Khóa luận: Căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng

Nghiên cứu quy định pháp luật về căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, phân tích thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Luật Dân sự - Tố tụng Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

114
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự (TNDS) do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng là những điều kiện pháp lý cho phép bên vi phạm được miễn giảm nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng. Những căn cứ này xuất phát từ nguyên tắc lỗi trong trách nhiệm dân sự, theo đó, trách nhiệm chỉ phát sinh khi có lỗi cố ý hoặc vô ý của bên vi phạm. Pháp luật Việt Nam ghi nhận các căn cứ loại trừ TNDS tại Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm sự kiện bất khả kháng, tình trạng cấp thiết, lỗi của bên bị vi phạm và các trường hợp khác do pháp luật quy định. Việc xác định căn cứ loại trừ không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên mà còn góp phần bảo đảm sự công bằng trong giải quyết tranh chấp hợp đồng. Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào phân tích khái niệm trách nhiệm dân sự mà chưa đi sâu vào cơ chế loại trừ, dẫn đến thiếu sót trong lý luận và thực tiễn áp dụng.

1.1. Khái niệm và đặc điểm căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự

Căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự là những tình tiết pháp lý được pháp luật thừa nhận hoặc các bên thỏa thuận, nhằm loại bỏ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm bồi thường khi có vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Đặc điểm quan trọng nhất là những căn cứ này phải có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bên vi phạm. Ví dụ, sự kiện bất khả kháng (thiên tai, địch họa) là căn cứ loại trừ trách nhiệm vì sự kiện này nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Ngoài ra, căn cứ loại trừ còn phải được xác định trước hoặc tại thời điểm giao kết hợp đồng, thể hiện qua các điều khoản thỏa thuận hoặc quy định pháp luật. Sự khác biệt giữa căn cứ loại trừ và các điều kiện miễn trách nhiệm khác (như miễn trừ trách nhiệm do lỗi của bên bị vi phạm) nằm ở tính bắt buộc và phạm vi áp dụng.

1.2. Vai trò của căn cứ loại trừ trong pháp luật hợp đồng

Căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng lợi ích giữa các bên trong hợp đồng, ngăn ngừa rủi ro bất hợp lý và thúc đẩy sự hợp tác hiệu quả. Thông qua các căn cứ này, pháp luật tạo điều kiện cho các bên tự do thỏa thuận về phân bổ rủi ro, phù hợp với khả năng chịu đựng của mỗi bên. Chẳng hạn, các bên có thể thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng. Bên cạnh đó, căn cứ loại trừ còn góp phần giảm tải gánh nặng pháp lý cho tòa án trong việc xác định lỗi, bởi lẽ trách nhiệm chỉ phát sinh khi có lỗi trừ trường hợp pháp luật quy định miễn trừ. Điều này thể hiện sự tiến bộ trong tư duy pháp lý, chuyển từ chế độ trách nhiệm tuyệt đối sang trách nhiệm có lỗi.

II. Phân tích các căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự theo pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam quy định bốn nhóm căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tại Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015: sự kiện bất khả kháng, tình trạng cấp thiết, lỗi của bên bị vi phạm và các trường hợp khác do pháp luật quy định. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước hoặc ngăn chặn được, như thiên tai, chiến tranh. Tình trạng cấp thiết là tình huống nguy hiểm đòi hỏi hành động tức thời để tránh thiệt hại lớn hơn, mặc dù hành động đó có thể vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Lỗi của bên bị vi phạm xảy ra khi bên bị vi phạm không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hoặc cản trở bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ. Ngoài ra, pháp luật còn cho phép các bên thỏa thuận về căn cứ loại trừ trong hợp đồng, miễn là không trái với đạo đức xã hội. Thực tiễn áp dụng cho thấy tòa án thường dựa vào các căn cứ này để xác định trách nhiệm bồi thường, nhưng vẫn còn tồn tại những bất cập trong việc xác định mức độ lỗi giữa các bên.

2.1. Sự kiện bất khả kháng và tình trạng cấp thiết

Sự kiện bất khả kháng là căn cứ loại trừ trách nhiệm phổ biến nhất, được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015. Để được công nhận, sự kiện phải đáp ứng ba điều kiện: xảy ra khách quan, không thể lường trước và không thể ngăn chặn được. Ví dụ, lũ lụt lớn phá hủy nhà máy khiến doanh nghiệp không thể giao hàng đúng hạn. Tình trạng cấp thiết, quy định tại khoản 2 Điều 156, là tình huống nguy hiểm đòi hỏi hành động tức thời, chẳng hạn như cứu người khỏi đám cháy. Cả hai căn cứ này đều có đặc điểm chung là không phụ thuộc vào ý chí của bên vi phạm, nhưng khác nhau ở mức độ nguy hiểm và tính tức thời. Pháp luật cho phép các bên thỏa thuận về phạm vi áp dụng của căn cứ này trong hợp đồng, nhưng không được loại trừ hoàn toàn trách nhiệm.

2.2. Lỗi của bên bị vi phạm và thỏa thuận loại trừ

Lỗi của bên bị vi phạm xảy ra khi bên bị vi phạm không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hoặc cản trở bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ, dẫn đến vi phạm nghĩa vụ. Ví dụ, bên mua không cung cấp nguyên liệu khiến bên bán không thể giao hàng. Trường hợp này, bên vi phạm có thể được loại trừ trách nhiệm nếu chứng minh được lỗi thuộc về bên bị vi phạm. Ngoài ra, pháp luật cho phép các bên thỏa thuận về căn cứ loại trừ trong hợp đồng, miễn là không trái với đạo đức xã hội và trật tự công cộng. Thỏa thuận này thể hiện nguyên tắc tự do ý chí trong hợp đồng, nhưng cần được lập thành văn bản rõ ràng. Thực tiễn cho thấy, tòa án thường ưu tiên các thỏa thuận đã được ghi nhận trong hợp đồng khi giải quyết tranh chấp.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự

Việc hoàn thiện pháp luật về căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự cần tập trung vào hai khía cạnh: thống nhất quy định pháp luật và nâng cao nhận thức pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng. Hiện nay, pháp luật Việt Nam còn thiếu các hướng dẫn cụ thể về việc xác định mức độ lỗi giữa các bên, dẫn đến sự không nhất quán trong thực tiễn xét xử. Để khắc phục, cần ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết về tiêu chí xác định sự kiện bất khả kháng, tình trạng cấp thiết và lỗi của bên bị vi phạm. Ngoài ra, các bên tham gia hợp đồng nên được tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về căn cứ loại trừ trách nhiệm, nhằm tránh những tranh chấp không đáng có. Các doanh nghiệp cũng cần xây dựng các điều khoản hợp đồng rõ ràng về phân bổ rủi ro, bao gồm cả căn cứ loại trừ trách nhiệm. Việc này không chỉ bảo vệ quyền lợi của các bên mà còn góp phần thúc đẩy môi trường kinh doanh lành mạnh.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về căn cứ loại trừ

Để hoàn thiện quy định pháp luật, cần sửa đổi, bổ sung Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015 nhằm làm rõ tiêu chí xác định sự kiện bất khả kháng, tình trạng cấp thiết và lỗi của bên bị vi phạm. Cụ thể, cần quy định rõ ràng về phạm vi áp dụng của từng căn cứ, điều kiện chứng minh và hậu quả pháp lý tương ứng. Ngoài ra, nên xây dựng các án lệ hướng dẫn về việc xác định mức độ lỗi giữa các bên trong hợp đồng, nhằm tạo sự thống nhất trong thực tiễn xét xử. Việc này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan lập pháp, tòa án và các chuyên gia pháp lý. Bên cạnh đó, cần tăng cường giám sát việc áp dụng pháp luật, đảm bảo các quy định được thực thi nghiêm minh.

3.2. Nâng cao nhận thức pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng

Nâng cao nhận thức pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng là giải pháp quan trọng nhằm giảm thiểu tranh chấp liên quan đến căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự. Các cơ quan chức năng nên tổ chức các chương trình tuyên truyền, tập huấn về pháp luật hợp đồng, đặc biệt là về căn cứ loại trừ trách nhiệm. Các doanh nghiệp cần được hướng dẫn xây dựng các điều khoản hợp đồng rõ ràng, bao gồm cả các căn cứ loại trừ trách nhiệm và phân bổ rủi ro. Ngoài ra, các trường đại học, viện nghiên cứu nên đẩy mạnh nghiên cứu về lĩnh vực này, nhằm cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho việc hoàn thiện pháp luật. Việc nâng cao nhận thức pháp lý không chỉ giúp các bên tham gia hợp đồng bảo vệ quyền lợi của mình mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

IV. Kết luận và đề xuất áp dụng căn cứ loại trừ trong thực tiễn

Căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi của các bên và thúc đẩy sự hợp tác hiệu quả. Việc xác định và áp dụng căn cứ loại trừ không chỉ dựa trên quy định pháp luật mà còn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Thực tiễn cho thấy, pháp luật Việt Nam còn tồn tại những bất cập trong việc xác định mức độ lỗi giữa các bên, dẫn đến sự không nhất quán trong xét xử. Để khắc phục, cần hoàn thiện quy định pháp luật, tăng cường tuyên truyền pháp luật và xây dựng các điều khoản hợp đồng rõ ràng. Các doanh nghiệp nên chủ động tìm hiểu và áp dụng căn cứ loại trừ trách nhiệm trong hợp đồng, nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý và bảo vệ quyền lợi của mình. Việc này không chỉ góp phần thúc đẩy môi trường kinh doanh lành mạnh mà còn nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng.

4.1. Tầm quan trọng của căn cứ loại trừ trong bảo vệ quyền lợi hợp pháp

Căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng. Thông qua các căn cứ này, pháp luật tạo điều kiện cho các bên tự do thỏa thuận về phân bổ rủi ro, phù hợp với khả năng chịu đựng của mỗi bên. Chẳng hạn, các bên có thể thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng. Bên cạnh đó, căn cứ loại trừ còn góp phần giảm tải gánh nặng pháp lý cho tòa án trong việc xác định lỗi, bởi lẽ trách nhiệm chỉ phát sinh khi có lỗi trừ trường hợp pháp luật quy định miễn trừ. Điều này thể hiện sự tiến bộ trong tư duy pháp lý, chuyển từ chế độ trách nhiệm tuyệt đối sang trách nhiệm có lỗi.

4.2. Khuyến nghị áp dụng căn cứ loại trừ trong hợp đồng

Để áp dụng hiệu quả căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự, các doanh nghiệp nên xây dựng các điều khoản hợp đồng rõ ràng, bao gồm cả các căn cứ loại trừ trách nhiệm và phân bổ rủi ro. Các điều khoản này cần được lập thành văn bản rõ ràng, phù hợp với quy định pháp luật và không trái với đạo đức xã hội. Ngoài ra, các bên nên chủ động tìm hiểu và cập nhật kiến thức pháp luật về căn cứ loại trừ trách nhiệm, nhằm tránh những tranh chấp không đáng có. Các cơ quan chức năng nên tổ chức các chương trình tuyên truyền, tập huấn về pháp luật hợp đồng, đặc biệt là về căn cứ loại trừ trách nhiệm. Việc này không chỉ giúp các bên tham gia hợp đồng bảo vệ quyền lợi của mình mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số van dé lý luận về căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về căn cứ loại trừ trách nhiệm dan sự do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật về căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng. MOT SO VAN DE LY LUAN VE CAN CU LOAI TRU TRACH NHIEM DAN SU DO VI PHAM NGHĨA VỤ TRONG HỢP DONG 1. Khái niệm trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng 1. Định nghĩa trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng Trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ "trách nhiệm dân su" không chỉ được sử dụng rộng rãi trong các văn bản quy phạm pháp luật mà còn xuất hiện phô biến trong thực tiễn giao kết hợp đồng, tranh chấp dân sự và các hoạt động tổ tụng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật dân sự.

Theo “Từ điển thuật ngữ pháp lý” của nhà xuất bản Dalloz và “Từ điển thuật ngữ pháp lý” của Gérard Cornu, TNDS (responsabilité civile) gồm trách nhiệm theo hợp đồng (responsabilité contractuelle) và trách nhiệm ngoài hợp đồng (responsabilité délictuelle). Theo đó, TNDS chi đến mọi nghĩa vụ nhằm khắc phục hệ quả của những tổn hại gây ra cho người khác bằng việc đền bù bằng hiện vật hoặc tương đương!.Tương tự như vậy, từ điển luật học “Black's Law Dictionary” đưa ra định nghĩa TNDS (civil liability) là tình trạng pháp lý buộc phải gánh chịu đối với những tôn hai dân sự. Theo Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp, “TNDS được hiểu là “trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dung đối với người vi phạm pháp luật dan sự nhằm bù đắp về tôn thất vật chat, tinh thần cho người bị thiệt hại” hay “những hậu quả bat lợi mà chủ thé pháp luật phải gánh chịu do pháp luật quy định về hành vi vi phạm pháp luật của mình”. Theo Từ điển tiếng Việt, “TNDS” là “trách nhiệm về mặt hộ, sự đền bồi thiệt hại"”.

Theo cách hiểu nay, TNDS nhìn nhận dưới hai khía cạnh là bốn phận, trách nhiệm phải làm, phải thực hiện và trách nhiệm BTTH. Theo Từ điển Luật học, “TNDS được hiểu là “trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp đụng đổi với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù dap về tổn thất vật chat, tinh thần cho người bị thiệt hại” hay là “những hậu quả bắt lợi mà chủ thể pháp luật phải gánh chịu do pháp luật quy định vì hành vi vi phạm pháp luật của mình (hoặc của người ma mình bảo lãnh ' Lexique Juridiques. 913-914; Gérard Coral Vocabulative juridique. Presses Universitaires de France (1992).

Black's Low- Dictionary (1999), Seventh Edition, West group, pp. 2 Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật hoc, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Nha xuất bản Tư pháp, tr 800. 3 Viện Ngôn ngữ - Khoa học Xã hội và Nhân văn, Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Tp Hồ Chí Minh, tr98 7 hay giám hộ). Hậu quả pháp lý bat lợi “TNDS theo Từ điển Luật học gồm: “buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, buộc bồi thường thiệt hại, phat vi phạm".

Cùng với thuật ngữ “TNDS", Từ điển Luật học còn đưa ra định nghĩa về “trách nhiệm BTTH", theo đó, day là thuật ngữ chi đến “trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, có lỗi trong việc gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần phải bồi hoàn cho người bị thiệt hại nhằm phục hôi tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại”, đồng thời chỉ rõ “trách nhiệm BTTH được phân thành trách nhiệm BTTH theo hợp đồng và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng" 4. Có thé thay theo Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp, thuật ngữ “TNDS” trong hệ thống pháp luật Việt Nam được hiểu là thuật ngữ chi chung các giải pháp pháp lý có thé được áp dung khi có hành vi vi phạm pháp luật và trách nhiệm BTTH (bao gồm trách nhiệm BTTH theo hợp đồng và ngoài hợp đồng) là một loại TNDS *. Cũng theo quy định tại BLDS 2015, TNDS không chi đề cập đến “BTTH” mà còn được sử dụng để chỉ các giải pháp pháp lý khác như “tiếp tục thực hiện”, “tự mình thực hiện”, “giao cho người khác thực hiện”, “cham đứt thực hiện”, “khôi phục tình trang ban dau”. Cu thé, TNDS nói chung là một chế tài của ngành luật dân sự và TNDS do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng là một chế tài trong nghĩa vụ hợp đồng.

Nhằm đảm bảo sự an toàn, thông thoáng lẽ công bằng trong các quan hệ dân sự cũng như trong giải quyết vụ việc dân sự thì BLDS 2015 đã quy định về TNDS đo vi phạm nghĩa vụ như một hình thức chế tài dé áp dung cho các hành vi vi phạm về quyền và nghĩa vụ mà các bên đã cam kết, thỏa thuận. TNDS chia làm hai loại: TNDS ngoài hợp đồng và TNDS trong hợp đồng TNDS trong hợp đồng là trách nhiệm hình thành tir việc không thực hiện một nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Bên có nghĩa vụ khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết, có thé gây thiệt hại cho bên còn lại trong hợp đồng thì bên vi phạm phải có nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng nếu chưa xảy ra thiệt hại hoặc BTTH khi có thiệt hại xảy ra theo quy định của pháp luật. Trong BLDS, TNDS trong hợp đồng được chi phối bởi các nguyên tắc chế độ pháp lý về * Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Nha xuất bản Tư pháp, tr 803.

5 Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Nha xuất ban Tư pháp, tr 800. 6 Mục 4, Chương XV, Phan III BLDS 2015. TNDS phát sinh từ sự vi phạm nguyên tắc xử sự, đó là sự vi phạm nghĩa vụ dan sự. Như vậy, nếu như trong hệ thống pháp luật các nước theo truyền thống dan luật hoặc thông luật, thuật ngữ “TNDS” thường chỉ đến đến nghĩa vụ khắc phục hệ qua của những tôn hại gây ra cho người khác may chỉ đến tình trạng pháp lý mà một bên chủ thể buộc phải gánh chịu khi có hành vi vi phạm hợp đồng thì thuật ngữ “TNDS” trong hệ thống pháp luật Việt Nam lại chỉ đến các biện pháp pháp lý cụ thể nhằm khắc phục hậu qua của hành vi vi phạm như “BTTH”, “tiếp tục thực hiện”, “tự mình thực 33 é hiện”, “giao cho người khác thực hiện", “chấm dứt thực hiện”, “khôi phục tỉnh trạng ban đầu".

Điều này cho thấy sự thiếu tương đồng của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và BLDS năm 2015 nói riêng với hệ thống pháp luật thé giới trong việc sử dụng thuật ngữ ““TNDS”. Đó là pháp luật Việt Nam chưa có sự phân tách một cách rõ ràng giữa “TNDS” với “biện pháp khắc phục”. Từ những khái niệm và phân tích trên, có thé hiểu TNDS là một loại trách nhiệm pháp lý do cơ quan nhà nước có thấm quyên áp dụng đối với các chủ thể vi phạm nghĩa vụ dân sự, buộc các chủ thé này phải bù đắp những tốn thất về vật chất hoặc tinh than cho bên bị thiệt hại. Vi phạm nghĩa vụ là khái niệm truyền thống được quy định trong pháp luật về hợp đồng.

Vi phạm nghĩa vụ là vi phạm một nghĩa vụ liên quan đến cam kết thực hiện hoặc không thực hiện công việc được quy định trong hợp đồng. Cam kết này có thê liên quan đến nghĩa vụ thanh toán, giao vật hoặc một nghĩa vụ khác được quy định cụ thé trong hợp đồng. Theo Điều 274 của BLDS năm 2015 thì nghĩa vụ là “việc mà theo đó, một hoặc nhiều chu thé (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)". Theo quy định của BLDS năm 2015 và LTM năm 2005 không có sự khác biệt quá rõ ràng giữa khái niệm “vi phạm nghĩa vụ” và “vi phạm hợp đồng”.

BLDS năm 2015 định nghĩa khái niệm “vi phạm hợp đồng” và không có sự phân biệt giữa hai khác niệm trên. Cụ thé, trong khi LTM năm 2005 sử dụng thống nhất thuật ngữ “vi 7 Bùi Thị Thanh Hang (2018), Bồi thường thiệt hai do vì phạm hợp đông, Luận an Tiên sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. 2 phạm hợp đồng” dé chỉ moi hành vi không thực hiện đúng hợp đồng thì BLDS năm 2015 lại sử dụng nhiều thuật ngữ như “vi phạm”, “không thực hiện hoặc thực hiện không đúng", “không thực hiện đúng". Định nghĩa “vi phạm hợp đồng" được ghi nhận trực tiếp trong LTM năm 2005 là “việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”.

Không giống với LTM năm 2005, BLDS năm 2015 không trực tiếp đưa ra định nghĩa “vi phạm hợp đồng” mà định nghĩa thông qua định nghĩa “vi phạm nghĩa vụ” tại khoản 1 Điều 351 BLDS năm 2015: “Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”. Theo quy định này, “không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn”, “thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ”, “thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ" được hiểu là các trường hợp vi phạm nghĩa vụ nói chung hay vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng nói riêng. Nghĩa vụ thường được quy định tại các cam kết trong hợp đồng và vi phạm nghĩa vụ có thể làm phát sinh bat kỳ biện pháp khắc phục nào theo quy định của pháp luật. Từ những phân tích trên có thể hiểu, TNDS do vi phạm nghĩa vụ trong hợp dong là trách nhiệm pháp lý mà bên có hành vi vì phạm phải gánh chịu khi không thực hiện nghĩa vụ ching thời hạn, thực hiện không đây đụ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật nhằm bảo dam quyên lợi của bên có quyên và bù đắp những tốn thất mà bên có quyên phải gánh chịu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ