Khóa luận: Hàng hóa giả mạo sở hữu trí tuệ - Trường ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp luật học phân tích quy định pháp luật và thực tiễn xử lý hàng hóa giả mạo trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

132
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan hàng hoá giả mạo trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Khóa luận tốt nghiệp luật học nghiên cứu toàn diện về hàng hoá giả mạo trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Đề tài này có ý nghĩa học thuật và giá trị thực tiễn sâu sắc. Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và hàng hoá sao chép lậu. Khái niệm này được quy định rõ tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Hành vi giả mạo không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của chủ thể nắm quyền sở hữu trí tuệ. Nó còn gây lừa dối người tiêu dùng và làm suy giảm trật tự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Nghiên cứu xác định rõ ranh giới pháp lý giữa hàng hoá giả mạo và các dạng thức xâm phạm quyền thông thường. Đây là điều kiện tiên quyết để định danh chính xác tội danh và lựa chọn chế tài tương thích. Hệ thống pháp luật quốc gia hiện nay đã có nhiều bước tiến nhằm tương thích với các chuẩn mực quốc tế như Hiệp định TRIPs, CPTPP và EVFTA. Việc hoàn thiện khung lý luận giúp cơ quan thực thi pháp luật nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra và truy cứu trách nhiệm pháp lý.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hàng hoá giả mạo

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, hàng hoá giả mạo nhãn hiệu mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ cho chính mặt hàng đó. Hàng hoá giả mạo chỉ dẫn địa lý mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự dùng cho sản phẩm cùng loại có nguồn gốc xuất xứ sai lệch. Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất trái phép mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc quyền liên quan. Đặc điểm pháp lý nổi bật của loại hàng hoá này là tính chất tinh vi, có chủ đích gian dối và khả năng gây nhầm lẫn rất cao. Việc phân định chính xác các yếu tố này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình giám định và xử lý vi phạm.

1.2. Phân biệt hàng hoá giả mạo sở hữu trí tuệ và hàng giả

Hàng giả theo quy định thương mại tập trung vào sự gian lận về chất lượng, công dụng và chỉ tiêu kỹ thuật của sản phẩm. Ngược lại, hàng hoá giả mạo sở hữu trí tuệ nhấn mạnh vào sự giả mạo về nguồn gốc chỉ dẫn thương mại và quyền tài sản trí tuệ. Một sản phẩm có thể đạt tiêu chuẩn chất lượng cao nhưng vẫn bị coi là hàng hoá giả mạo sở hữu trí tuệ nếu gắn nhãn hiệu trái phép. Ngược lại, hàng giả mạo chất lượng chưa chắc đã vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nếu không mang dấu hiệu được bảo hộ. Việc phân biệt rõ hai khái niệm này giúp các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đúng chế tài hành chính, dân sự hoặc hình sự.

II. Thực trạng pháp luật về hàng hoá giả mạo trong sở hữu trí tuệ

Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với hàng hoá giả mạo trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đang đối mặt với nhiều rào cản phức tạp. Sự phát triển bùng nổ của thương mại điện tử và các nền tảng mạng xã hội khiến hành vi vi phạm gia tăng nhanh chóng. Các đối tượng vi phạm thường phân tán kho hàng, chia nhỏ chuỗi cung ứng và sử dụng định danh giả để trốn tránh sự kiểm tra của lực lượng chức năng. Việc thu thập chứng cứ điện tử và chứng minh yếu tố lỗi cố ý gặp nhiều thách thức về mặt kỹ thuật. Bên cạnh đó, quy trình giám định sở hữu trí tuệ còn kéo dài, làm chậm tiến độ xử lý vụ việc và giảm hiệu quả răn đe. Mức bồi thường thiệt hại trong các vụ kiện dân sự thường khó xác định chính xác do thiếu cơ sở dữ liệu tài chính minh bạch. Sự phối hợp liên ngành giữa Quản lý thị trường, Hải quan, Công an và Tòa án vẫn còn những điểm nghẽn nhất định về mặt cơ chế chia sẻ thông tin. Điều này tạo kẽ hở cho hàng hoá giả mạo tiếp tục thẩm lậu sâu vào thị trường nội địa.

2.1. Thách thức kiểm soát hàng hoá giả mạo trên không gian mạng

Môi trường kỹ thuật số tạo điều kiện cho các hành vi sản xuất và kinh doanh hàng hoá giả mạo diễn ra xuyên biên giới. Người bán dễ dàng ẩn danh, xóa dấu vết giao dịch và thay đổi tên miền hoặc tài khoản trong tích tắc. Các nền tảng thương mại điện tử trung gian chưa có cơ chế kiểm soát chủ động và chế tài xử lý trách nhiệm liên đới đủ mạnh. Cơ quan thực thi pháp luật gặp khó khăn trong việc xác định địa điểm kho hàng thực tế cũng như giá trị tang vật vi phạm. Tình trạng này làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng và gây tổn thất nghiêm trọng cho doanh nghiệp chính hãng.

2.2. Bất cập trong cơ chế giám định và xử lý vi phạm pháp luật

Hệ thống cơ quan giám định chuyên môn về sở hữu trí tuệ hiện nay còn mỏng và tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn. Kết luận giám định chỉ mang tính chất tham khảo, không phải là chứng cứ bắt buộc duy nhất, gây lúng túng cho cơ quan thụ lý vụ án. Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với nhiều hành vi giả mạo còn thấp so với siêu lợi nhuận bất chính thu được. Chế tài hình sự theo Điều 225 và Điều 226 Bộ luật Hình sự có điều kiện cấu thành tội phạm chặt chẽ, khiến việc khởi tố vụ án thực tế gặp nhiều vướng mắc.

III. Giải pháp phòng chống hàng hoá giả mạo trong sở hữu trí tuệ

Để giải quyết triệt để vấn đề hàng hoá giả mạo trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hệ thống giải pháp đồng bộ cần được triển khai quyết liệt. Việc hoàn thiện khung pháp lý theo hướng cụ thể hóa trách nhiệm của các sàn thương mại điện tử là yêu cầu cấp thiết. Cần bổ sung quy định buộc các nền tảng số phải gỡ bỏ ngay lập tức gian hàng vi phạm khi nhận được thông báo hợp lệ từ chủ sở hữu quyền. Đồng thời, nâng cao năng lực chuyên môn và trang bị công nghệ số hiện đại cho lực lượng thực thi pháp luật như Hải quan và Quản lý thị trường. Tăng cường áp dụng các biện pháp xử lý hình sự nhằm tạo tính răn đe nghiêm khắc đối với các đường dây sản xuất, buôn bán hàng giả quy mô lớn. Doanh nghiệp cần chủ động đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, ứng dụng tem chống giả thông minh và thiết lập kênh tiếp nhận phản hồi từ khách hàng. Sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội là chìa khóa để đẩy lùi hàng hoá giả mạo.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao chế tài xử phạt

Cần rà soát, sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn nhằm tương thích hoàn toàn với các cam kết quốc tế trong EVFTA và CPTPP. Tăng khung tiền phạt vi phạm hành chính tương xứng với giá trị hàng hoá vi phạm và lợi nhuận bất hợp pháp. Đơn giản hóa thủ tục chứng minh thiệt hại trong các vụ kiện dân sự để khuyến khích chủ sở hữu quyền khởi kiện tại Tòa án. Hướng dẫn áp dụng thống nhất các yếu tố cấu thành tội phạm tại Điều 226 Bộ luật Hình sự về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

3.2. Đẩy mạnh chuyển đổi số và hợp tác thực thi quyền liên ngành

Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia dùng chung về sở hữu trí tuệ giúp các cơ quan chức năng tra cứu nhanh chóng tình trạng bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ chuỗi khối để truy xuất nguồn gốc hàng hoá, phát hiện sớm các hành vi vi phạm trên không gian mạng. Tăng cường phối hợp kiểm soát biên giới giữa Hải quan và các lực lượng chống buôn lậu nội địa. Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong việc chia sẻ thông tin tình báo về các đường dây sản xuất hàng giả xuyên quốc gia.

IV. Ý nghĩa khóa luận về hàng hoá giả mạo trong sở hữu trí tuệ

Khóa luận tốt nghiệp luật học về hàng hoá giả mạo trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ mang lại giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đề tài đã hệ thống hóa toàn diện các quy định của pháp luật Việt Nam và chuẩn mực quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Những phân tích sắc bén về thực trạng áp dụng pháp luật giúp nhận diện rõ các lỗ hổng chính sách và khó khăn thực tiễn trong công tác điều tra, xử lý vi phạm. Các giải pháp được đề xuất trong khóa luận có tính khả thi cao, đóng góp tài liệu tham khảo quý báu cho công tác lập pháp, đào tạo luật học và hoạt động tư vấn pháp lý. Đối với doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu cung cấp cẩm nang chiến lược hữu ích để xây dựng hàng rào bảo vệ tài sản trí tuệ và bảo vệ thương hiệu bền vững. Đối với sinh viên và nhà nghiên cứu, khóa luận mở ra hướng tiếp cận khoa học, hiện đại đối với một vấn đề pháp lý mang tính thời sự toàn cầu.

4.1. Giá trị ứng dụng trong công tác đào tạo và nghiên cứu luật

Nghiên cứu cung cấp nguồn học liệu chuyên khảo có chiều sâu cho sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành luật sở hữu trí tuệ. Đề tài làm sáng tỏ các tình huống pháp lý phức tạp phát sinh từ thực tiễn xét xử của Tòa án và hoạt động thanh tra chuyên ngành. Khóa luận rèn luyện phương pháp tư duy pháp lý đa chiều, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hệ thống luật thực định quốc gia và các cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do. Đây là tài liệu tham khảo giá trị phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, biên soạn giáo trình và nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên sâu tiếp theo.

4.2. Khuyến nghị thực tiễn cho doanh nghiệp và chủ sở hữu quyền

Doanh nghiệp cần chủ động rà soát toàn bộ danh mục tài sản trí tuệ và tiến hành đăng ký xác lập quyền bảo hộ kịp thời tại các thị trường mục tiêu. Thiết lập quy trình nội bộ chặt chẽ nhằm giám sát thị trường, phát hiện sớm các dấu hiệu xâm phạm hoặc làm giả nhãn hiệu thương mại. Phối hợp đồng bộ với các tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp và cơ quan nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm thời. Chủ động triển khai các chiến dịch truyền thông minh bạch giúp khách hàng nhận biết sản phẩm chính hãng, góp phần bảo vệ uy tín thương hiệu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học hàng hoá giả mạo trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ quy định pháp luật và thực tiễn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát chung về hàng hóa giả mạo trong lĩnh vực SHTT Chương 2: Pháp luật về hàng hóa giả mạo trong lĩnh vực SHTT Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hàng hóa giả mạo trong lĩnh vực SHTT. PHAN NỘI DUNG CHUONG 1. KHAI QUAT CHUNG VE HANG HOA GIA MAO TRONG LINH VUC SO HUU TRI TUE 1. Khai niệm hang hoá giả mao trong lĩnh vực sở hữu tri tuệ Chính sách pháp luật về sở hữu trí tuệ của mỗi quốc gia còn tồn tại nhiều khác biệt co bản, không như quyền sở hữu tài sản hữu hình, quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ ở một quốc gia không được thừa nhận ở quốc gia khác.

Do vậy, việc tiếp cận dưới góc độ khoa học, lý luận về hàng hóa giả mạo trong lĩnh vực SHTT có sự khác nhau giữa các quốc gia. Tuy nhiên, với sự ra đời của các Điều ước quốc tế về SHTT, các Hiệp định thương mại giữa các quốc gia, trong các nghiên cứu khoa học về khái niệm hàng hóa giả mạo trong lĩnh vực SHTT đã có những điểm tương đồng nhất định. Hàng hoá giả mạo về SHTT thực chat được chuyên ngữ từ thuật ngữ “counterfeit øoods” hoặc “counterfeit trademark goods” được quy định trong TRIPs mà Việt Nam là một thành viên. Dưới góc độ ngôn ngữ thì có thê tiếp cận khái niệm hàng hóa giả mạo về SHTT theo từng khái niệm tiền đề như sau: Thứ nhất, về khái niệm “hàng hóa”.

Hàng hóa theo nghĩa hẹp, là vật chất tồn tại có hình dang xác định trong không gian và có thể trao đối, mua bán được. Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tat cả những gì có thé trao đôi, mua bán được. Tiếp cận theo hướng trong TRIPs, hàng hóa được khái niệm trong tiếng Anh là “goods” trong “trademark goods”. Theo từ điển Cambridge, “goods” được 3 Nguyễn Khắc Chinh (2023), “Yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong các Hiệp định thương mại tự do thé hệ mới”, Tạp chi Công thương, truy cập tại: https://trungtamwto.

vn/chuy en-de/24274-yeu-cau-bao-ho-quy en-so-huu- tri-tue-trong-cac-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-the-he-moi , truy cập ngày 20/03/2025. Khái niệm “counterfit trademark goods” đề cập trong Footnote [14] (a) Hiệp định TRIPs: “shall mean any goods, including packaging, bearing without authorization a trademark which is identical to the trademark validly registered in respect ofsuch goods, or which cannot be distinguished in its essential aspects from such a trademark, anh which thereby infringes the rights of the owner of the trademark in question under the law of the country of importation”. Bộ Tu pháp, Ban dịch Hiệp định TRIPs, Chú thích [14] (a) “hang hod mang nhãn hiệu gid mao phải có nghĩa là bắt cứ hàng hoá nào, ké cả bao bì, mang nhãn hiệu hàng hoá trùng với nhãn hiệu hàng hoá đã được đăng ký hợp pháp cho hàng hod äó, hoặc không thé phân biệt với nhãn hiệu đó về những khía cạnh cơ bản, mà không được phép và do vậy xâm phạm các quyên của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hod đó theo luật của nước nhập khẩu." 8 hiểu là “things for sale, or the things that you own’. Theo đó “goods” được hiểu là “hàng hóa hữu hình (những thứ được bán) hoặc tài sản hữu hình (những thứ bạn sở hữu) ”.

Thứ hai, khái niệm “giả mạo ”. Theo góc độ ngữ nghĩa thì giả mạo là một từ ghép được kết hợp giữa từ “giả” (không thật) và từ “mạo” (mạo danh). Theo Oxford Dictionary (Tử điền Oxford) thì giả mạo là “làm giả để đánh lừa”. Trong khi đó, Từ điển Cambridge có diễn giải cụ thé hơn về giả mao (trong tiếng Anh được gọi là “counterfeit’) có nghĩa là “to make something look like the original of something else, usually for dishonest or illegal purposes” (được hiéu là “/am cho một thứ trông giống như ban gốc của thứ khác, thường với mục dich không trung thực hoặc bat hợp pháp”).

Thứ ba, khái niệm “SHTT”. Đối với hàng hóa giá mạo về SHTT thì yếu tố từ “SHTT” ở đây được hiểu là thuộc về lĩnh vực SHTT. Mặc dù các điều ước quốc tế và hiệp định giữa các quốc gia có những quy định về hàng hóa giả mạo về SHTT tuy nhiên, đó chỉ là những quy định tối thiêu mà các quốc gia thành viên phải tuân thủ (áp dụng trực tiếp hoặc nội luật hóa). Vì vậy, các nhà nghiên cứu tại các quốc gia cũng có những cách tiếp cận dưới góc độ khoa học, lý luận về khái niệm, phạm vi về hàng hóa giá mạo về SHTT khác nhau.

Vi dụ như, trong cuốn “Sách giáo khoa về sở hữu công nghiệp” (“Industrial Property Rights Standard Textbook”) của co quan Sáng chế Nhật Bản, các tác giả đưa ra định nghĩa hang giả gồm có hai cum từ miêu tả là “counterfeit goods” (hàng hóa giả mạo) va “private goods” (hàng sao chép lậu). Theo đó, hang hóa gia mạo là những hang hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ich, kiểu dáng công nghiệp và quyên đối với nhãn hiệu; hàng sao chép lậu là hàng vi phạm bản quyền của các tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, phim truyền hình, phần mềm trò chơi và những thứ khác”. Tại Việt Nam từ năm 2007, Việt Nam đã có nghĩa vụ phải nội luật hóa Hiệp định TRIPs trong luật quốc gia của mình làm điều kiện tiên quyết dé Việt Nam được chấp nhận 5 Japan Patent Office (2017), “Industrial Property Rights Standard Textbook”, General Information, Japan Institute of Invention and Information (JIM), Tokyo, Japan, page 13. 9 là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thuong mại thế gidi®.

Tuy nhiên, hiện nay van còn những cách hiểu không hoàn toàn thống nhất về hàng hoá giả mạo trong lĩnh vực SHTT tại Việt Nam nên việc xác định đâu là hàng hóa giả mạo trong lĩnh vực SHTT có ý nghĩa quan trọng đối với các chủ thể quyền SHTT cũng như các cơ quan thực thi và cả người tiêu dùng dé có thé bao vệ được những quyền SHTT của mình một cách tốt nhất. Dưới góc độ khoa học pháp lý, hàng hóa giả mạo về SHTT ở Việt Nam hiện nay có thê được khái niệm là: “Hang hóa giả mạo về SHTT là hàng hóa, bao bì hàng hóa có sẵn nhãn hiệu, dẫu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hodc tuong tu dén muc khó phân biệt với nhãn hiệu, chi dân địa ly dang được bảo hộ dùng cho chính mặt hang đó mà không được phép của chủ sở hữu nhấn hiệu hay tổ chức quản lý chi dan địa lý; hoặc hàng hóa sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được pháp của chủ sở hữu quyên tác giả hoặc quyên liên quan.” Như vậy, có thể thấy dù cùng tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý, tuy nhiên nội hàm khái niệm hàng hóa gia mạo trong lĩnh vực SHTT theo một nghiên cứu tai Việt Nam lại vừa có điểm tương đồng vừa có điểm khác biệt so với Nhật Bản. Điểm tương đồng đó là cả hai nghiên cứu đều chỉ ra răng hàng hóa giả mạo về SHTT bao gồm cả hàng hóa giả mạo và hàng hóa sao chép lậu. Tuy nhiên, phạm vi của từng loại hàng hóa lại có điểm khác biệt.

Nếu hàng hóa giả mạo tại Việt Nam chỉ đề cập đến đối tượng bị giả mạo là nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, thì tại nghiên cứu Nhật Bản lại bao gồm khá rộng: quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với sáng chế, giái pháp hữu ích, kiểu đáng công nghiệp và quyền đối với nhãn hiệu. Tương tự như vậy, hàng hóa sao chép lậu được nghiên cứu đưới góc độ khoa học tại Việt Nam chỉ ra đó là sự xâm phạm vào quyền sản xuất đối với bản sao của quyền tác giả, quyền liên quan, thì Nhật Bản lại khái quát trong hành vi (vi phạm bản quyền) nhưng cụ thé trong đối tượng giả mạo: các tác phẩm âm nhạc, điện ánh, phim truyền hình, phần mềm trò chơi và những thứ khác. Từ những tiếp cận theo góc độ ngữ nghĩa và góc độ khoa học pháp lý nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm về hàng hóa giả mạo về SHTT như sau: Hàng hóa giả mạo về SHTT là hàng hóa, bao bì hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được Š Truy cập tại: https:/Avww.org/english/thewto.e html _ 7 Lê Hoàng Thanh Mai (2024), Hàng hóa giả mao trong lĩnh vực SHTT~ Quy định của pháp luật và thực tiên áp dung tại Việt Nam, Khóa luận tot nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. 10 bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó do các chủ thể không được sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu và tổ chức, cá nhân không có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý thực hiện; hoặc hàng hóa sao chép lậu là bán sao được sản xuất mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc quyên liên quan.

Từ khái niệm trên, có thé nhận diện hàng hóa gia mạo về SHTT tại Việt Nam dưới góc độ khoa học pháp lý thông qua các tiêu chí sau: Thứ nhất, nhận diện thông qua các yếu tô giả mao. Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý bi coi là gia mạo nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý khi mang các dấu hiệu, đặc điểm trùng hoặc khó phân biệt về tổng thé cầu tạo và cách trình bày so với nhãn hiệu, chỉ dan địa lý đang được bảo hộ. Dưới góc độ nghiên cứu tại Việt Nam, nhãn hiệu bị coi là giả mạo khi nhãn hiệu đó có các đặc điểm trùng hoàn toàn với nhãn hiệu đang được bảo hộ về: cầu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu chữ, dấu hiệu hình, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc, âm thanh làm cho người tiêu ding thông thường khó có thê phân biệt được với hàng hóa chính hãng do chính chủ thé quyền SHTT đưa ra thị trường. Một chỉ dẫn địa lý được coi là có các yêu tố giả mạo khi có các dấu hiệu, đặc điểm hoàn toàn trùng với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ về mặt cấu tạo từ ngữ, cách phát âm, phiên âm đối với chữ cái, ý nghĩa hoặc về hình ảnh, biêu tượng thuộc phạm vi bảo hộ.

Dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ phải được gan trực tiếp trên hàng hóa hoặc trên bao bì của hàng hóa đó. Các dấu hiệu giả mao trên hàng hóa có thé được khắc, đúc, in trực tiếp lên bề mặt của sản phẩm mà khi tiếp xúc trực tiếp với hàng hóa có thê đễ dàng nhận diện được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ