CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, THU NHẬP VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề chung về doanh thu, thu nhập, xác định kết quả kinh doanh và kế toán doanh thu, thu nhập và xác định kết quả kinh doanh 1. Thương mại và các khái niệm liên quan đến hoạt động thương mại Thương mại “Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ. giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng (barter).
Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ. cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó”. [24] Trần Thị Hồng Mai lại đưa ra khái niệm về thương mại như sau: “Thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh. Theo nghĩa hẹp, thương mại là quá trìnhh mua, bán hàng hoá trên thị trường, là lĩnh vực lưu thông, phân phối hàng hoá” [16].
Ta có thể thấy cách giải thích này đã làm rõ hơn so với cách giải thích phía trên của Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia và đã nói rõ về bản chất theo nghĩa rộng và hẹp của thương mại. Doanh nghiệp thương mại “Doanh nghiệp thương mại là doanh nghiệp chuyên hoạt động trong lĩnh vực mua bán hàng hóa và thực hiện các hoạt động dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng nhằm thu lợi nhuận”. [12] Hoạt động kinh doanh thương mại Hoạt động kinh doanh thương mại: “Là hoạt động lưu thông phân phối hàng hóa trên thị trường buôn bán của từng quốc gia riêng biệt hoặc giữa các quốc gia với nhau, thực hiện quá trình lưu thông chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất, nhập khẩu tới nơi tiêu d ù n g ”. [9] SVTH: Nguyễn Thị Mỹ 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Phạm Thị Hồng Quyên Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại Hoạt động kinh doanh thương mại có nhiều đặc điểm khác biệt so với các ngành sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, trong đó có những đặc điểm cơ bản ảnh hưởng tới tổ chức công tác kế toán như sau: - Hoạt động kinh doanh thương mại là tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Khi thực hiện hoạt động này, DN phải nắm vững nhu cầu thị trường, huy động và sử dụng hợp lý các nguồn hàng nhằm thoả mãn tốt mọi nhu cầu xã hội. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện lưu thông hàng hoá, các DN thương mại còn có thể tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông thông qua việc tổ chức vận chuyển, tiếp nhận, phân loại, sơ chế,. và thực hiện dự trữ hàng hoá.
Để tổ chức các kênh phân phối bán lẻ, bán buôn, các DN phải có mạng lưới cửa hàng bán lẻ, đại lý hợp lý. - Hoạt động kinh doanh thương mại thực hiện giá trị hàng hóa.Với đặc điểm này, các DN thương mại cần quan tâm đến giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. DN sản xuất và người tiêu dùng cần giá trị sử dụng của hàng hoá với giá cả phải chăng. Vì vậv, DN thương mại cần quản lý chặt chẽ chi phí mua hàng và các chi phí kinh doanh cũng như xác định đúng giá của hàng xuất kho, làm cơ sở định giá bán hợp lý.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ a) Khái niệm doanh thu Hiện nay trong và ngoài nước có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Doanh thu “Doanh thu là tài sản thu được từ hoạt động kinh doanh và hoạt động kinh doanh của một công ty. Nói cách khác, doanh thu bao gồm tiền mặt hoặc khoản phải thu mà một công ty nhận được để bán hàng hoá hoặc dịch vụ của mình” [22]. Có nhiều loại tài khoản doanh thu khác nhau, nhưng tất cả chúng đều đại diện cho cùng một khái niệm cơ bản: Công ty nhận tiền mặt hoặc yêu cầu bồi thường bằng tiền mặt để bán hoặc sử dụng tài sản của mình. Thu nhập thường được chia thành hai loại khác nhau: thu nhập hoạt động và doanh thu phi thu nhập hoặc thu nhập khác.
“Trong kế toán, doanh thu là thu nhập mà một doanh nghiệp có từ hoạt động kinh doanh bình thường của nó, thường là từ việc bán hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng.” [24] Theo chuẩn mực số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính: - Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phầm tăng SVTH: Nguyễn Thị Mỹ 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Hồng Quyên vốn chủ sở hữu. - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). [1] b) Điều kiện ghi nhận doanh thu Theo chuẩn mực số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính: Điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu bán hàng khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau: • Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa cho người mua; • Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; • Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; • Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; • Xác định được các chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng Điều kiện ghi nhận doanh thu về cung cấp dịch vụ Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi thỏa mãn tất cả bốn (4) điều kiện sau: • Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; • Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó; • Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng cân đối kế toán; • Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
Các khoản giảm trừ doanh thu Căn cứ theo chuẩn mực 14 về “Doanh thu và thu nhập khác” (Ban hành theo QĐ số 149/2001/QĐ-BTC của Bộ trưởng BTC), các khoản giảm trừ doanh thu gồm: • Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. • Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm SVTH: Nguyễn Thị Mỹ 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Hồng Quyên chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. • Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
Doanh thu tài chính “Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản doanh thu do hoạt động đầu tư tài chính hoặc do kinh doanh” [13]. Doanh thu từ hoạt động tài chính bao gồm: • Thu nhập là lợi tức cho vay do bên đi vay thanh toán; • Thu nhập về cho thuê tài chính gồm cả số tiền trả theo giá vốn và lợi tức cho thuê do bên đi thuê thanh toán; • Thu nhập lợi tức cổ phiếu, trái phiếu và chênh lệch giá bán với giá vốn của các chứng khoán bán ra; • Các khoản chiết khấu thanh toán được nhận từ bên bán hàng và cung cấp dịch vụ; • Lãi tiền gửi; • Lãi tỷ giá hối đoái… 1. Thu nhập khác Thu nhập khác “là khoản thu làm tăng nguồn vốn chủ sỡ hữu, bao gồm các khoản thu từ các hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu”. [1] Thu nhập khác bao gồm: • Thu nhập từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ; • Chênh lệch lãi do đánh giá lại vật tư, hàng hoá, tài sản cố định đưa đi góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư dài hạn khác; • Thu nhập từ nghiệp vụ bán và thuê lại tài sản; • Các khoản thuế phải nộp khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ nhưng sau đó được giảm, được hoàn; • Thu tiền được phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng; • Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ; • Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ; • Thu nhập quà biếu, quà tặng bằng tiền, hiện vật của các tổ chức, cá nhân tặng cho doanh nghiệp; • Giá trị số hàng khuyến mại không phải trả lại; • Các khoản thu nhập khác ngoài các khoản nêu trên.
Gía vốn hàng bán SVTH: Nguyễn Thị Mỹ 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Hồng Quyên a. Khái niệm “Giá vốn hàng bán là giá thực tế xuất kho của một số sản phẩm (hoặc gồm cả chi phí mua hàng phân bổ cho hàng hóa đã được bán trong kỳ, đối với doanh nghiệp thương mại), hoặc giá thành thực tế của dịch vụ hoàn thành và đã được xác định là tiêu thụ và các khoản khác được tính vào giá vốn để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ”. Phương pháp xác định giá vốn hàng bán Phương pháp hạch toán hàng tồn kho Phương pháp kê khai thường xuyên: Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho là phương pháp ghi chép phản ánh thường xuyên liên tục có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho các loại hàng hóa trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất.
Trị giá HTK Trị giá + Trị giá HTK - Trị giá HTK = cuối kì HTK đầu kì nhập trong kì xuất trong kì Phương pháp kiểm kê định kỳ: Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên về tình hình nhập, xuất, tồn của các loại hàng hóa trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định lượng tồn kho thực tế.