đứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Một GDDS muốn phát sinh hiệu lực cần phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 117 BLDS 2015; néu không có một trong các điều kiện đã được quy định thì GDDS đó được coi là vô hiệu!”, trừ trường hợp BLDS có quy định khác. GDDS khi vô hiệu sẽ không có hiệu lực pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chu thể tham gia; các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu như khi chưa xác lập giao dịch; bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn tra lai hoa lợi, lợi tức đó; bên có lỗi gây thiệt hại thì phải BTTH1°.

Khi GDDS vô hiệu, dựa vào nguyên nhân dẫn đến GDDS vô hiệu, các bên chủ thê có thể xác định được người có lỗi làm cho GDDS vô hiệu. Người có lỗi ở đây đã thực hiện một số hành vi như che giấu một GDDS khác, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép bên kia xác lập, thực hiện GDDS. Day là những hành vi được BLDS 2015 quy định là căn cứ làm vô hiệu một GDDS. Khi đó, chủ thé có lỗi khi thực hiện những hành vi nêu trên phải gánh chịu trách nhiệm BTTH nếu việc GDDS vô hiệu gây thiệt hại cho bên bị tham gia trái ý chí tự nguyện.

Ví dụ, A đăng tin rao bán trên mạng xã hội Facebook một chiếc máy tính với giá 15 triệu đồng nhưng cố tình không thông tin về việc toàn bộ linh kiện bên trong chiếc máy tinh đã được thay thé, thực tế giá thị trường của chiếc máy tính chỉ là 5 triệu đồng. B nhận mua máy tính đó và sau khi nhận được chiếc máy tính mới nhận ra những sự thay thế nêu trên. Trong trường hợp này, có cơ sở để B yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS giữa A và B vô hiệu do lừa dối. A là người có lỗi khi không thông báo day đủ hiện trạng của chiếc máy tính nhằm bán cho B với giá cao hơn, gây thiệt hại về tài sản cho B là 10 triệu đồng.

Phần thiệt hai này của B sé do A chịu trách nhiệm BTTH. Khoản 3 Điều 133 BLDS 2015 quy định về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi GDDS vô hiệu: “Chi sở hữu. có quyền khởi kiện, yêu 2 Điều 122 BLDS 2015. 21 câu chủ thể có lỗi dan đến việc xác lập GDDS với người thứ ba ngay tình mà giao dich đó vô hiệu thì phải hoàn trả chỉ phí hợp lý và bồi thường thiệt hai”.

Đây là quy định bảo vệ lợi ich cho chính các chủ thé tham gia GDDS một cách ngay tình. Họ không thể biết rằng giao dich mình tham gia có thé bi vô hiệu; cần có hành lang pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng này. Tuy nhiên, bên cạnh người thứ ba ngay tình, chủ sở hữu hợp pháp của tài sản cũng cần được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng. Việc pháp luật đặt ra những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình cần ở trong một chừng mực nhất định, không triệt tiêu hoàn toàn quyền lợi của chủ sở hữu mà cần hài hòa về lợi ích cho tất cả các chủ thể.

Theo quy định trên, chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình nếu GDDS với người này không bị vô hiệu theo khoản 2 Điều này. Đồng thời, điều khoản này ghi nhận quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thê có lỗi dẫn đến việc GDDS được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả chi phí hợp lý và BTTH. Vi dụ, B mượn điện thoại cua A là bạn thân minh, sau đó mang chiếc điện thoại đó đi bán cho C. Do thân thiết với A nên những thông tin riêng tư như mật khâu điện thoại của A thì B đều biết.Vì thế, B dé dàng chứng minh với C đó là điện thoại của mình, C không nghi ngờ B và đã mua lại chiếc điện thoại này.

Trong trường hợp này, A là chủ sở hữu không có quyền đòi lại chiếc điện thoại từ C là người thứ ba ngay tình bởi điện thoại là tài sản không phải đăng ký, giao dịch giữa B và C vẫn được xác lập. Tuy nhiên, A có quyền khởi kiện, yêu cầu B phải hoàn trả chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại. Thứ hai, đối với TNDS phát sinh do vi phạm nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng: Khoản 3 Điều 507 BLDS 2015 quy định về quyén, nghĩa vụ của thành viên hợp tác: “3. Bồi thường thiệt hại cho các thành viên hợp tác khác do lỗi của mình gây ra `.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ