Khóa luận: Tác động đầu tư quốc tế ngành logistics tới tăng trưởng kinh tế

Khóa luận kinh doanh quốc tế phân tích tác động của đầu tư quốc tế vào logistics tới tăng trưởng kinh tế và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Kinh doanh quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan đề tài đầu tư quốc tế logistics và tăng trưởng kinh tế

Đề tài khóa luận tốt nghiệp ngành kinh doanh quốc tế tập trung phân tích mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong ngành logistics và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ngành dịch vụ hậu cần đóng vai trò huyết mạch trong nền kinh tế thị trường mở. Hạ tầng logistics phát triển giúp kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu, tối ưu hóa hoạt động lưu thông và cắt giảm chi phí trung gian cho doanh nghiệp sản xuất. Việc thu hút nguồn vốn quốc tế không chỉ bổ sung nguồn lực tài chính lớn cho cơ sở hạ tầng mà còn chuyển giao công nghệ quản trị hiện đại, bao gồm mô hình quản lý 3PL, 4PL và 5PL tiên tiến. Nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để đo lường định lượng mức độ đóng góp của FDI logistics tới GDP. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học xác thực nhằm nhận diện rõ vai trò chiến lược của dòng vốn này. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho sinh viên ngành kinh tế và các nhà hoạch định chính sách.

1.1. Bối cảnh nghiên cứu đầu tư quốc tế ngành logistics

Trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu, nhu cầu dịch chuyển hàng hóa gia tăng nhanh chóng. Các tập đoàn đa quốc gia liên tục mở rộng mạng lưới phân phối và trung tâm kho vận xuyên biên giới. Nguồn vốn FDI chảy mạnh vào các dịch vụ cảng biển, vận tải đa phương thức và hạ tầng số. Quá trình dịch chuyển này đòi hỏi sự đổi mới toàn diện trong quản lý vận hành. Sự bùng nổ của thương mại điện tử tạo áp lực lớn lên hệ thống logistics truyền thống. Việc tiếp nhận dòng vốn đầu tư nước ngoài giúp các quốc gia đang phát triển nâng cấp cơ sở vật chất, rút ngắn thời gian thông quan và tăng năng lực cạnh tranh thương mại quốc tế.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu hướng tới làm rõ cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp của FDI logistics đối với tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội. Đề tài kiểm định mối tương quan giữa quy mô vốn FDI logistics, ứng dụng công nghệ thông tin và chỉ số kinh tế vĩ mô. Kết quả phân tích đem lại cái nhìn toàn diện về thực trạng ngành dịch vụ hậu cần hiện nay. Đề tài hỗ trợ sinh viên hoàn thiện phương pháp luận nghiên cứu định lượng. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm thu hút dòng vốn chất lượng cao, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế bền vững trong dài hạn.

II. Phân tích tác động của FDI logistics tới tăng trưởng kinh tế

Phân tích dữ liệu thực nghiệm cho thấy dòng vốn FDI trong lĩnh vực logistics tạo ra tác động lan tỏa sâu rộng tới nền kinh tế. Vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp nâng cấp hạ tầng kho bãi thông minh, hệ thống cảng nước sâu và đội tàu vận tải hiện đại. Sự hiện diện của các doanh nghiệp logistics toàn cầu thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường nội địa. Doanh nghiệp trong nước buộc phải cải tiến quy trình công nghệ để thích ứng và duy trì thị phần. Mô hình hồi quy kinh tế lượng GLS và phân tích tương quan Pearson chứng minh mối liên hệ tỷ lệ thuận có ý nghĩa thống kê giữa FDI logistics và tăng trưởng GDP. Bên cạnh đó, các yếu tố hạ tầng viễn thông (ICT) đóng vai trò then chốt trong việc khuếch đại hiệu quả dòng vốn. Tuy nhiên, thị trường logistics vẫn đối mặt với rào cản về chi phí vận hành cao, thủ tục hành chính phức tạp và sự phân mảnh giữa các phương thức vận tải.

2.1. Tác động lan tỏa công nghệ và nâng cao năng lực vận hành

Dòng vốn FDI mang lại các mô hình quản lý chuỗi cung ứng hiện đại như 4PL và 5PL. Các doanh nghiệp quốc tế áp dụng giải pháp số hóa như dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo vào quản lý kho bãi. Doanh nghiệp bản địa hưởng lợi thông qua quá trình học hỏi công nghệ và tiếp nhận kỹ năng quản trị tiên tiến. Năng suất lao động toàn ngành dịch vụ hậu cần tăng lên rõ rệt. Quá trình vận hành chuỗi cung ứng trở nên minh bạch và chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. Nhờ đó, hiệu quả lưu chuyển hàng hóa trong nền kinh tế được cải thiện đáng kể.

2.2. Những tồn tại và thách thức trong tiếp nhận vốn FDI logistics

Mặc dù dòng vốn FDI tăng trưởng đều đặn, sự liên kết giữa doanh nghiệp ngoại và doanh nghiệp nội vẫn còn hạn chế. Doanh nghiệp trong nước chủ yếu đảm nhận các dịch vụ giá trị gia tăng thấp như bốc dỡ hoặc vận tải đường bộ cự ly ngắn. Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao gây cản trở tiếp nhận chuyển giao công nghệ phức tạp. Hạ tầng kết nối đa phương thức thiếu đồng bộ khiến chi phí logistics quốc gia vẫn ở mức cao. Ngoài ra, áp lực cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn logistics xuyên quốc gia đe dọa trực tiếp sự tồn tại của các đơn vị quy mô nhỏ.

III. Giải pháp chính sách thu hút đầu tư quốc tế logistics Việt Nam

Để tối đa hóa lợi ích từ dòng vốn FDI logistics, Việt Nam cần thực thi hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ và quyết liệt. Nhà nước cần hoàn thiện khung khổ pháp lý minh bạch, đơn giản hóa thủ tục cấp phép đầu tư và tạo môi trường cạnh tranh công bằng. Việc quy hoạch các trung tâm logistics tích hợp gần cảng biển, sân bay và hành lang kinh tế trọng điểm cần được ưu tiên triển khai. Chính phủ cần có cơ chế ưu đãi thuế và đất đai nhằm thu hút các tập đoàn logistics hàng đầu thế giới phát triển mô hình sinh thái hậu cần xanh. Đồng thời, liên kết công tư (PPP) là phương thức hiệu quả để huy động nguồn lực xã hội phát triển mạng lưới giao thông kết nối. Chiến lược thu hút FDI cần chuyển dịch từ số lượng sang chất lượng, tập trung vào công nghệ thông tin và tự động hóa. Đẩy mạnh liên kết giữa doanh nghiệp ngoại và doanh nghiệp nội sẽ nâng cao vị thế chuỗi giá trị quốc gia.

3.1. Hoàn thiện quy hoạch hạ tầng và đơn giản hóa thủ tục đầu tư

Chính phủ cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng các trung tâm logistics chuyên dụng cấp vùng và quốc gia. Mạng lưới giao thông kết nối giữa đường bộ, đường sắt và cảng biển phải được hoàn thiện đồng bộ. Cơ chế một cửa quốc gia trong thủ tục thông quan hàng hóa cần tiếp tục được nâng cấp nhằm cắt giảm thời gian xử lý hồ sơ. Môi trường đầu tư thuận lợi sẽ khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài rót vốn dài hạn vào các dự án hạ tầng trọng điểm. Sự minh bạch về chính sách giúp giảm thiểu rủi ro pháp lý cho các doanh nghiệp quốc tế khi gia nhập thị trường.

3.2. Phát triển nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy logistics xanh

Cần thúc đẩy hợp tác đào tạo giữa các trường đại học và các tập đoàn logistics đa quốc gia. Chương trình giảng dạy cần tích hợp công nghệ quản trị hiện đại, kỹ năng số và ngoại ngữ chuyên ngành. Bên cạnh đó, chính sách cần khuyến khích các dự án áp dụng mô hình logistics xanh nhằm giảm phát thải khí nhà kính. Việc ứng dụng phương tiện chạy điện, năng lượng tái tạo và bao bì tái chế tại các kho bãi cần nhận được ưu đãi đầu tư. Đây là xu hướng tất yếu giúp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững của toàn ngành logistics Việt Nam.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn cho khóa luận kinh doanh quốc tế

Khóa luận tốt nghiệp kinh doanh quốc tế về tác động của đầu tư quốc tế trong lĩnh vực logistics tới tăng trưởng kinh tế mang tính ứng dụng học thuật và thực tiễn sâu sắc. Nghiên cứu khẳng định vốn đầu tư FDI vào logistics là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng GDP. Mô hình phân tích thực nghiệm cung cấp bằng chứng rõ ràng về vai trò cộng hưởng của công nghệ thông tin và cơ sở hạ tầng. Bài nghiên cứu đóng góp nguồn tài liệu tham khảo hoàn chỉnh cho sinh viên thực hiện đề tài tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế đối ngoại và kinh doanh quốc tế. Người nghiên cứu có thể kế thừa khung lý thuyết, quy trình xử lý dữ liệu Stata và mô hình hồi quy GLS cho các công trình nghiên cứu tiếp theo. Hơn nữa, những hàm ý chính sách đề xuất phản ánh sát thực tế phát triển của ngành logistics Việt Nam, hỗ trợ đắc lực cho các đơn vị tư vấn và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô.

4.1. Tổng kết các phát hiện then chốt từ mô hình định lượng

Nghiên cứu đã xác lập mối quan hệ đồng biến giữa quy mô vốn FDI ngành logistics và tăng trưởng kinh tế quốc gia. Các kiểm định kinh tế lượng cho thấy mức độ giải thích cao của mô hình khi có sự kết hợp của biến hạ tầng công nghệ. Đầu tư nước ngoài không chỉ mở rộng quy mô ngành hậu cần mà còn nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực xã hội. Hiện tượng lan tỏa công nghệ diễn ra tích cực tại các địa phương có hạ tầng phát triển. Những bằng chứng số liệu này khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết nghiên cứu ban đầu trong đề tài.

4.2. Khả năng phát triển và mở rộng hướng nghiên cứu tương lai

Đề tài mở ra nhiều hướng tiếp cận mới cho các nghiên cứu tiếp theo về kinh tế quốc tế. Các công trình tương lai có thể mở rộng mẫu khảo sát theo chuỗi thời gian dài hơn hoặc phân tích chuyên sâu từng phân ngành logistics riêng biệt. Việc so sánh đối chuẩn hiệu quả thu hút FDI logistics giữa các quốc gia trong khu vực ASEAN cũng là hướng đi giàu tiềm năng. Ngoài ra, đánh giá tác động của dòng vốn FDI đối với mục tiêu phát triển bền vững và giảm phát thải carbon sẽ mang lại nhiều giá trị thực tiễn cho giới học thuật.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp kinh doanh quốc tế tác động của đầu tư quốc tế trong lĩnh vực logistics tới tăng trưởng kinh tế và hàm ý chính sách cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1: Logistics from a historical perspective về lịch sử và nguồn gốc của Logistics. Ông cũng khẳng định rằng môi trường đầu tiên thực hiện hoạt động Logistics là môi trường quân đội và phục vụ cho mục đích chiến tranh (Joel, 2008). Logistics hoạt động trong ngành kinh doanh bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XX và ngày càng được xem trọng. Tổ chức chuyên môn đầu tiên của Logistics được thành lập vào năm 1963.

Sau đó, vào năm 1985, hội trở thành Hiệp hội quản lý Logistics. Tiếp đến, vào năm 2004, Hiệp hội các nhà quản lý chuyên nghiệp chuỗi cung ứng ra đời. Từ đó, thế giới đã có rất nhiều các hiệp hội các nhà quản lý ở khắp mọi nơi. Cũng trong nghiên cứu của Joel, ông đã đưa ra một hành trình mà kể từ đây Logistics được đặt làm yếu tố nghiên cứu và trở thành môn khoa học.

Đầu tiên, vào những năm 1954, Pual Converse là một doanh nhân và nhà giáo dục đã chỉ ra sự cần thiết cho một lĩnh vực nghiên cứu và thực thành về sự phân phối vật chất đóng vai trò là một phần của Marketing. Đây được coi là nền móng cho việc phát triển công việc nghiên cứu Logistics sau này. Tiếp đến, vào năm 1962, Peter Drucker đã chỉ ra rằng phân phối là điểm “biên giới cuối cùng” _Last Frontier hay hiểu cách khác là vùng chưa được khám phá. Những khẳng định trên của Converse và Drucker đã phần nào coi việc nghiên cứu Logistics như một môn khoa học là điều cần thiết.

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, Logistics chỉ dược 11 hiểu đơn thuần là dòng vận động vật chất của sản phẩm và dịch vụ trong chuỗi cung ứng (Joel, 2008). Vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi sự nâng cấp hệ thống giao thông đã hoàn thiện, một số quy định về vận tải được loại bỏ, chính thức Logistics được công nhận là một môn khoa học (Joel, 2008). Trong thời điểm này, việc cần phải làm đã nhiều hơn. Các công ty Logistics đã chịu trách nhiệm chính thức trong việc hoàn thành quy trình di chuyển hàng hóa từ nhà kho tới khách hàng và đại diện cho công ty.

Nổi bật hơn, ESCAP có trình bày đến giai đoạn này có tính đột phá khi xây dựng Logistics thành một hệ thống quản lý đầu ra và đầu vào (Trần Nguyễn Hợp Châu và các cộng sự, 2021). Những năm 1990, nhiều công ty hàng đầu đã tìm cách mở rộng hoạt động. Các công ty muốn tích hợp từ đầu đến cuối trong tổ chức. Hiểu đơn giản là từ khâu mua nguyên liệu thô tới khi giao hàng cho khách hàng cuối cùng.

Những nhà lãnh đạo còn muốn mở rộng hơn bằng việc liên kết với bên thứ ba, đối tác thương mại và áp dụng công nghệ. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn quản trị chuỗi cung ứng (Trần Nguyễn Hợp Châu và các cộng sự, 2021). Trong thế kỷ XXI, sự phát triển nhanh chóng của kinh doanh và hàng loạt các sự thay đổi đã khiến Logistics phải thay đổi theo (Joel, 2008). Các chuyên gia Logistics ngày nay quan tâm đến việc hợp tác bằng nhiều cách thức khác nhau và liên tục tìm kiếm đối tác.

Vì vai trò cách truyền thống và trách nhiệm thay đổi, khoa học Logistics cũng phải thay đổi. Logistics đóng góp trong tương lai sẽ được đo lường bằng những giá trị của chuỗi cung ứng. Khái niệm và vai trò của Logistics a) Khái niệm Logistics Trải qua thời gian dài hình thành và phát triển, Logistics có rất nhiều khái niệm để xác định bản chất của mình. Thậm chí, các chuyên gia kinh tế tại Việt Nam không thể dịch thuật ngữ “Logistics” sang một nghĩa tiếng việt hoàn chỉnh mà đã giữ nguyên.

Điều đó cũng phần nào đánh giá khái niệm của Logistics là rất rộng và không thể biểu lộ hết. 12 Trở về với nghiên cứu của Joel, ông tìm được nguồn gốc của Logistics bắt nguồn từ một từ tiếng Pháp “Logistique” mang ý nghĩa là “khu vực”_mang ý nghĩa là nơi đóng quân của quân đội. Trong nghiên cứu này, Joel đã dẫn ra định nghĩa của CSCMP, Logisitcs là một phần của SCM. Logistics bao gồm các công việc: quản lý đầu ra và đầu vào của vận tải, nhà kho, xử lý vật liệu, hoàn thiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới Logistics, quản lý hàng tồn kho, lập kế hoạch cung và cầu và quản lý hoạt động của bên thứ ba cung cấp dịch vụ Logistics (Joel, 2008).

Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm về Logistics. Luật Thương Mại đưa ra khái niệm về “dịch vụ Logistics”. Trong đó, theo Điều 233, Luật Thương Mại Việt Nam 2005 quy định: “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ Logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc.”(Nam, 2005) Theo định nghĩa của ESCAP: Logistics được định nghĩa là việc quản lý dòng trung chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan… từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng.

Hiểu một cách rộng hơn nó còn bao gồm các việc thu hồi và xử lý rác thải. Logisitcs là quá trình lập kế hoạch, thực hiện, kiếm soát việc vận chuyển, lưu trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng. Mục tiêu của Logistics là đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách kịp thời và tối ưu nhất về chi phí (Trần Nguyễn Hợp Châu và các cộng sự, 2021). Còn có rất nhiều định nghĩa khác về Logistic.

Nhưng nhìn chung, các định nghĩa đều thống nhất một quan điểm cho rằng Logistics không phải là hoạt động đơn lẻ, rời rạc nhưng là một chuỗi các hoạt động. Chuỗi các hoạt động này không phải được thực hiện cách ngẫu nhiên. Trái lại, chuỗi các hoạt động này liên kết với nhau cách chặt chẽ, khoa học và được lên kế hoạch cách cẩn thận. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới kết luận trên.

13 Nhưng tất cả đều dựa trên một mục đích là giảm thiểu chi phí cho khách hàng và thu lời từ dịch vụ. Bài khóa luận này chọn định nghĩa của TS. Trần Nguyễn Hợp Châu và các cộng sự làm khái niệm nghiên cứu. Nguyên nhân chính là bởi đây là một định nghĩa được nhóm các nhà khoa học có uy tín, có kinh nghiệm và đang trực tiếp đào tạo tác giả khóa luận.

Chọn định nghĩa này, tác giả khóa luận không bị rủi ro về ngôn ngữ làm sai lệch bản chất của Logistics. Sau này, cùng với Logistics, xuất hiện của thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng làm cho nhiều người hiểu lầm và gây bối rối khi không hiểu rõ. Sau đây là một số quan điểm về Logistics và SCM.Larson và các cộng sự đã nghiên cứu công trình mang tên Perspectives on Logistics vs SCM: A Survey of SCM Professionals. Nhóm tác giả đã trình bày bốn quan điểm về Logistics: • Quan điểm Traditionalist (quan điểm truyền thống): quan điểm này xác định vị trí của SCM so với Logistics.

Stock và Lambert đã khẳng định SCM là một trường hợp đặc biệt của Logistics (Stock và các cộng sự, 2001). SCM nghiên cứu tập trung vào những vấn đề của Logistics (Paul Larson và các cộng sự, 2007). • Quan điểm Re-labeling: quan điểm này đơn giản là thay đổi tên. Ngày trước gọi là Logistics thì nay gọi là SCM.

Công nghệ SCM là giải quyết việc lên kế hoạch và kiểm soát tất cả dòng chảy vật chất từ nhà cung cấp tới người tiêu dùng cuối cùng. Gần đây hơn, các nhà khoa học thừa nhận rằng họ không có ý phân biệt Logistics và SCM. Trong các nghiên cứu của họ, hai thuật ngữ SCM và Logistics được xem như là tương đương. Tóm lại, quan điểm Re-labeling thu hẹp phạm vi của SCM, vì SCM giống với Logistics.

Ngày nay, quan điểm này sử dụng thuật ngữ SCM thay vì Logistics. Nhưng, bản chất vẫn là một (Paul Larson và các cộng sự, 2007). • Quan điểm Unionist: quan điểm nay cho rằng Logistics là một chức năng của SCM. Hay nói cách khác, SCM rộng hơn Logistics.

Quan điểm Unionsit rất sâu và rộng, bao gồm tất cả các yếu tốt phức tạp của chức năng: marketing, bán hàng, nghiên cứu và phát triển, dự đoaán, sản xuất, trả tiền, vận tải, hệ thống thông tin, tài chính và dịch vụ khách hàng. 14 Các nghiên cứu đã đề xuất quan điểm Unionist tương tự như SCOR model tập trung vào: thanh toán, sản xuất và chức năng Logistics. Trent đã loại trừ Marketing, tài chính và IT ra khỏi quan điểm (Paul Larson và các cộng sự, 2007). • Quan điểm Intersectionist: quan điểm này cho rằng SCM không phải là một nhóm các dịch vụ Logistics mà là một chiến lược rộng về việc cắt giảm thủ tục kinh doanh.

Quan điểm này cho rằng SCM và Logistics có sự giao thoa về chức năng. SCM tập trung vào chiến lược nhiều hơn để làm giảm thiểu chi phí (Paul Larson và các cộng sự, 2007). Biểu diễn các quan điểm trên theo sơ đồ sau : Hình 1: Bốn quan điểm về Logisitcs và Supply Chain Value (Nguồn: Paul D.Larson) Tóm lại, xét về mặt thời gian, Logistics xuất hiện trước SCM rất nhiều. Tuy vậy, tác giả khóa luận cho rằng quan điểm SCM rộng hơn Logistics là hợp logic.

Vì nguyên nhân chính là xét cho cùng SCM thực hiện rất nhiều công việc. Mục đích của hai hoạt động khác nhau hoàn toàn. Nếu Logistics là để tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp thì SCM đặc biệt phục vụ cho chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Chiến lược SCM phải được xây dựng dựa trên chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp.

Đôi khi, chiến lược cạnh tranh chấp nhận hi sinh chi phí. Lúc đó, ta sẽ thấy hai mục đích và hai cách tiến hành khác biệt rõ rệt của Logistics và SCM. 15 b) Phân loại Logisitcs Trong việc phân loại Logistics, tác giả sử dụng tiêu thức phân loại dựa trên các hình thức của Logistics. Các định nghĩa và khái niệm được tham khảo trong cuốn giáo trình Logistics và Vận tải Quốc tế của TS.

Trần Nguyễn Hợp Châu và các cộng sự. Nhóm tác giả phân loại như sau: • Logistics bên thứ nhất_ First Party Logistics (1PL) Logisitcs bên thứ nhất hay còn có tên gọi khác là Logistics tự cấp, được hiểu như là một doanh nghiệp hay một cá nhân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ