Khóa luận pháp luật lao động chưa thành niên từ thực tiễn Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp phân tích quy định về lao động chưa thành niên theo Bộ luật Lao động 2019 và thực trạng áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và khung pháp lý lao động chưa thành niên

Lao động chưa thành niên (LĐCTN) là người lao động dưới 18 tuổi theo quy định tại Điều 3 Bộ Luật Lao động 2019. Khóa luận tập trung phân tích khung pháp lý điều chỉnh LĐCTN tại thành phố Hà Nội, bao gồm 4 nhóm quy định chính: việc làm, hợp đồng lao động, thời giờ làm việc - nghỉ ngơi, và bảo vệ an toàn vệ sinh lao động. Theo thống kê Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội, số lượng LĐCTN tham gia thị trường lao động năm 2022 đạt 12.500 người, chiếm 1,8% tổng lực lượng lao động. Pháp luật quy định LĐCTN chỉ được làm những công việc phù hợp độ tuổi, không cấm đoán hoàn toàn nhưng phải tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện bảo vệ sức khỏe và quyền lợi. Đơn cử, LĐCTN từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi chỉ được tham gia lao động nhẹ nhàng, không nguy hiểm hoặc độc hại.

1.1. Khái niệm pháp lý về người chưa thành niên

Người chưa thành niên (NCTN) theo Bộ Luật Dân sự 2015 là người chưa đủ 18 tuổi. Trong lĩnh vực lao động, Điều 3 BLLĐ 2019 phân chia NCTN thành hai nhóm: dưới 15 tuổi (cấm tuyển dụng trừ trường hợp đặc biệt) và từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi (được tuyển dụng nhưng phải đáp ứng điều kiện sức khỏe và công việc phù hợp). Tại Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định 24/2021 về danh mục công việc cấm sử dụng NCTN, bao gồm 35 ngành nghề như sản xuất hóa chất, khai thác khoáng sản, và vận hành máy móc nặng. Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng bóc lột sức lao động NCTN trong môi trường nguy hiểm.

1.2. Hệ thống văn bản điều chỉnh LĐCTN

Hệ thống pháp luật điều chỉnh LĐCTN gồm 5 cấp độ: (1) Hiến pháp 2013 khẳng định quyền bảo vệ trẻ em; (2) Bộ Luật Lao động 2019 với 14 điều khoản trực tiếp về LĐCTN; (3) Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết; (4) Thông tư 09/2021/TT-BLĐTBXH quy định danh mục công việc cấm; (5) Văn bản chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội như Chỉ thị 12/CT-UBND về phòng chống bóc lột lao động trẻ em. Tại Hà Nội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các ngành liên quan triển khai chương trình 'Nói không với lao động trẻ em' từ năm 2018, góp phần giảm 40% số vụ vi phạm liên quan LĐCTN trong giai đoạn 2018-2022.

II. Thực trạng triển khai pháp luật LĐCTN tại Hà Nội

Thực tế thi hành pháp luật LĐCTN tại Hà Nội bộc lộ ba xu hướng chính: (1) Tăng trưởng về số lượng LĐCTN tham gia thị trường lao động (từ 10.200 năm 2020 lên 12.500 năm 2022); (2) Chênh lệch giữa quy định pháp luật và thực tiễn triển khai; (3) Tỷ lệ vi phạm pháp luật liên quan LĐCTN chiếm 3-5% tổng số vụ tranh chấp lao động. Nguyên nhân chính bao gồm: nhận thức hạn chế của gia đình về quyền lợi NCTN, sự lỏng lẻo trong quản lý của doanh nghiệp vừa và nhỏ, và thiếu cơ chế giám sát hiệu quả từ phía cơ quan chức năng. Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội, 68% doanh nghiệp trên địa bàn vi phạm quy định về thời giờ làm việc tối đa 4 giờ/ngày đối với NCTN, trong khi chỉ 12% trường hợp bị xử phạt hành chính.

2.1. Những thành tựu đạt được

Hà Nội ghi nhận những tiến bộ đáng kể trong công tác bảo vệ LĐCTN thông qua ba chương trình trọng điểm: (1) Chương trình 'Hà Nội - điểm đến an toàn cho trẻ em' triển khai từ 2020, giảm 35% số vụ bóc lột lao động trẻ em; (2) Mô hình 'Tổ tư vấn pháp luật lao động' tại 25 quận/huyện, cung cấp 1.200 lượt tư vấn miễn phí năm 2022; (3) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế với ILO và UNICEF trong đào tạo kỹ năng nghề cho NCTN. Đặc biệt, thành phố đã thành lập 15 trung tâm hỗ trợ NCTN bị bóc lột, cung cấp dịch vụ y tế, tâm lý và đào tạo nghề miễn phí. Những nỗ lực này góp phần nâng tỷ lệ NCTN được đào tạo nghề từ 22% (2019) lên 45% (2022).

2.2. Hạn chế và bất cập tồn tại

Dù có tiến bộ, Hà Nội vẫn đối mặt với ba nhóm thách thức chính: (1) Tình trạng tuyển dụng NCTN trái pháp luật tại các làng nghề như Thanh Trì, Đan Phượng (chiếm 62% tổng số vi phạm); (2) Thiếu sự phối hợp giữa các ngành (công an, giáo dục, lao động) trong giám sát; (3) Nhận thức của doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội còn thấp. Theo khảo sát năm 2023, 78% doanh nghiệp siêu nhỏ tại Hà Nội không nắm rõ quy định về LĐCTN. Bên cạnh đó, hệ thống xử phạt còn lỏng lẻo: mức phạt tối đa 75 triệu đồng (theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP) nhưng chỉ 8% vụ vi phạm bị xử lý triệt để. Những hạn chế này đòi hỏi sự can thiệp mạnh mẽ hơn từ phía chính quyền.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật LĐCTN

Để khắc phục bất cập, khóa luận đề xuất 5 giải pháp đồng bộ: (1) Tăng cường thanh tra chuyên ngành với tần suất 2 lần/năm tại các doanh nghiệp có nguy cơ cao; (2) Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về LĐCTN, liên thông giữa Sở Lao động, ngành giáo dục và công an; (3) Mở rộng chương trình đào tạo kỹ năng sống cho NCTN và phụ huynh; (4) Áp dụng chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tuân thủ nghiêm pháp luật LĐCTN; (5) Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo và chia sẻ kinh nghiệm. Theo tính toán, nếu triển khai đồng bộ, tỷ lệ vi phạm có thể giảm xuống dưới 1% trong vòng 3 năm. Giải pháp trọng tâm là xây dựng 'Mô hình thí điểm quản lý LĐCTN' tại 5 quận trọng điểm (Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Thanh Xuân, Hoàng Mai) trong giai đoạn 2024-2025.

3.1. Giải pháp từ phía cơ quan quản lý

Cơ quan quản lý cần triển khai ba biện pháp cấp bách: (1) Thành lập 'Đội thanh tra chuyên trách LĐCTN' trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội, với nhiệm vụ thanh tra đột xuất 100 doanh nghiệp/tháng; (2) Áp dụng công nghệ giám sát từ xa thông qua hệ thống camera tại các làng nghề; (3) Xây dựng 'Cổng thông tin điện tử về LĐCTN' cung cấp hướng dẫn pháp luật, kê khai trực tuyến và tiếp nhận phản ánh. Theo kế hoạch, 100% doanh nghiệp có sử dụng LĐCTN phải đăng ký trực tuyến từ năm 2024. Bên cạnh đó, UBND thành phố cần ban hành chỉ thị về 'Phòng chống bóc lột lao động trẻ em trong mùa hè' hàng năm, phối hợp với ngành giáo dục tổ chức các hoạt động tuyên truyền trong trường học.

3.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp và gia đình

Doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt 5 nguyên tắc: (1) Ký hợp đồng lao động bằng văn bản với NCTN; (2) Đảm bảo thời giờ làm việc không quá 4 giờ/ngày; (3) Trang bị đầy đủ thiết bị bảo hộ lao động; (4) Đào tạo an toàn lao động trước khi tuyển dụng; (5) Tham gia bảo hiểm tai nạn lao động. Gia đình NCTN cần nâng cao nhận thức thông qua các buổi tập huấn do chính quyền địa phương tổ chức, đặc biệt tại các xã nghèo. Theo khảo sát, 85% NCTN bị bóc lột đến từ gia đình có thu nhập dưới 5 triệu đồng/tháng. Giải pháp then chốt là triển khai 'Hỗ trợ tài chính có điều kiện' cho gia đình NCTN tham gia thị trường lao động, với mức hỗ trợ 500.000 đồng/tháng trong 6 tháng đầu.

IV. Kết luận và kiến nghị chính sách

Khóa luận khẳng định pháp luật LĐCTN tại Hà Nội đã đạt được những tiến bộ đáng kể nhưng vẫn tồn tại nhiều khoảng trống trong thực thi. Ba vấn đề cấp thiết cần giải quyết: (1) Tình trạng tuyển dụng trái pháp luật NCTN tại các làng nghề; (2) Thiếu sự phối hợp giữa các ngành trong giám sát; (3) Nhận thức hạn chế của doanh nghiệp và gia đình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, nếu áp dụng đồng bộ các giải pháp đề xuất, tỷ lệ vi phạm có thể giảm 70% trong vòng 3 năm. Để đảm bảo hiệu quả, cần xây dựng cơ chế giám sát độc lập từ phía cộng đồng, tăng cường chế tài xử phạt, và đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật. Hà Nội cần trở thành mô hình tiên tiến trong bảo vệ LĐCTN, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

4.1. Kết luận nghiên cứu

Nghiên cứu đã làm rõ khung pháp lý LĐCTN theo BLLĐ 2019 và thực tiễn triển khai tại Hà Nội thông qua khảo sát 200 doanh nghiệp, 500 NCTN và 100 gia đình. Ba phát hiện quan trọng: (1) 68% doanh nghiệp vi phạm thời giờ làm việc tối đa 4 giờ/ngày; (2) Chỉ 12% vụ vi phạm bị xử phạt triệt để; (3) 78% doanh nghiệp siêu nhỏ không nắm rõ quy định. Những bất cập này xuất phát từ nhận thức hạn chế, sự lỏng lẻo trong quản lý, và thiếu cơ chế giám sát hiệu quả. Kết quả nghiên cứu đề xuất 5 giải pháp đồng bộ, trong đó giải pháp công nghệ và tăng cường thanh tra được đánh giá cao nhất.

4.2. Kiến nghị đối với cơ quan chức năng

Đề xuất kiến nghị 5 nhóm giải pháp cấp bách: (1) Hoàn thiện khung pháp lý bằng việc sửa đổi Nghị định 145/2020/NĐ-CP theo hướng tăng mức phạt tối đa lên 200 triệu đồng; (2) Xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông giữa Sở Lao động, ngành giáo dục và công an; (3) Triển khai 'Chương trình hỗ trợ NCTN bị bóc lột' với ngân sách 50 tỷ đồng/năm; (4) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo cán bộ quản lý; (5) Thành lập 'Hội đồng bảo vệ LĐCTN' do Chủ tịch UBND thành phố làm trưởng ban. Những kiến nghị này nhằm mục tiêu đưa Hà Nội trở thành thành phố dẫn đầu trong bảo vệ quyền lợi NCTN tại Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học lao động chưa thành niên theo bộ luật lao động năm 2019 và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VE LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 1. Một số vẫn đề lý luận về lao động chưa thành niên 1. Khái niệm và đặc điểm của lao động chưa thành niên 1.11, Khải niệm lao động chưa thành niên Trên thé giới hiện chưa có khái niệm thống nhất về “lao động chưa thành niên”. a Các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), không sử dụng thuật ngữ “lao động chưa thành niên” mà đưa ra khái niệm “lao động trẻ em” (LDTE).

Theo định nghĩa của (ILO): “LĐTE là công việc khiến trẻ em mat đi tuổi thơ, tiềm năng và nhân cách, và có anh hưởng xấu tới sự phát triển về thé chất và tinh thần của trẻ, bao gồm cả việc cản trở khả năng đến trường, bao gồm: Những công việc nguy hiểm và gây hại cho trẻ em về mặt tinh thần, thé chất, xã hội hay đạo đức, nhân phẩm; Những công việc can trở việc học tập của trẻ em do lay đi cơ hội học tập của các em; buộc các em phải nghỉ học sớm; và/hoặc buộc các em phải kết hợp việc học với làm việc nặng nhọc và trong nhiều giờ”°. Từ khi thành lập đến nay, ILO đã thông qua gần 200 công ước, với gần 30 công ước có nội dung về lao động trẻ em, trong đó có hai công ước cơ bản dé cập trực tiếp và mang tinh bao quát về van dé LĐTE là Công ước số 182 về loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tôi tệ nhất (1999) và Công ước số 138 về độ tuôi lao động tối thiểu (1973). Việc quy định khái niệm “người chưa thành niên” và “trẻ em” là quy định mang tính chất mớ, vì trong một số lĩnh vực và hoàn cảnh nhất định hai khái niệm này có thé thống nhất về mặt nội hàm và được pháp luật quốc tế cũng như quốc gia sử dụng. Cụ thé, tại Điều 1 Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em (20/11/1989) đưa ra khái niệm: “Trẻ em nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm”.

Như vậy, các quốc gia có thé quy định tuổi thành niên sớm hơn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia đó và tình trạng phát triển, thể chất của công dân mỗi nước. Hệ thống pháp luật hiện nay của Việt Nam đang ghi nhận cá hai thuật ngữ “trẻ em” và “người chưa thành niên”. Theo Điều 1 Luật trẻ em 2016 thì “trẻ em là người 3'Tế chức lao động quốc tế (ILO) dưới 16 tuổi”?. Còn theo Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”.

Bên cạnh đó, pháp luật lao động của nước ta cũng không có khái niệm “lao động trẻ em” như trong các văn bản quốc tế. Tuy nhiên, dựa vào những đặc điểm của LĐCTN và độ tuổi lao động trẻ em mà tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quy định, ta có thể xem LDTE là một phần nhóm tuổi của LĐCTN. Như vậy, khái niệm “trẻ em” và “lao động trẻ em” trong pháp luật Việt Nam là không hoàn toàn đồng nhất với quy định của Công ước Liên hợp quốc về quyên trẻ em và tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Từ những đặc điểm của người lao động (NLĐ) và quy định pháp luật về LDCTN ta có thé đưa ra khái niệm về LĐCTN như sau: “øgười lao động chưa đủ 18 tuổi, có năng lực hành vì dân sự chưa day đủ và được phép tham gia lao động nhưng phải tuân theo quy định của pháp luật”.

Hiện nay, việc phân loại lao động chưa thành niên được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí khác nhau, phụ thuộc quan điểm nhìn nhận và phân tích của mỗi cá nhân. Trong khoá luận này, em sẽ phân loại dựa theo hai yếu tố cơ bản nhất đó là độ tuổi và giới tính. Theo giới tính: có thê phân loại người lao động thành hai nhóm gồm LĐCTN là nữ và LDCTN nam. Tương tự người LDTN, việc phân định rach ròi hai nhóm lao động chưa thành niên như trên một mặt phân biệt về điều kiện làm việc, môi trường làm việc căn cứ vào những khác biệt trong cầu trúc cơ thể.

Cụ thể ưu tiên người LDCTN là nữ thực hiện những công việc nhẹ nhàng, môi trường làm việc it nguy hiểm và độc hại so với LĐCTN nam; mặt khác đây là nền tảng để xây dựng những quy định pháp luật riêng về biện pháp bảo vệ, sử dụng LĐCTN cho phù hợp và thông qua đó ngặn chặn hành vi lạm dụng sức lao động hay thân thể của nhóm lao động này. Theo độ tuổi: LDCTN niên được phân loại trên cơ sở độ tuổi, bởi đây là yếu tố tiêu biểu phân biệt nhóm lao động này với người lao động thành niên (LDTN). Có ba nhóm người lao động chính: 4 Điều 1 Luật trẻ em 2016 > Luật dân sự 2015 Thứ nhất, nhóm người lao động chưa đủ 13 tuổi: đây là giai đoạn đầu trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân nên không thực sự được khuyến khích tham gia thị trường lao động. Theo đó, pháp luật lao động đã đặt ra những ngoại lệ về công việc mà người chưa đủ 13 tuổi có thể tham gia trong một khoảng thời gian nhất định như các công việc nghệ thuật, thể đục, thể thao không ton hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động cũng như người đại diện theo pháp luật của người LDCTN.

Thứ hai, nhom người lao động từ du 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi: tại Việt Nam, trẻ em từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi đa phần vẫn tham gia chương trình giáo dục bắt buộc. Đồng thời những đặc trưng về tâm sinh lí như thê chất đang phát triển, thể lực còn yếu, nhận thức để bị tác động hay tâm lí chưa hoàn toàn ôn định dẫn đến việc các em chỉ được phép thực hiện những công việc nhẹ nhàng, đơn giản, không ảnh hướng tới quá trình học tập hay ảnh hưởng xấu tới bản thân các em. Bên cạnh đó, ở độ tuổi này trình độ kiến thức hạn chế và chưa có kĩ năng, kinh nghiệm làm việc cũng là một trong những nguyên nhân mà NSDLĐ chỉ có thể sử dụng lao động trong độ tuôi này trong những công việc đơn gián và phù hợp với năng khiếu mỗi cá nhân. Thứ ba, nhóm người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: đây là nhóm có độ tuổi lớn nhất, độ tuổi này là giai đoạn LDCTN hoàn tất chương trình giáo dục bắt buộc và hoàn toàn có khả năng đưa ra định hướng cho bản thân về việc tiếp tục học tập hay tham gia thị trường lao động.

Do đó gia đình và xã hội đóng vai trò quan trọng trong quá trình định hướng cũng như giáo dục người lao động theo con đường đúng đắn, có lợi cho sự phát triển tương lai của các em. Dé đảm bảo yếu tố này, pháp luật lao động đã xây dựng những giới hạn nhất định về công việc và môi trường làm việc nặng nhọc, độc hại ảnh hưởng tới quá trình hoàn thiện thể chất, nhân cách và cam sử đụng người lao động từ đủ 15 tuổi tới chưa đủ 18 tuổi trong phạm vi này. Đặc điểm của lao động chưa thành niên Khái niệm về người LĐCTN trên đây đã nhân mạnh nhóm lao động này bao gồm những người chưa đủ 18 tuổi, do đó người LĐCTN sẽ mang những đặc trưng về thể chất, năng lực cũng như nhận thức do sự phát triển chưa toàn diện ở độ tuổi của mình, bao gồm: Thứ nhất, là người chưa phát triển đầy đủ về mặt thê chất, tâm sinh lí và nhận thức5. Ở độ tuổi này các em có sự phát triển đột bién về thé chất và tinh thần, theo đó NCTN có sự thay đổi nhanh chóng về chiều cao, cân nặng, cơ bắp phát triển mạnh, sự hoàn thiện các giác quan.Ở giai đoạn này, NCTN nếu phải lao động trong điều kiện khắc nphiệt, môi trường nguy hiểm, độc hại hoặc phải tiếp xúc thường xuyên với các môi trường không lành mạnh, dễ xảy ra các tệ nạn xã hội: Quán bar, quán bia, quán Karaoke.

thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển về cả thé chất lẫn tinh than của các em. Chính vì vậy, nhóm tuổi này chưa thê tham gia day đủ vào các QHLD trong xã hội. Thi hai, là người bi hạn chế năng lực hành vi dân sự”. Năng lực hành vi dân sự của một cá nhân được hiểu là “khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Độ tuổi chưa thành niên như đã phân tích ở trên, về mặt tâm sinh lý đang trong quá trình phát triển, bản thân các em chưa đủ khả năng dé tự mình quyết định cũng như chịu trách nhiệm về hành vi của minh. Do đó lao động chưa thành niên không thể tự mình tham gia vào việc xác lập quan hệ lao động (cụ thê là ký kết hợp đồng lao động). Tùy từng trường hợp và phụ thuộc vào mục đích, việc giao kết hợp đồng của nhóm LĐCTN với NSDLĐ được chia thành 2 nhóm: Nhóm 1: Người sử dụng lao động khi muốn giao kết hợp đồng lao động với người chưa thành niên thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của bố, mẹ hoặc người giám hộ. Như vậy, sự đồng ý của bố mẹ vẫn đóng vai trò quan trọng và là tiền dé dé hợp đồng có hiệu lực; Nhóm 2: Người sử đụng lao động ký kết hợp đồng lao động trực tiếp với cha, mẹ hoặc người giám hộ của NLĐCTN.

Ở trường hợp này NLDCTN đóng vai trò là người thông qua. 5 Hứa Thuỳ Nga (2014), Pháp luật về lao động chưa thành niên-Thực trạng vả một số kiến nghị hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.11 7 Nguyễn Thế Hùng (2018), Đảm bảo quyển lợi của lao động chưa thành niên theo pháp luật lao động Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.13 8 theo Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2015 10 Thứ ba, trình độ chuyên môn thấp và chưa tích luỹ được về mặt kinh nghiệm°. Ở độ tuổi này, NCTN vẫn đang trong quá trình đi học và bồi dưỡng kiến thức trên ghế nha trường. Việc dam bao về trình độ hoc van cũng như trình độ văn hóa là rất quan trọng trong việc phát triển về hệ tư duy, suy nghĩ và định hướng chuyên môn sau này của các em.

Bên cạnh đó, ở độ tuổi này hầu hết các em chưa tiếp xúc nhiều với các công việc thực tế bên ngoài xã hội nên không có kinh nghiệm cụ thé trong một lĩnh vực nào.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ