Khóa luận: Hợp đồng theo mẫu theo pháp luật Việt Nam - ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp luật học về hợp đồng theo mẫu theo quy định pháp luật Việt Nam. Phân tích thực trạng, lý luận và giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Pháp luật Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hợp đồng theo mẫu theo pháp luật Việt Nam

Hợp đồng theo mẫu là công cụ pháp lý quan trọng trong nền kinh tế hiện đại. Loại hợp đồng này xuất hiện từ cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch hàng loạt. Quy định pháp luật Việt Nam ghi nhận hợp đồng theo mẫu tại Điều 405 Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bản chất của hợp đồng theo mẫu là tính đơn phương xác lập nội dung từ phía bên cung cấp dịch vụ hoặc hàng hóa. Bên tham gia còn lại chỉ có quyền lựa chọn giao kết hoặc không giao kết. Việc áp dụng mẫu hợp đồng chuẩn giúp doanh nghiệp tiết kiệm tối đa thời gian đàm phán. Chi phí xác lập hợp đồng trên quy mô lớn được giảm thiểu rõ rệt. Tuy nhiên, tính chất bất đối xứng về quyền lực đàm phán luôn tiềm ẩn rủi ro xâm hại lợi ích bên yếu thế. Do đó, nghiên cứu lý luận về hợp đồng theo mẫu là tiền đề xây dựng cơ chế bảo vệ hữu hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam.

1.1. Bản chất pháp lý và đặc điểm cơ bản

Hợp đồng theo mẫu mang các đặc tính pháp lý riêng biệt so với hợp đồng truyền thống. Tính định sẵn thể hiện ở việc một bên tự đưa ra toàn bộ nội dung thỏa thuận từ trước. Tính gia nhập yêu cầu đối tác phải chấp nhận nguyên trạng văn bản mà không có quyền thay đổi từng điều khoản. Tính phổ biến gắn liền với việc áp dụng thống nhất cho vô số chủ thể trong quan hệ giao dịch đại chúng. Các giao dịch viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng và bất động sản luôn ưu tiên sử dụng mô hình này. Quy chuẩn hóa văn bản giúp quá trình giao kết diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên, sự mất cân bằng về quyền lực đàm phán đòi hỏi sự can thiệp chặt chẽ từ phía cơ quan nhà nước.

1.2. Phân biệt với các thuật ngữ pháp lý tương đồng

Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành có sự phân định giữa hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung. Hợp đồng theo mẫu chứa đựng cấu trúc hoàn chỉnh của một giao dịch cụ thể. Trong khi đó, điều kiện giao dịch chung chỉ gồm các quy tắc áp dụng chung do thương nhân công bố trước. Hợp đồng gia nhập nhấn mạnh vào hành vi tiếp nhận điều khoản mà không có thương thảo. Mẫu hợp đồng lại chỉ đóng vai trò là khung hướng dẫn để các bên tham khảo và tự do điều chỉnh. Việc phân định chính xác các khái niệm này bảo đảm áp dụng đúng trình tự đăng ký và kiểm soát theo luật định.

II. Phân tích bất cập hợp đồng theo mẫu theo pháp luật Việt Nam

Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng theo mẫu tại Việt Nam đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Doanh nghiệp thường tận dụng ưu thế thông tin để soạn thảo các điều khoản có lợi cho bản thân. Nhiều quy định mơ hồ hoặc gây bất lợi lớn được cài cắm tinh vi trong văn bản hợp đồng. Người tiêu dùng thường ký kết mà không đọc kỹ hoặc không có đủ năng lực chuyên môn để đánh giá rủi ro. Các lĩnh vực như bất động sản, bảo hiểm nhân thọ và tín dụng tiêu dùng ghi nhận số lượng khiếu nại rất lớn. Ngoài ra, việc cơ quan chức năng kiểm duyệt trước khi ban hành hợp đồng mẫu còn mang tính hình thức. Nhiều vi phạm chỉ được phát hiện sau khi tranh chấp thực tế đã bùng phát gay gắt. Cơ chế giải thích điều khoản không rõ ràng theo hướng có lợi cho bên yếu thế chưa được các tòa án áp dụng triệt để. Điều này làm giảm hiệu lực bảo vệ của pháp luật dân sự.

2.1. Thủ đoạn cài cắm điều khoản bất công và mập mờ ngôn ngữ

Bên soạn thảo thường sử dụng thuật ngữ kỹ thuật phức tạp để làm phân tâm khách hàng. Điển hình là các hợp đồng bảo hiểm hoặc mua bán căn hộ chung cư. Nhiều đơn vị lồng ghép điều khoản miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại một cách vô lý. Các cam kết bàn giao tài sản hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu thường bị gắn với cụm từ không rõ ràng như "sớm nhất có thể" hoặc "nỗ lực tối đa". Khách hàng hầu như không có cơ hội chỉnh sửa các điều khoản áp đặt này. Hệ quả là người tiêu dùng phải gánh chịu mọi rủi ro tài chính phát sinh khi có sự cố.

2.2. Khoảng trống kiểm soát từ cơ quan quản lý nhà nước

Công tác đăng ký hợp đồng theo mẫu hiện nay chịu sự quản lý của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia và Sở Công Thương. Tuy nhiên, quy trình thẩm định hồ sơ chủ yếu dựa trên mặt hình thức mà thiếu sự rà soát thực chất từng điều khoản. Nguồn nhân lực quản lý còn mỏng so với số lượng hợp đồng mẫu khổng lồ trên thị trường. Chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng điều khoản cấm chưa đủ sức răn đe. Bên cạnh đó, việc khởi kiện tập thể để bảo vệ người tiêu dùng tại tòa án vẫn gặp nhiều rào cản tố tụng. Thực trạng này tạo kẽ hở cho doanh nghiệp tiếp tục ban hành các hợp đồng mẫu bất bình đẳng.

III. Giải pháp hoàn thiện hợp đồng theo mẫu theo pháp luật Việt Nam

Hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng theo mẫu đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và thực chất. Các nhà lập pháp cần tiếp tục rà soát Bộ luật Dân sự và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Cần thiết lập danh mục chi tiết các điều khoản mặc nhiên vô hiệu nhằm hạn chế hành vi lạm dụng của bên bán. Cơ quan quản lý nhà nước cần nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu công khai để tiếp nhận và công bố các mẫu hợp đồng vi phạm. Việc tăng cường thanh tra đột xuất kết hợp xử phạt nghiêm khắc sẽ tạo tính răn đe mạnh mẽ trên thị trường. Song song với đó, các cơ quan tiến hành tố tụng cần áp dụng triệt để nguyên tắc giải thích bất lợi cho bên soạn thảo khi có tranh chấp. Sự phối hợp giữa tổ chức xã hội bảo vệ người tiêu dùng và cơ quan tư pháp là chìa khóa bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho cộng đồng.

3.1. Chuẩn hóa quy định về điều khoản vô hiệu và giải thích hợp đồng

Hệ thống pháp luật cần bổ sung tiêu chí cụ thể nhận diện các điều khoản bất công. Danh sách các điều khoản cấm cần được cập nhật liên tục theo biến động của thị trường kỹ thuật số. Quy tắc diễn giải hợp đồng theo nguyên tắc contra proferentem (bất lợi cho bên soạn thảo) phải được luật hóa rõ ràng hơn. Khi xuất hiện điều khoản mơ hồ, thẩm phán phải tự động suy đoán theo hướng bảo vệ bên tiêu dùng. Ngoài ra, cần thiết lập trách nhiệm chứng minh thuộc về bên cung cấp dịch vụ khi xảy ra tranh chấp về nội dung hợp đồng mẫu.

3.2. Ứng dụng công nghệ và phát huy vai trò giám sát xã hội

Chuyển đổi số trong quy trình đăng ký hợp đồng theo mẫu là giải pháp cấp bách. Cơ quan quản lý nên triển khai cổng thông tin điện tử tiếp nhận phản ánh trực tuyến từ người dân. Công nghệ phân tích dữ liệu tự động có thể hỗ trợ rà soát nhanh các điều khoản bất lợi trong hợp đồng trực tuyến. Đồng thời, Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần được trao quyền chủ động khởi kiện các doanh nghiệp vi phạm. Công tác phổ biến kiến thức pháp lý cộng đồng cũng cần được đẩy mạnh qua các phương tiện truyền thông đa phương tiện nhằm nâng cao cảnh giác cho người tiêu dùng.

IV. Ứng dụng khóa luận hợp đồng theo mẫu theo pháp luật Việt Nam

Khóa luận tốt nghiệp về hợp đồng theo mẫu mang giá trị lý luận và giá trị thực tiễn sâu sắc. Công trình nghiên cứu này hệ thống hóa toàn diện các luận điểm khoa học về giao dịch dân sự chuẩn hóa. Kết quả nghiên cứu cung cấp góc nhìn sắc bén về sự cân bằng giữa tự do ý chí và bảo vệ trật tự công cộng. Đối với cơ quan quản lý, các đề xuất trong khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật. Đối với cộng đồng doanh nghiệp, nghiên cứu đưa ra định hướng thiết lập hợp đồng tuân thủ chuẩn mực pháp lý và hạn chế rủi ro tranh chấp. Người tiêu dùng cũng tìm thấy những chỉ dẫn quan trọng để nhận diện điều khoản bất lợi nhằm bảo vệ quyền lợi cá nhân. Đây là tài liệu nền tảng phục vụ đắc lực cho đào tạo và thực hành nghề luật tại Việt Nam.

4.1. Nền tảng nghiên cứu cho sinh viên và nhà khoa học pháp lý

Khóa luận tốt nghiệp đóng vai trò nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho sinh viên ngành luật dân sự. Đề tài cung cấp phương pháp tiếp cận đa chiều từ lịch sử lập pháp đến kinh nghiệm quốc tế như UNIDROIT. Sinh viên có thể học hỏi cách xây dựng đề cương, thu thập số liệu thực tế và phân tích bản án tranh chấp thương mại. Các luận điểm trong khóa luận mở ra hướng nghiên cứu mới về hợp đồng điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong kỷ nguyên số. Đây là tài liệu bổ trợ chất lượng cho các học phần luật hợp đồng chuyên sâu.

4.2. Khả năng ứng dụng thực tiễn trong rà soát hợp đồng doanh nghiệp

Kết quả nghiên cứu cung cấp cẩm nang thực hành đắc lực cho luật sư và chuyên viên pháp chế nội bộ. Doanh nghiệp có thể sử dụng các tiêu chuẩn phân tích trong đề tài để tự rà soát hợp đồng dịch vụ. Việc loại bỏ sớm các điều khoản vi phạm pháp luật giúp doanh nghiệp tránh nguy cơ bị xử phạt hành chính hoặc đình chỉ lưu hành. Đồng thời, cấu trúc hợp đồng chuẩn mực nâng cao uy tín thương hiệu và gia tăng niềm tin nơi khách hàng. Doanh nghiệp vừa tối ưu hóa được quy trình bán hàng vừa bảo đảm an toàn pháp lý tuyệt đối.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học hợp đồng theo mẫu theo quy định pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HOP DONG THEO MẪU. Lich sử hình thành của hợp đồng theo mẫu Theo một số học giả, hợp đồng theo mẫu là hệ quả từ cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra từ cuối thé kỷ XIX tới đầu thé kỷ XX!. Khái niệm “Hop đồng gia nhập” (adhesion contract) được luật gia người Pháp Raymond Saleilles đề cập lần đầu trong tác phẩm “De la đéclaration de volonté” vào năm 1901.

Khi quá trình công nghiệp hóa phát triển mạnh mẽ, cùng với những cải tiễn trong kỹ thuật sản xuất, tiếp thị và phân phối, một mô hình hợp đồng mới đã đần hình thành. Phương thức giao kết hợp đồng truyền thống dựa trên sự thương lượng và mặc cả ngang bằng đã trở nên kém hiệu quả trước nhu cầu sản xuất hàng loạt và cung ứng hàng hóa, địch vụ tăng cao lúc bấy giờ. Trong bối cảnh đó, sự ra đời của hợp đồng theo mẫu là điều tất yếu, được xem là sự phát triển tự nhiên và bồ sung cho sản phẩm được sản xuất hàng loạt (mass production)’. Bóng dang của hop đồng theo mẫu đã được manh nha từ thời cô đại trong các hợp đồng cầm có, tín đụng ở Trung Quốc hay các hợp đồng bảo hiểm ở La Mã.

Các hợp đồng đó thường được soạn sẵn, chứa đựng những điều khoản bất công mà người tham gia hợp đồng chỉ có thé gia nhập hợp đồng mà không có cơ hội để thỏa thuận, thương lượng. Trong giai đoạn thé kỷ XVI - thé ky XVII, những dạng sơ khai của các hợp đồng hàng loạt xuất hiện trong các lĩnh vực như bao hiểm hang hải, vận chuyền và ngành công nghiệp mua bán hàng hóa. Tại các quốc gia có truyền thống hàng hải như Ý, Tây Ban Nha hay Hà Lan, ngành công nghiệp bảo hiểm đã tồn tại từ trước rất lâu và phát triển mạnh mẽ. Những dạng điều khoản được soạn trước trong những chính sách của các công ty vận chuyên, những hợp đồng thuê tàu chở hàng, các dạng vận đơn, bằng các hình thức thông thường và được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau, đã hàm chứa những điều khoản mẫu được viết ra từ thời kỳ Trung C63.

Theo đà phát triển này, hợp đồng theo mẫu bắt đầu được pháp luật điều chỉnh từ những năm 1930 tại Ý, tiếp đến là Israel vào những năm 1960 và đến châu Âu vào : Nguyễn Như Phát (2003), “Điều kiện thương mại chung vả nguyên tắc tự do khế ước”, Tạp chí Nha nước và Pháp luật. 2 Friedrich Kessler, (1943), “Contract of Adhesion- Some Thought about Freedom of Contract”, Columbia University Review, Vol 43, p. 3 John JA Burke (2003), Reinventing Contract, KIMEP University, tr.net/publication/256582428 Reinventing Contract, truy cap ngay 24/01/2025. Đến những năm 1980, tất cả các quốc gia thành viên của châu Au đã bị thuyết phục về sự cần thiết phải điều chỉnh các điều khoản chung trong hợp đồng tiêu đùng bằng pháp luật.

Cho tới nay, hợp đồng theo mẫu hầu như thay thế thỏa thuận được hình thành từ các điều khoản được thương lượng riêng để điều chính giao dịch trong tất cả lĩnh vực kinh doanh khác. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển mạnh mẽ của Internet và thương mại điện tử đã góp phần nâng cao tầm quan trọng của hợp đồng theo mẫu. Một trong những phương thức phô biến là hợp đồng dạng nhấp chuột (click-wrap), trong đó các điều khoản được hiền thị trong hộp văn bản cuộn, và người dùng phải nhấp vào nút “Tôi đồng ý” để xác nhận sự chấp thuận. Trong khi đó, mô hình thỏa thuận duyệt gói (browse-wrap) lại trình bày điều khoản dưới đạng liên kết thường đặt ở cuối trang web, và người đùng mặc nhiên đồng ý chỉ bằng hành động tiếp tục sử dụng trang.

Tại Việt Nam, chế định hợp đồng theo mẫu lần đầu tiên được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 1995, và tiếp tục ghi nhận và sửa đổi, bổ sung tại BLDS năm 2005, Luật bao vệ quyền lợi người tiêu ding 2010 và đến Bộ luật Dân sự 2015. Ngoài ra, hợp đồng theo mẫn còn được ghi nhận ở rải rac các văn bản đưới luật dé tăng cường kiểm soát và điều chỉnh khiến nó hoàn thiện hơn. Như vậy, thông qua việc nghiên cứu lịch sử hình thành của chế định hợp đồng theo mẫu, có thể thấy răng chế định này được ghi nhận một cách khách quan, là hệ quả tất yếu của sự phát triển bùng nỗ của các ngành sản xuất, dịch vụ mang tính chất độc quyền khi cuộc chơi chỉ được điều khiển bởi một vài các công ty lớn trong các lĩnh vực đó, trong khi số lượng người sử dụng các hàng hóa, dịch vụ thì vô cùng lớn, dẫn đến sự chênh lệch về vị thế giữa các bên và từ đó, khả năng áp đặt ý chí, đưa ra các nội dung trong hợp đồng theo mẫu cũng thuộc về bên có vị thế cao hơn, dẫn tới sự áp dụng chế định này trong thời đại hiện nay. Khái niệm hợp đồng theo mẫu Chế định hợp đồng theo mẫu là hệ qua tất yêu, khách quan của nền công nghiệp phát triển và được ghi nhận trong hầu hết Bộ luật Dân sự ở các quốc gia với nhiều cách tiếp cận và gợi tên khác nhau.

Thuật ngữ Hợp đồng theo mẫu (standard form contract hay standard terms contract) được dùng trong các giao dịch tiêu dùng như báo hiểm, ngân hàng và bất động sản. Thuật ngữ “hợp đồng gia nhập” (adhesion contract) bat nguồn từ Bộ luật dân sự Pháp, được sử dụng rộng rãi tại Châu Âu và Mỹ. Cách gọi “điều khoán mau” (standard terms) thường được sử dụng trong quan hệ thương mại quốc tế. Theo từ điển Deluxe Black’s Law Dictionary, hợp đồng theo mẫu là dạng hợp đồng in sẵn có chứa các điều khoản đã định, được sử dụng nhiều lần bởi một doanh nghiệp hoặc trong một ngành cụ thé và chỉ có thể bé sung hoặc sửa đổi nhỏ dé đáp ứng tình huống cụ thể.

Hợp đồng theo mẫu có lợi cho bên soạn thảo, vì vậy chúng có thể tương tự như các hợp đồng gia nhập. Hợp đồng gia nhập, cũng theo từ điển Deluxe Black’s Law Dictionary, là dạng hợp déng theo mẫu do một bên soạn thảo, được sử dụng để ký kết với bên khác có vị trí yếu hơn, chang hạn như người tiêu dùng, người gia nhập vào hợp đông với rât ít sự lựa chọn về điêu khoản.” Theo định nghĩa của Viện thông tin pháp lý - Trường Đại học Luật Cornell, Mỹ, hợp đồng gia nhập được hiểu là loại hợp đồng được soạn thao bởi một bên (thường là bên thương nhân có sức mạnh đàm phan) và ký kết với một bên yếu thé hơn (thường là người tiêu đùng có nhu cầu đối với hàng hóa hoặc địch vụ của thương nhân), bên này phải gia nhập hợp đồng mà không được quyền đàm phán hoặc sửa đổi các điều khoản của hợp đồng. Loại hợp đồng này thường được sử dụng trong các giao địch liên quan đến bảo hiểm, hợp đồng thuê nhà, chứng thư, thế chấp, mua bán ô tô và các hình thức tin dụng tiêu dùng khácŠ. Phản ánh các đặc tính nêu trên, thuật ngữ “hợp đồng theo mẫu” được tìm thấy trong pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới với những cách định nghĩa khác nhau nhưng về cơ bản đều thể hiện chung bản chất.

Tại Hoa Kỳ, hợp đồng theo mẫu (“form contract”) được định nghĩa trong Đạo luật Công bang trong giao dịch tiêu dùng năm 2016 (the Consumer Review Fairness Act of 2016) là một hợp đồng với các điều khoản mẫu (“standardized terms”) được sử dụng bởi một người bán hoặc cho thuê hàng hóa hoặc dịch vụ của người đó; và áp dụng đối với một người mà trong đó người này không có cơ hội thực chất dé đàm phan về các điều khoản mẫu đó.” Do không có cơ hội thực chất để đàm phán, có thé hiểu phía bên được dé nghị giao kết hợp đồng phải chap nhận các điều khoản mẫu do doanh nghiệp đưa ra trong trường hợp muốn giao kết hợp đồng. Như vậy, tương tự như định nghĩa tại Từ điển Deluxe Black’s Law, Luật Công bằng trong giao dịch tiêu 4 Deluxe Black’s Law Dictionary (1990), Deluxe Tenth Edition, West Publishing Co, p. 5 Deluxe Black’s Law Dictionary (1990), Deluxe Tenth Edition, West Publishing Co, p.edu/wex/adhesion contract, truy cập ngày 15/01/2025.3 Luật Công bằng trong giao dịch tiêu dùng Mỹ, https://www.gov/bill/114th-congress/house- bill/5111/text, truy cập ngày 1/01/2025. dùng Mỹ cũng xác định hai yếu tố cấu thành hợp đồng theo mẫu: yếu tố mẫu (điều khoản mau)/yéu tô soạn săn và yêu tô chap nhận.

Tại Uc, Luật Cạnh tranh và Người tiêu dùng Úc không đưa ra định nghĩa cụ thể mà xác định hợp đồng theo mẫu dựa trên các yếu tố:Š một bên có tất cả hoặc hầu hết quyền thương lượng - phía bên kia không có cơ hội hiệu quả dé thương lượng - dẫn tới hệ quá là họ được yêu cầu giao kết hợp đồng soạn sẵn trên cơ sở chấp nhận hoặc từ chối (“take it or leave it”) vào một giao dịch mang tính mẫu không tinh đến các đặc điểm cụ thể của bên kia hoặc của giao dịch (trừ một số nội dung đặc định của giao dịch đã được loại trừ khỏi phạm vi mẫu như giá cả hàng hóa, mô tả hàng hóa). Nói cách khác, có thể thấy, mặc dù không đưa ra định nghĩa nhưng Luật Cạnh tranh và Người tiêu dùng Úc cũng xoay quanh các yếu tố: đặc tính soạn sẵn/ tính mẫu - đặc tính chấp nhận (do sự bất bình đẳng về quyền lực thương lượng) để xác định hợp đồng theo mẫu. Dù cách tiếp cận có khác nhau, các định nghĩa về hợp đồng theo mẫu đều nhắn mạnh hai yếu tố cốt lõi là tính soạn sẵn và tính chấp nhận?, tạo cơ sở cho việc xác định loại hợp đồng này trong thực tiễn. Theo đó, người bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ đề nghị giao kết hợp đồng với người tiêu đùng thông qua các điều khoản soạn sẵn; bên người tiêu dùng khi lựa chọn chấp nhận lời dé nghị giao kết sẽ đồng nghĩa với việc chấp nhận toàn bộ nội dung dự thảo hợp đồng đã được đề nghị.

Một ví dụ điển hình về hợp đồng theo mẫu thường xuyên xuất hiện trong đời sống là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: Các điều khoản được công ty bảo hiểm soạn sẵn và người mua bảo hiểm chỉ có thể chấp nhận hoặc từ chối, mà không có cơ hội đàm phán về nội dung. Trong thời kỳ bùng nỗ của thương mại điện tử hiện nay, các điều khoản sử đụng dịch vụ của các nền tang, ứng dung di động như Amazon hay Shopee cũng là một dang hợp đồng theo mẫu, khi người ding chỉ có thé nhấp “Đồng ý” để sử dụng dịch vụ ma không thể thương lượng các điều khoản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ