CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Thông tin thuốc 1. Khái niệm thông tin thuốc Một sản phẩm thuốc phải gồm có hai yếu tố cấu thành là “dược chất” + “thông tin”. Trong đó, “dược chất” có tác dụng dược lý lâm sàng và “thông tin” đi kèm về hướng dẫn sử dụng thuốc [3].
Tóm lại thông tin thuốc là thông tin gắn liền với thuốc, thường được in trong các tài liệu tham khảo hay các nguồn thông tin thuốc [39]. Hoạt động thông tin thuốc là việc thu thập và/hoặc cung cấp các thông tin có liên quan đến thuốc như chỉ định, chống chỉ định, liều dùng, cách dùng, phản ứng có hại của thuốc, phòng ngừa khi dùng cho những nhóm người đặc biệt (trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, người cao tuổi và các đối tượng khác) của đơn vị, cá nhân có trách nhiệm thông tin thuốc nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin của các đơn vị, cá nhân đang trực tiếp hành nghề y, dược hoặc của người sử dụng thuốc [4]. Yêu cầu của thông tin thuốc Thông tin thuốc là đầy đủ phải bảo đảm những yên cầu chung như sau: khách quan, chính xác, trung thực, khoa học, rõ ràng và dứt khoát. Ngoài ra, thông tin thuốc phải có tính hai chiều, nhiều cấp thông tin và phù hợp với mỗi đối tượng tiếp nhận thông tin khác nhau.
Thông tin dành cho nhân viên, cán bộ y tế phải là các thông tin chuyên sâu, từ nhiều nguồn như trung tâm thông tin thuốc, hội thảo khoa học, tài liệu tham khảo,. Thông tin thuốc cho bệnh nhân, với mục đích giúp người bệnh hiểu rõ lợi ích, tác hại của thuốc và phải tuân thủ điều trị, cần có nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, đơn giản, tận dụng được các phương tiện truyền thông sẵn có [2]. Vai trò thông tin thuốc 3 Thông tin thuốc là vô cùng cần thiết với việc hướng dẫn lựa chọn sử dụng thuốc an toàn và hợp lý. Thông tin thuốc cung cấp các thông tin liên quan đến thuốc bao gồm thông tin về dạng bào chế, tác dụng dược lý, liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, tác dụng không mong muốn, thông tin liên quan đến các đối tượng bệnh nhân đặc biệt,.
Chính vì vậy, các cán bộ, nhân viên y tế được hỗ trợ trong công tác lựa chọn, đưa ra quyết định sử dụng thuốc an toàn và hợp lý trên từng bệnh nhân cụ thể. Các thông tin cập nhật về thuốc mới, tác dụng mới, phác đồ điều trị hay các khuyến cáo đã giúp hạn chế những rủi ro trong quá trình sử dụng thuốc và tăng hiệu quả điều trị. Việc cung cấp thông tin thuốc một cách chính xác đã được nhận định là hiệu quả đối với việc cải thiện tình trạng của bệnh nhân và giảm thiểu các sai sót trong điều trị [19]. Thiếu thông tin thuốc sẽ dẫn đến những hậu quả không thể lường trước do tác dụng hai mặt của thuốc.
Thảm họa Thalidomide xảy ra vào đầu những năm 1960 chính là ví dụ điển hình về những tác dụng có hại rất nguy hiểm mà không được hoặc chưa thể được phát hiện trong trong quá trình thử nghiệm lâm sàng của thuốc. Sự thiếu thông tin thuốc là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những sai lầm trong điều trị , mà những sai lầm đó cũng chính là nguyên nhân hàng đầu mang đến tác hại cho bệnh nhân [36]. Vai trò của người dược sỹ trong hoạt động thông tin thuốc Thuật ngữ “thông tin thuốc” gắn liền với các khái niệm “trung tâm thông tin thuốc” và “chuyên gia thông tin thuốc”. Hay nói cách khác nhắc đến thông tin thuốc là nhắc đến vai trò của người dược sỹ như người tư vấn về thuốc trong quá trình sử dụng thuốc trên lâm sàng [39].
Từ những năm 1960, nhiều thuốc mới ra đời và được đưa vào sử dụng trong điều trị. Bác sỹ phải nắm bắt kịp thời và đưa ra được quyết định đúng đắn. Khi đó khó khăn chủ yếu là sự hạn chế của nguồn thông tin. Chính vì vậy, 4 người dược sỹ có vai trò đưa thông tin thuốc tới các y bác sỹ, nhân viên y tế [39].
Với mục tiêu sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, tăng hiệu quả trong điều trị, các dược sỹ đã khẳng định vai trò của mình trong việc cung cấp thông tin thuốc, bằng kiến thức và các kỹ năng tra cứu [14,32]. Tính cần thiết của việc phát hiện, theo dõi các phản ứng bất lợi của thuốc cả trước và sau khi được lưu hành, sự phức tạp, thay đổi của các phác đồ điều trị và sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin là những yếu tố đòi hỏi người dược sỹ cần sử dụng kiến thức và kỹ năng của mình trong việc hợp tác với bác sỹ nhằm mục tiêu hạn chế các phản ứng có hại, tra cứu và giữ tính cập nhật thông tin về thuốc đồng thời phân tích, đánh giá để đưa ra quyết định sử dụng thuốc trong điều trị đúng đắn [39]. Từ lâu, ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, người dược sỹ có vai trò lớn bên cạnh bác sỹ, hỗ trợ các vấn đề về thuốc và điều trị của bệnh nhân. Tại Việt Nam, các yêu cầu về “thông tin thuốc”, “dược sỹ lâm sàng” đang dần được hoàn thiện và cụ thể cả trong thực tiễn lẫn những quy định của pháp luật.
Sự ra đời và hoạt động lâu dài của Trung tâm Quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc (Trung tâm DI & ADR Quốc gia) từ năm 2009 cho thấy vai trò quan trọng của người dược sỹ ngày càng được chú ý. Bộ Y tế đã có những văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng và hoạt động của dược lâm sàng cũng như thông tin thuốc. Cho đến hiện tại, tất cả các bệnh viện lớn đều đã có những đơn vị thông tin thuốc và có hoạt động ngày càng hiệu quả. Cơ sở dữ liệu thông tin thuốc 1.
Vai trò của cơ sở dữ liệu thông tin thuốc CSDL thông tin thuốc là công cụ cần thiết và đắc lực để người dược sỹ thực hiện nhiệm vụ thông tin thuốc của mình. 5 Các CSDL cung cấp thông tin thuốc hiện nay có biên tập và lưu trữ mọi thông tin về các lĩnh vực liên quan đến thuốc dưới nhiều hình thức trình bày và tra cứu khác nhau. Số lượng và chất lượng của CSDL thông tin thuốc là đa dạng và phong phú. Trong khi khả năng học thuộc và trí nhớ của còn người là giới hạn, và thông tin thuốc lại luôn có sự cập nhật, bổ sung thì các CSDL, đặc biệt là các nguồn tra cứu trực tuyến trên internet, cung cấp được nguồn thông tin phong phú, đa dạng, liên tục tại các địa điểm, thời điểm khác nhau, kèm theo bằng chứng như trích dẫn, chú thích,.
giúp người thực hiện tra cứu có cái nhìn tổng aun cũng như và cụ thể về thông tin y tế cũng như tình hình sử dụng thuốc trong thực hành lâm sàng. Sự đào sâu nghiên cứu, tổng hợp những thông tin chuyên biệt, đi cùng với những phát triển công nghệ, ngày càng có nhiều CSDL về thông tin thuốc nói chung như AHFS Drug Information [15], Martindale: The Complete Drug References [45], Dược thư Quốc gia Việt Nam [5],.; hay các CSDL chuyên biệt về một lĩnh vực thông tin cụ thể như tương tác thuốc (Drug Interaction Facts [44], Stockley’s Drug Interactions [42],.), thuốc sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú (Drugs in Pregnancy and Lactation [20],.), thông tin về thuốc tiêm (Handbook on Injectable Drugs [16],.) và nhiều lĩnh vực khác. Hình thức tra cứu cũng đa dạng như sách, báo, tạp chí, phần mềm trên máy tính, thiết bị điện tử, công cụ hỗ trợ kê và duyệt đơn (Personal Digital Assistant, PDA) và thông qua truy cập trực tuyến trên internet. Áp dụng những hình thức tra cứu này giúp tiết kiệm thời gian, công sức, hỗ trợ tốt hơn cho việc lựa chọn thuốc trong điều trị và giảm thiểu tối đa rủi ro khi sử dụng thuốc [18,34].
Loại hình tra cứu thông tin thuốc Nguồn thông tin thuốc thường được chia thành ba cấp: nguồn thông tin cấp một, nguồn thông tin cấp hai, nguồn thông tin cấp ba. 6 - Nguồn thông tin cấp một: các bài báo khoa học, công trình nghiên cứu gốc đăng tải đầy đủ trên các tạp chí khoa học, mạng internet, các báo cáo chuyên môn, các khóa luận tốt nghiệp hay sổ tay phòng thí nghiệm,. Các thông tin từ nguồn cấp một thường do tác giả công bố mà không có sự can thiệp đánh giá của bên thứ hai. Nguồn thông tin này cung cấp chi tiết, đầy đủ về các nghiên cứu, phong phú và cập nhật thường xuyên.
Tuy nhiên, nguồn thông tin này thiếu tính khái quát. Khi tra cứu cần tham khảo nhiều báo cáo để có thể đưa ra kết luận chính xác [2,39]. - Nguồn thông tin cấp hai: là hệ thống mục lục các thông tin hoặc các bài tóm tắt của các thông tin từ nguồn thông tin cấp một. Khi cần tìm hiểu, tra cứu về một vấn đề cụ thể, có thể tham khảo từ nguồn thông tin cấp hai để có thể tiếp cận một cách toàn diện, đầy đủ với danh mục các thông tin liên quan hoặc các bài tóm tắt.
Nguồn thông tin cấp hai tổng kết các thông tin liên quan một cách có hệ thống, giúp tìm kiếm nhanh và hiệu quả hơn. Tuy vậy, nếu muốn tham khảo được thông tin chi tiết thì người tra cứu cần phải quay lại nguồn thông tin cấp một. Nguồn thông tin cấp hai có thể được lưu trữ trong CD-ROM hoặc phổ biến hơn nhiều là đưa lên mạng internet [2,39]. - Nguồn thông tin cấp ba: là những thông tin được xây dựng từ sự tổng hợp thông tin từ hai nguồn cấp một và cấp hai, thường được công bố ở dạng sách giáo khoa, các bản hướng dẫn điều trị chuẩn,.
thông tin trong nguồn thông tin cấp ba được tác giả tổng hợp từ nhiều nguồn, nhiều nghiên cứu khác nhau nên có được tính tổng quát, đầy đủ và đáng tin cậy. Tính cập nhật của nguồn thông tin cấp ba thường kém cập nhật hơn hai cấp một và hai, và chất lượng phụ thuộc vào các tác giả. Nếu cần thông tin chi tiết và cập nhật hơn, người tra cứu vẫn cần quay lại hai cấp thông tin hai và một. Một số nguồn thông tin cấp ba được sắp xếp theo lĩnh vực tra cứu được kể tên cụ thể trong Phụ lục 1 [2,39,Phụ lục 1].1: Một số nguồn thông tin cấp một và nguồn thông tin cấp hai thường được sử dụng trên thế giới và tại Việt Nam [10,39] Nguồn thông tin cấp một Nguồn thông tin cấp hai The New England Journal of Medline (nlm.gov) Medicine The Lancet Cochcrane Library (cochcranelibrary.com) Pharmacology & Therapeutics IOWA Drug Information Services (pharmacy.edu) Clinical Pharmacology and International Pharmaceutical Therapeutics Abtracts (ashp.