Chương 1: Cơ sở lý luận kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương. Chương 2: Kế toán tiền lương và các khoản khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Trợ giúp Thương mại Khang An. Chương 3: Nhận xét và kiến nghị. Khóa luận tốt nghiệp 2014 Trang 2 Giáo viên hƣớng dẫn: ThS Võ Tƣờng Oanh Hoàng Ngọc Như Linh - 12HKT04 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG 1.1 Khái niệm và phân loại lao động trong doanh nghiệp: 1.1 Khái niệm: Lao động là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất.
Lao động sống là sự hao phí có mục đích về trí lực và thể lực của con người sử dụng các tư liệu lao động nhằm tác động, biến đổi các đối tượng lao động thành vật phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình.2 Phân loại lao động trong doanh nghiệp: Căn cứ vào vào tính chất công việc mà người lao động đảm nhận, lao động của doanh nghiệp cũng như của từng bộ phận trong doanh nghiệp được chia thành 2 loại: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.1 Lao động trực tiếp: 1.1 Khái niệm: Lao động trực tiếp là những người trực tiếp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định.2 Phân loại: Theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện, loại lao động trực tiếp được chia thành: Lao động sản xuất kinh doanh chính, lao động sản xuất kinh doanh phụ trợ, lao động của các hoạt động khác. Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động trực tiếp được phân thành các loại: - Lao động tay nghề cao: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế, có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao. - Lao động có tay nghề trung bình: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn, nhưng thời gian công tác thực tế chưa nhiều hoặc những người chưa được đào tạo qua trường lớp chuyên môn nhưng có thời gian làm việc thực tế tương đối lâu được trưởng thành do học hỏi từ thực tế.2 Lao động gián tiếp: 1.3 Khái niệm: Khóa luận tốt nghiệp 2014 Trang 3 Giáo viên hƣớng dẫn: ThS Võ Tƣờng Oanh Hoàng Ngọc Như Linh - 12HKT04 Lao động gián tiếp là những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp.4 Phân loại: Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn, loại lao động này được chia thành: Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính. Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động gián tiếp được phân thành các loại: - Chuyên viên chính: Là những người có trình độ từ đại học trở lên có trình độ chuyên môn cao, có khả năng giải quyết các công việc mang tính tổng hợp, phức tạp.
- Chuyên viên: Cũng là những người lao động đã tốt nghiệp đại học, trên đại học, có thời gian công tác tương đối lâu, trình độ chuyên môn tương đối cao. - Cán sự: Gồm những người mới tốt nghiệp đại học, có thời gian công tác thực tế chưa nhiều. - Nhân viên: Là những người lao động gián tiếp với trình độ chuyên môn thấp, có thể đã qua đào tạo các trường lớp chuyên môn, nghiệp vụ, hoặc chưa qua đào tạo. Phân loại lao động trong doanh nghiệp có ý nghĩa lớn trong việc nắm bắt thông tin về số lượng và thành phần lao động, về trình độ nghề nghiệp của người lao động trong doanh nghiệp, về sự bố trí lao động trong doanh nghiệp từ đó thực hiện quy hoạch lao động, lập kế hoạch lao động.
Mặt khác, thông qua phân loại lao động trong toàn doanh nghiệp và từng bộ phận giúp cho việc lập dự toán chi phí nhân công trong chi phí SXKD, lập kế hoạch quỹ lương và thuận lợi cho việc kiểm tra tình hình thực hiện các kế hoạch và dự toán này. Cơ cấu thành phần các loại lao động trong doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện kế hoạch SXKD, vì vậy trên cơ sở phân loại lao động cần phải hạch toán được tình hình hiện có và sự biến động về lượng lao động theo từng loại lao động trong doanh nghiệp. Để thực hiện việc này, doanh nghiệp dùng “Sổ danh sách lao động của doanh nghiệp” và “Sổ danh sách lao động của từng bộ phận trong doanh nghiệp”. Sổ này do bộ phận lao động tiền lương lập làm 2 bản.
Một bản được sử dụng ở bộ phận lao động tiền lương của doanh nghiệp, một bản chuyển cho phòng kế toán doanh nghiệp. Khi có sự biến động về số lượng lao động, căn cứ vào các chứng từ như quyết định tiếp nhận lao động, Khóa luận tốt nghiệp 2014 Trang 4 Giáo viên hƣớng dẫn: ThS Võ Tƣờng Oanh Hoàng Ngọc Như Linh - 12HKT04 giấy thuyên chuyển công tác, quyết định cho thôi việc, quyết định nghỉ hưu… để kế toán và bộ phận lao động tiền lương của doanh nghiệp ghi vào sổ. Số liệu trên sổ danh sách lao động được sử dụng để lập báo cáo lao động hàng tháng, quý, năm và phân tích số lượng, cơ cấu lao động phục vụ cho quản lý lao động trong doanh nghiệp.2 Tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng: 1.1 Tiền lƣơng: Theo quan niệm của Mác: Tiền lương là biểu hiện sống bằng tiền của giá trị sức lao động. Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền lương là giá cả của lao động, được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động.
Ở Việt Nam trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, tiền lương được hiểu là một bộ phận thu nhập quốc dân dùng để bù đắp hao phí lao động tất yếu do Nhà nước phân phối cho công nhân viên chức bằng hình thức tiền tệ, phù hợp với quy luật phân phối theo lao động. Hiện nay theo Điều 55 của Bộ Luật Lao Động Việt Nam quy định tiền lương của người lao động là do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Như vậy, tiền lương là một bộ phận của sản phẩm xã hội biểu hiện bằng tiền được trả cho người lao động dựa trên số lượng và chất lượng lao động của mọi người dùng để bù đắp lại hao phí lao động của mọi người dùng để bù đắp lại hao phí lao động của họ và nó là một vấn đề thiết thực đối với cán bộ công nhân viên. Tiền lương được quy định một cách đúng đắn, là yếu tố kích thích sản xuất mạnh mẽ, nó kích thích người lao động ra sức sản xuất và làm việc, nâng cao trình độ tay nghề, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động.2 Khái niệm về các khoản trích theo lƣơng: Bên cạnh việc chi trả tiền lương, người sử dụng lao động còn phải trích một số tiền nhất định tính theo tỷ lệ phần trăm ( % ) của tiền lương để hình thành các quỹ theo chế độ quy định nhằm đảm bảo lợi ích của người lao động hoặc nộp thay các khoản nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước cho người lao động.
Đó là các khoản trích theo lương, được thực hiện theo chế độ tiền lương ở nước ta, bao gồm: - Bảo hiểm xã hội: là khoản tiền người lao động được hưởng trong trường hợp nghỉ việc do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản. Khóa luận tốt nghiệp 2014 Trang 5 Giáo viên hƣớng dẫn: ThS Võ Tƣờng Oanh Hoàng Ngọc Như Linh - 12HKT04 - Bảo hiểm y tế: là khoản tiền hàng tháng của người lao động và người sử dụng lao động đóng cho các cơ quan y tế để được đài thọ khi có phát sinh nhu cầu khám và chữa bệnh. - Bảo hiểm thất nghiệp: là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc mà đáp ứng đủ yêu cầu theo Luật định. Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ.
Người lao động vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp. Những người lao động này sẽ được hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất định. Ngoài ra, chính sách BHTN còn hỗ trợ học nghề và tìm việc làm đối với NLĐ tham gia BHTN. - Kinh phí công đoàn: là khoản tiền dùng để duy trì hoạt động tổ chức công đoàn đơn vị và công đoàn cấp trên.
Tổ chức này hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi và nâng cao đời sống của người lao động. - Thuế Thu nhập cá nhân: khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách nhà nước.3 Quỹ tiền lƣơng: 1.1 Khái niệm: Quỹ tiền lương là tất các khoản tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp có tính chất lương mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử dụng.2 Nội dung: Đứng trên giác độ hạch toán, quỹ tiền lương được phân thành 02 phần: - Quỹ lương chính: là tiền lương trả cho người lao động được tính theo khối lượng công việc hoàn thành hoặc tính theo thời gian làm nhiệm vụ chính tại đơn vị, bao gồm: tiền lương theo sản phẩm, tiền lương theo thời gian và các khoản phụ cấp kèm theo. - Quỹ lương phụ: là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian không làm việc tại xí nghiệp nhưng vẫn được hưởng lương theo chế độ quy định như: nghỉ phép, nghỉ lễ, học tập quân sự, nghỉ trong thời gian máy hỏng… 1.4 Các quỹ hình thành từ tiền lƣơng: 1.1 Bảo hiểm xã hội: Khóa luận tốt nghiệp 2014 Trang 6 Giáo viên hƣớng dẫn: ThS Võ Tƣờng Oanh Hoàng Ngọc Như Linh - 12HKT04 Ngoài tiền lương phân phối cho người lao động theo số lượng chất lượng lao động thì người lao động còn được hưởng một phần sản phẩm xã hội dưới hình thức tiền tệ nhằm ổn định đời sống vật chất, tinh thần khi ốm đau, thai sản, mất sức, tai nạn lao động. Phần sản phẩm xã hội này hình thành lên Quỹ bảo hiểm xã hội.
Đây là là một trong những nội dung quan trọng của chính sách xã hội mà Nhà nước đảm bảo cho mỗi người lao động được hưởng các chế độ phù hợp với quy định về quyền lợi dựa trên văn hoá pháp lý của Nhà nước, đồng thời phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước, quỹ BHXH được hình thành từ: - Người sử dụng lao động (các doanh nghiệp ) đóng 18% từ quỹ tiền lương.