Khóa luận quản lý và bảo vệ biển đảo thời Nguyễn - ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận luật học nghiên cứu hoạt động quản lý, bảo vệ biển đảo Việt Nam dưới thời Nguyễn cùng các giá trị kế thừa phục vụ xác lập chủ quyền.

Chuyên ngành

Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý và bảo vệ biển đảo Việt Nam thời Nguyễn

Vương triều Nguyễn đánh dấu giai đoạn phát triển đỉnh cao của tư duy quản lý biển đảo trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Nhận thức chiến lược về không gian sinh tồn và an ninh lãnh thổ đã thúc đẩy các vị vua triều Nguyễn thực thi nhiều chính sách biển đồng bộ. Triều đình coi biển đảo là phên dậu bảo vệ quốc gia. Các chính sách bao gồm việc củng cố bộ máy hành chính ven biển và kiểm soát chặt chẽ tàu thuyền ngoại quốc. Hệ thống pháp luật thời kỳ này, đặc biệt là Hoàng Việt luật lệ, đã dành nhiều điều khoản quy định trách nhiệm bảo vệ bờ cõi và trừng trị các hành vi xâm phạm hải phận. Bên cạnh đó, triều đình khuyến khích phát triển kinh tế biển kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ quốc phòng. Hoạt động quản lý biển đảo thời Nguyễn diễn ra có tổ chức và mang tính liên tục. Đây là giai đoạn chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được xác lập một cách rõ ràng, minh bạch và có hệ thống trên thực địa lẫn văn bản hành chính nhà nước.

1.1. Bối cảnh lịch sử và tư duy biển đảo của triều Nguyễn

Triều Nguyễn thống nhất đất nước với đường bờ biển dài từ Bắc chí Nam. Vị thế địa lý đặc thù đặt ra yêu cầu cấp thiết về phòng thủ và phát triển kinh tế. Các hoàng đế như Gia Long và Minh Mạng đều có tầm nhìn hướng biển sâu sắc. Triều đình nhận thức rõ tầm quan trọng của các cửa biển, cù lao và hải trình giao thương quốc tế. Tư duy này định hình nên hệ thống quản trị biển chặt chẽ. Nhà nước chủ động nắm bắt thông tin duyên hải, ghi chép địa lý và vẽ bản đồ chi tiết. Biển đảo trở thành một phần không thể tách rời trong cấu trúc an ninh quốc gia.

1.2. Nhận thức chủ quyền biển đảo trong Hoàng Việt luật lệ

Hoàng Việt luật lệ là văn bản pháp lý tối cao thời Nguyễn, phản ánh nhận thức pháp lý tiến bộ về lãnh thổ quốc gia. Bộ luật quy định nghiêm ngặt việc canh phòng bờ biển và quản lý cửa ải. Bất kỳ hành vi vượt biển trái phép hoặc buôn lậu vũ khí đều bị xử phạt nặng. Quan chức địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp nếu để xảy ra sơ hở trong an ninh duyên hải. Luật pháp triều Nguyễn bảo vệ quyền tài phán quốc gia trên vùng nước ven bờ. Các quy định này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc quản lý hải đảo, trừng trị cướp biển và kiểm soát tàu buôn phương Tây.

II. Thực trạng quản lý và bảo vệ biển đảo Việt Nam dưới thời Nguyễn

Hoạt động quản lý và bảo vệ biển đảo dưới triều Nguyễn được triển khai sâu rộng trên nhiều mặt công tác. Về mặt hành chính, triều đình trực tiếp sáp nhập các hải đảo vào hệ thống quản lý của các tỉnh duyên hải. Các đội Hoàng Sa và Bắc Hải được duy trì để thực hiện nhiệm vụ đo đạc hải trình, dựng bia và cắm mốc chủ quyền. Về mặt quân sự, nhà Nguyễn xây dựng hệ thống đồn lũy, bảo đài và pháo đài kiên cố tại các cửa biển trọng yếu. Lực lượng thủy quân được tổ chức quy củ với nhiều phân đội chuyên trách tuần tra. Triều đình cũng chủ động đối phó với nạn cướp biển và các mối đe dọa từ tàu chiến phương Tây. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn bộc lộ một số hạn chế do kỹ thuật vũ khí lạc hậu và sự hạn chế trong giao thương quốc tế dưới thời kỳ sau. Bất chấp những khó khăn đó, thành quả xác lập chủ quyền thực tế của triều Nguyễn vẫn mang giá trị lịch sử và pháp lý vững chắc.

2.1. Hoạt động thực thi chủ quyền và quản lý hành chính biển đảo

Nhà Nguyễn đã liên tục cử các đoàn công tác ra Hoàng Sa và Trường Sa để khảo sát địa hình và vẽ bản đồ. Năm 1816, vua Gia Long chính thức cử quân đội ra xác lập chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa. Dưới thời Minh Mạng, triều đình cho dựng bia chủ quyền, xây chùa và trồng cây trên các đảo cát. Những hoạt động này được ghi chép tường tận trong Châu bản triều Nguyễn và Đại Nam thực lục. Việc thu thuế tàu thuyền nước ngoài và cứu trợ các tàu bị nạn trên vùng biển Việt Nam cũng được thực hiện thường xuyên. Điều này chứng minh quyền quản lý nhà nước liên tục và hòa bình.

2.2. Xây dựng lực lượng thủy quân và hệ thống phòng thủ ven biển

Triều Nguyễn chú trọng phát triển thủy quân với nhiều chủng loại thuyền chiến đa dạng. Quân đội được trang bị từ các loại thuyền gỗ truyền thống đến tàu bọc đồng và tàu chạy bằng hơi nước. Nhà Nguyễn đã tự chế tạo tàu máy hơi nước theo kỹ thuật phương Tây dưới thời Minh Mạng. Dọc bờ biển, hệ thống đài hỏa hiệu và pháo đài được thiết lập dày đặc để truyền tin và phòng thủ. Các chuyến tuần tra định kỳ của thủy quân giúp kiểm soát an ninh và trấn áp hải tặc hiệu quả. Mạng lưới phòng thủ này thể hiện quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biển của triều đình.

III. Giá trị kế thừa trong hoạt động quản lý bảo vệ biển đảo hiện nay

Những kinh nghiệm từ triều Nguyễn cung cấp nguồn tư liệu lịch sử và cơ sở pháp lý vô giá cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo ngày nay. Việc kế thừa các bài học lịch sử đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế. Hệ thống chứng cứ lịch sử thời Nguyễn giúp Việt Nam khẳng định chủ quyền vững chắc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo chuẩn mực của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Ngoài ra, tư duy kết hợp giữa quản lý hành chính, phát triển kinh tế biển và củng cố quốc phòng an ninh thời Nguyễn vẫn giữ nguyên giá trị thời sự. Các cơ quan chức năng hiện đại cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý biển, nâng cao năng lực thực thi của lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư. Đồng thời, việc đẩy mạnh ngoại giao pháp lý và tuyên truyền chứng cứ lịch sử trên trường quốc tế là giải pháp trọng tâm để giữ vững chủ quyền biển đảo.

3.1. Kế thừa cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử xác lập chủ quyền

Hệ thống Châu bản, địa chí và bản đồ thời Nguyễn là nguồn bằng chứng đanh thép trước công pháp quốc tế. Việc thực thi chủ quyền của triều Nguyễn đáp ứng trọn vẹn nguyên tắc chiếm hữu thực sự, hòa bình và liên tục. Hiện nay, các tài liệu này được số hóa và công bố rộng rãi để bảo vệ lợi ích quốc gia. Việt Nam tiếp tục sử dụng các tư liệu cổ kết hợp với UNCLOS 1982 để củng cố hồ sơ pháp lý. Việc chuẩn hóa chứng cứ lịch sử giúp phản bác các yêu sách phi lý từ các bên tranh chấp.

3.2. Đổi mới chiến lược kết hợp quốc phòng với phát triển kinh tế biển

Bài học thời Nguyễn về xây dựng lực lượng phòng thủ và khai thác tài nguyên biển được ứng dụng mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay. Nhà nước chú trọng xây dựng lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư chính quy, hiện đại. Ngư dân được hỗ trợ vươn khơi bám biển, vừa khai thác kinh tế vừa tham gia bảo vệ chủ quyền. Chính sách này tạo nên thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên biển. Bên cạnh đó, việc áp dụng khoa học công nghệ vào giám sát biển giúp kiểm soát hiệu quả tình trạng đánh bắt bất hợp pháp.

IV. Kết luận về quản lý và bảo vệ biển đảo Việt Nam dưới thời Nguyễn

Nghiên cứu hoạt động quản lý và bảo vệ biển đảo dưới thời Nguyễn khẳng định tầm vóc lịch sử và giá trị thực tiễn to lớn đối với nền pháp lý Việt Nam. Triều Nguyễn đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử trong việc định hình và thực thi chủ quyền quốc gia trên không gian biển. Những di sản tư liệu và bài học về quản trị biển thời kỳ này là nền tảng vững chắc cho chiến lược biển Việt Nam thế kỷ 21. Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay đòi hỏi sự kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược. Việc kết hợp sức mạnh lịch sử, pháp lý và năng lực thực thi thực địa sẽ bảo đảm toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng. Khóa luận tốt nghiệp luật học về đề tài này không chỉ làm sáng tỏ quá khứ mà còn đóng góp thiết thực vào công cuộc đấu tranh pháp lý bảo vệ chủ quyền biển đảo hôm nay.

4.1. Đánh giá tổng thể di sản quản lý biển đảo của vương triều Nguyễn

Di sản quản trị biển của triều Nguyễn là một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Triều đình đã thể chế hóa việc quản lý biển bằng pháp luật và hành động thực tiễn. Những bản đồ như Đại Nam nhất thống toàn đồ là minh chứng không thể chối cãi về cương vực quốc gia. Dù đối mặt với nhiều biến động lịch sử, các quyết sách bảo vệ biển của triều Nguyễn vẫn để lại dấu ấn sâu sắc. Đây là tài sản pháp lý vô giá của toàn dân tộc Việt Nam.

4.2. Khuyến nghị giải pháp hoàn thiện chính sách biển đảo trong kỷ nguyên mới

Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về biển phù hợp với luật pháp quốc tế. Việc đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị cho các lực lượng chấp pháp trên biển cần được ưu tiên hàng đầu. Song song với đó, công tác giáo dục lịch sử và nâng cao nhận thức cộng đồng về chủ quyền biển đảo phải được đẩy mạnh. Việc phát huy giá trị di sản thời Nguyễn sẽ tiếp thêm sức mạnh cho công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo trong thời kỳ hội nhập sâu rộng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học hoạt động quản lý và bảo vệ biển đảo việt nam dưới thời nguyễn và những giá trị kế thừa

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE QUAN LÝ VA BAO VE BIEN DAO THOI NGUYEN 1. Khái quát về tình hình bién, đảo Việt Nam dưới thời Nguyễn Dưới thời Nguyễn, khu vực biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam đã được xác lập từ Bắc đến Nam, tương đương với khu vực biển dao của chúng ta hiện nay, đó là vùng biển từ Quảng Yên (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) với các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy việc giao thương, buôn bán với nước ngoài không còn nhộn nhịp, phồn thịnh như trước nhưng biển Đông vẫn là tuyến giao hang hải cực kỳ quan trọng kết nối giữa Việt Nam và các nước trong khu vực nhất là với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Các nước phương Tây vẫn thông qua con đường này để tiếp cận với Việt Nam và các nước trong khu vực dé tìm kiểm mở rộng thị trường buôn bán, tìm kiếm nguồn tài nguyên phục vụ phát triển công nghiệp.

Trong bối cảnh ấy, triều Nguyễn vừa lo củng cố tuyến phòng thủ ven biển, vừa tìm cách xác lập, thực thi chủ quyền của mình đối với vùng biển, các đảo và quần đảo từ Bắc đến Nam. Vùng biển miền Trung đóng vai trò trung tâm trong chiến lược biển, đáo thời Nguyễn đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà Nguyễn đã có ý thức xây dựng hệ thống phòng thủ mạnh ở nơi đây như ở cửa Thuận An, Đà Nẵng, Thị Nai,. trang bị vũ khí cho các pháo đài Trấn Hải, Điện Hải, Hải Vân Quan,.nham phục vụ cho công tác bảo vệ đất nước và vương triều.

Đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhà Nguyễn đã cho tái lập đội Hoàng Sa nhằm đo đạc, cắm mốc, đánh dấu cương vực từ đây nỗi tiếp các vị vua triều Nguyễn liên tục thực hiện các hoạt động nhằm khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với lực lượng thủy quân được tổ chức quy củ và ngày càng lớn mạnh. Vùng biển Tây Nam vẫn được nhà Nguyễn quan tâm chú trọng xây dựng về hệ thông phòng thủ và chăm lo phát triển kinh tế như: xây dựng hệ thông Lũy Giang Thành, kênh Vĩnh Tế, các pháo đài ở Kim Dữ, Hòn Tre,. kết hợp tạo thành thế trận phòng thủ liên hoàn đất liền - hải đảo cùng với đó là việc chống hải tặc, thu thuế biệt nạp đối với hoạt động khai thác yến sào của cư dân đảo Côn Lôn, Phú Quéc,. Ving biển Đông Bắc tương đối ổn định được các vị vua của vương triều tiếp tục 8 ra sức xây dựng và bảo vệ an ninh bên cạnh đó là những cuộc khẩn hoang các địa bàn ven biển miền Bắc tiêu biểu là Nguyễn Công Trứ với sự ra đời của các huyện Tiền Hải (Thái Binh), Kim Sơn (Ninh Binh).

Không chi có các hoạt động về chính tri, quân sự mà trên không gian biển đảo rộng lớn của tô quốc nhà Nguyễn còn thực hiện đa dạng chính sách để phù hợp với tinh hình và đặc điểm của môi trường này như các chính sách về vận tải biển, cứu hộ cứu nạn, tuần tra tiéu phi, khai thác hai sản và đánh bắt các sinh vật biển khác,. Các yếu tác động đến quan lý và bảo vệ biển dao thời Nguyễn 1. Nhận thức của nhà Nguyễn về vị trí, vai trò của biển đảo Trong suốt quá trình tồn tại của mình triều Nguyễn đã nhận thức được biển đảo có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn vong của triều đại. Vua Gia Long, vị vua sáng lập triều Nguyễn, ngay khi lên cầm quyền đã ý thức được sự khó khăn trong gìn giữ chủ quyền biển đảo mà khuyên ran các bậc triều thần và các bậc cầm quyền “Côn Lồn, Phú Quốc, Thi Nai, Cù Mông trẫm cùng với các tướng sĩ các ngươi đã trăm trận đánh vất va mới có ngày nay.

Lúc yên đừng quên lúc nguy. Đó thực là đạo giữ nước yên dân”. Tháng 7 năm 1803, vua Gia Long cho tái lập lại đội Hoàng Sa, lấy cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ đân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa. Năm 1815, nhà vua sai Phạm Quang Ảnh? thuộc đội Hoàng Sa ra đảo quần đảo này xem xét, đo đạc thủy trình.

Năm 1816, vua Gia Long lại sai thủy quân và đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình. Như vậy, theo chính sử trong 2 năm liên tiếp vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn đã ít nhất hai lần sai người ra Hoàng Sa thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này. Tiếp tục kế thừa tư duy hướng biển của vua Gia Long, vua Minh Mạng cùng với quá trình kiện toàn bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương theo nguyên tắc “tôn quân quyền”, đã rất quan tâm đến việc đo đạc, vẽ bản đồ, xác định Cương gidi đối với biển, đảo t6 quốc. Năm 1834, vua Minh Mang ra chỉ dụ cho bộ Công về việc đo đạc, xác lập hệ thống bản đồ về vùng ven biển, các hải cảng, cửa biển và đảo trên biển của nước ta như sau: ! Quốc sử quán Triều Nguyễn, 2002, Dai Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.

? Phạm Quang Ảnh là người xã An Vinh, Cù Lao Ré, nay thuộc thôn Đông, xã An Vinh, đảo Lý Son. 9 "Không cứ đảo nào, cửa bé nào thuyền chạy đến, sẽ do nơi dy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiễu, rà bên bờ nước bề nông hay sâu. Có cát ngắm đá mém hay không, ở tình thé hiểm trở hay bình thường, xem do tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa nào ra bé, trông phương hướng nào mà lai đến nơi ay, cứ theo đường thủy đã di khẩu tính ước được bao nhiêu dặm đường, lại ở chắn ấy trông vào bờ bề đổi thẳng là tỉnh hạt nào và phương hướng nào. Ước lượng cách bờ bao nhiêu dam đường.

Ghi nói minh bach trong họa đồ đề về trình lên. Lại từ năm nay trở VỀ sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng chiếu theo lệ ấy mà lam”3 Trước bán tâu của Bộ Công “ Cương giới biển của ta, xứ Hoàng Sa là tối hiểm yếu ”, năm 1836, vua Minh Mạng đã cho đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem theo 10 cái bài gỗ dựng dấu mốc đánh dấu chủ quyền của nhà Nguyễn đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này cho thấy những vị vua đầu của nhà Nguyễn đã sớm nhận thức được vị trí chiến lược của các vùng biển, dao đất nước mà trước hết là quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và thực hiện sứ mệnh quan ly nhà nước đối với hai quần đảo này. Có một nguồn tư liệu khác vô cùng sống động và bền vững đã thể hiện tư tưởng của vua Minh Mạng về biển đảo hiện còn lưu giữ tại C6 đô Huế, đó là các hình ảnh trên Cửu Dinh.

Cửu Dinh là 9 đỉnh đồng lớn được vua Minh Mạng cho đúc vào tháng 12 năm 1835, hoàn thành vào tháng 3 năm 1837. Các hình ảnh được thé hiện trên Cửu Dinh như: Đông Hải * được khắc vào Cao Dinh là đính lớn nhất trong Cửu Dinh; Nam Hai > được khắc vào Nhân Dinh va Tây Hải 5 được khắc vào Chương Đỉnh, đây cũng là 3 đỉnh lớn nhất tượng trưng cho ba vị vua đầu tiên của triều Nguyễn chứng minh được răng triều đình nhà Nguyễn mà trực tiếp là vua Minh Mạng đã rất quan tâm đến biên, đảo đất nước (xem thém phụ lục 1). Không chỉ nhận thức về vị trí của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà các vị vua triều Nguyễn cũng đã có nhận thức về vị trí quan trọng của các vùng biên, đảo khác như cửa Thuận An, Đà Nẵng, vùng biển Tay Nam hay vùng biên phía Bắc dưới góc nhìn về vị thé chính trị - quân sự, kinh tế và giao thông vận tải với những hành động cụ thé. Đối với cửa Thuận An, nhà Nguyễn xem đây là nơi có vị trí xung yếu, liên quan mật thiết đến sự an nguy, tồn tại của triều đại mà trước hết là kinh đô Phú Xuân.

Năm 3 Nội các Triều Nguyễn, 1993, Kham định Đại Nam hội điển sự lệ, quyền 221, tập 13, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 4 Chi vùng biển phía đông thuộc chú quyền của Việt Nam, trong Biển Đông có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. > Vùng phía nam thuộc chủ quyền nước ta. Vùng biển nằm về phía tây thuộc chủ quyền nước ta.

10 1837, vua Minh Mang ra chỉ dụ cho bộ Công “ cửa bề Thuận An là nơi thiết yếu vùng bề, ở ngay nách kinh đô ”7 có thé tạo nên một thế trận phòng thủ liên hoàn khi kết hợp với các cửa biển khác bảo vệ kinh thành Huế từ phía Đông là hai cửa biển Tư Hiền và Tư Dung “Kinh sư là nơi miền núi, miễn biển đều hợp về, đứng giữa Miền Nam Miễn Bắc, đất đai cao ráo, non song phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cua Tư Hiền sâu hiểm; đường bộ thì có Hoành Sơn, ai Hải Vân chặn ngăn”Š. Tuy nhiên cửa Tu Dung đã bị bôi lấp vì thé nhà Nguyễn thường xuyên nạo vét dé khai thông cửa biến này theo lời của vua Minh Mạng bởi vì theo ông nơi đây có quan hệ đến thịnh suy của quốc vận nên phải làm cho dòng chảy lưu thông. Vùng biển Đà Nẵng được nhà Nguyễn nhìn nhận vừa có vai trò về mặt quân sự vừa có vai trò về mặt đối ngoại, kinh tế. Theo vua Minh Mạng vịnh Sơn Trà (Đà Nẵng) có ý nghia quân sự lớn bởi dia thé hiểm trở, thuận tiện cho phòng thủ mà khó khăn dé tấn công, khang định: “Chỗ yếu lại thì không đâu bằng vụng Sơn Trà.

Tàu ngoại quốc đến chỉ có thé đậu ở đây, mà chướng khí rất dữ, giếng độc hon 10 cdi. Trước có tàu Tây dương đến tránh gió ở đấy, cuối cùng cũng bị nước độc làm hại, do day mà nói rang người ngoại quốc dit có muốn dom ngó cũng không sao làm được. Hơn nữa do đó ta lại giữ được chỗ hiểm dé tàu thuyén kia mà”°. Về kinh tế đối ngoại, ngay từ khi lên ngôi vua Gia Long đã chọn Đà Nẵng làm hải cảng chính thức và duy nhất thực hiện chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn với các nước đến quan hệ đường biển.

Năm 1837 vua Minh Mạng ban dụ chỉ: tan Da Nẵng thuộc tinh Quảng Nam là vùng biển quan trọng ở gần kinh kỳ, nơi có nhiều tàu thuyền nước ngoài qua lại, phục vụ cho việc giao thương của nhà Nguyễn với các nước trong khu vực và các nước phương Tây.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ