Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nền y dược học cổ truyền Việt Nam sở hữu kho tàng dược liệu phong phú từ nguồn thực vật nhiệt đới đa dạng sinh học. Xu hướng nghiên cứu, chiết xuất và xác định hoạt chất sinh học từ các bài thuốc thảo dược tự nhiên nhằm phục vụ điều trị bệnh ngày càng được chú trọng. Cây Chùm ngây (Moringa oleifera Lam., thuộc họ Moringaceae) là loài thực vật có giá trị dinh dưỡng và dược lý cao, được sử dụng phổ biến trong dân gian và y học cổ truyền để trị sỏi thận, hạ huyết áp, bảo vệ gan, kháng viêm, hỗ trợ điều trị khối u và thanh lọc nước. Mặc dù trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Chùm ngây, nhưng tại Việt Nam ở thời điểm năm 2012, các khảo sát chuyên sâu về thành phần hóa học của lá cây Chùm ngây trồng trong nước vẫn còn hạn chế.

Đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân Hóa học chuyên ngành Hóa Hữu cơ của tác giả Võ Tấn Thanh Mai tập trung vào việc nghiên cứu thực nghiệm thành phần hóa học từ lá cây Chùm ngây với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Điều chế cao tổng chiết cồn (EtOH) từ mẫu lá Chùm ngây khô và thực hiện chiết phân bố pha rắn với các dung môi có độ phân cực tăng dần: Hexane, Chloroform ($\text{CHCl}_3$), Etyl axetat ($\text{EtOAc}$) và Metanol ($\text{MeOH}$).
  2. Sử dụng các kỹ thuật sắc ký cột hiện đại để phân tách, cô lập các hợp chất tinh khiết từ phân đoạn cao etyl axetat ($\text{EtOAc}$).
  3. Sử dụng các phương pháp phổ nghiệm hiện đại (ESI-MS, 1D-NMR, 2D-NMR) và các hằng số vật lý để xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mẫu lá cây Chùm ngây (Moringa oleifera Lam., họ Moringaceae).
  • Phạm vi không gian: Mẫu lá được thu hái tại huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (do Công ty TNHH SX TM Hạnh Thông cung cấp và được giám định tên khoa học tại Trung tâm Sâm và Dược liệu TP. Hồ Chí Minh).
  • Phạm vi thực nghiệm và thời gian: Thực hiện tại Phòng Công nghệ các hợp chất có hoạt tính sinh học thuộc Viện Công nghệ Hóa học và Khoa Hóa học - Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, hoàn thành vào tháng 5 năm 2012. Khảo sát tập trung sâu vào phân đoạn cao chiết phân cực trung bình $\text{EtOAc}$.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung phân loại thực vật và cơ sở lý thuyết hóa hợp chất tự nhiên

Họ Chùm ngây (Moringaceae) trên thế giới chỉ có một chi duy nhất là Moringa với khoảng 10 loài phân bố tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Về mặt hóa thực vật, các nghiên cứu quốc tế trước đó đã xác định chi Moringa chứa nhiều nhóm hợp chất tự nhiên quý gồm: flavonoid glycoside (chứa khung quercetin, kaempferol, kaempferide, rutin), các glycoside đặc trưng gắn vòng rhamnose/glucose mang nhóm thiocarbamate, carbamate, isothiocyanate, nitrile (như niazinin, niazimicin, niazicin, niaziridin), hợp chất phenolic, acid hữu cơ, sterol ($\beta$-sitosterol, stigmasterol) và alkaloid (moringin, moringinin).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và phân lập

  • Phương pháp chiết xuất: Mẫu lá khô (7 kg) được xay mịn, ngâm chiết dầm với cồn $\text{EtOH}\ 96^\circ$ ở nhiệt độ phòng (ngâm 4 lần, mỗi lần 2 ngày). Dịch chiết gom lại và cô thu hồi dung môi dưới áp suất thấp trên máy cô quay chân không Buchi 111 để tạo 1,5 kg cao cồn sệt. Sau đó, cao cồn được phối trộn với silica gel, sấy khô ở $40^\circ\text{C}$ và chiết phân bố pha rắn lần lượt với các dung môi tăng dần độ phân cực: Hexane $\rightarrow$ $\text{CHCl}_3$ $\rightarrow$ $\text{EtOAc}$ $\rightarrow$ $\text{MeOH}$.
  • Kỹ thuật sắc ký:
    • Sắc ký cột cổ điển (SKC) sử dụng chất hấp phụ silica gel pha thường (cỡ hạt $40 - 60\ \mu\text{m}$), silica gel pha đảo Rp18 (cỡ hạt $30 - 50\ \mu\text{m}$) và Sephadex LH-20.
    • Sắc ký lớp mỏng (SKLM) dùng bản mỏng tráng sẵn DC-Alufolien $F_{254}$ (Merck) cho pha thường và Rp18 $F_{254s}$ (Merck) cho pha đảo.
    • Phát hiện vết chất trên bản mỏng bằng đèn tử ngoại UV cầm tay hiệu UVITEC ở hai bước sóng $254\text{ nm}$ và $365\text{ nm}$, kết hợp phun thuốc thử dung dịch $\text{H}_2\text{SO}_4\ 10%$ trong $\text{EtOH}$ hoặc dung dịch $\text{FeCl}_3/\text{EtOH}$ kèm gia nhiệt trên thiết bị gia nhiệt hồng ngoại SCHOTT.

Phương pháp xác định cấu trúc hóa học

  • Đo điểm nóng chảy trên máy Electrothermal IA 9000 series (dùng mao quản không hiệu chỉnh) tại Phòng Hóa học các Hợp chất thiên nhiên, Viện Công nghệ Hóa học.
  • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR): Đo phổ $^1\text{H-NMR}$ ($500\text{ MHz}$) và $^{13}\text{C-NMR}$ ($125\text{ MHz}$) cùng các kỹ thuật phổ phân rã DEPT (DEPT 90, DEPT 135) và phổ hai chiều (HMBC, HSQC) trên máy Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer.
  • Phổ khối lượng phun mù điện tử (ESI-MS): Đo tại Viện Hóa học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Hà Nội).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan

Chương 1 tổng hợp toàn diện các thông tin về thực vật học, công dụng dược liệu truyền thống và các công trình nghiên cứu hiện đại về cây Chùm ngây:

  • Đặc điểm sinh thái và phân bố: Cây Chùm ngây là cây thân gỗ nhỏ, lớn nhanh ($5 - 10\text{ m}$ trong năm đầu), chịu hạn tốt, phân bố tự nhiên từ Ấn Độ và di thực sang nhiều quốc gia nhiệt đới. Tại Việt Nam, cây mọc và được trồng rải rác từ Quảng Nam trở vào Nam (Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai...).
  • Giá trị y học cổ truyền và dược lý: Trình bày chi tiết công dụng của từng bộ phận (rễ, thân, lá, hoa, hạt). Các nghiên cứu dược lý quốc tế chứng minh dịch chiết Chùm ngây có hoạt tính chống tăng huyết áp, giảm cholesterol máu, bảo vệ gan, chống loét, chống co thắt, kháng khuẩn, kháng nấm, kháng virus và ức chế sự phát triển của khối u.
  • Thành phần hóa học: Tổng thuật hơn 70 hợp chất đã được các nhóm tác giả quốc tế cô lập từ lá, rễ, hạt, vỏ và hoa chùm ngây. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đại học Y Dược TP.HCM (2011) ghi nhận tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ gan của cao lá; Trung tâm Sâm và Dược liệu TP.HCM (2010) khảo sát và định lượng hàm lượng flavonoid toàn phần trong lá non và lá già.

Chương 2. Thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết hóa chất, thiết bị và các bước thực nghiệm chiết tách, phân lập:

  • Điều chế các phân đoạn cao thô: Từ 7 kg bột lá khô Chùm ngây chiết với $\text{EtOH}\ 96^\circ$ thu được 1,5 kg cao $\text{EtOH}$. Chiết phân bố pha rắn thu được các phân đoạn cao:
    • Cao Hexane: $105\text{ g}$
    • Cao $\text{CHCl}_3$: $150\text{ g}$
    • Cao $\text{EtOAc}$: $360\text{ g}$
    • Cao $\text{MeOH}$: $800\text{ g}$
  • Quá trình phân lập từ cao $\text{EtOAc}$ ($360\text{ g}$):
    • Thực hiện SKC pha thường với hệ dung môi Hexane : $\text{EtOAc}$ ($10:1 \rightarrow 1:1 \rightarrow 100%\ \text{EtOAc}$) và $\text{EtOAc} : \text{MeOH}$ ($1:1 \rightarrow 1:5 \rightarrow 100%\ \text{MeOH}$), thu được 7 phân đoạn chính ký hiệu từ E1 đến E7.
    • Phân đoạn E5 ($49,8209\text{ g}$) được chọn để tiếp tục SKC với hệ Hexane : EA và EA : MeOH, tách thành 6 phân đoạn nhỏ (E51 – E56).
    • Phân đoạn E54 ($6,8797\text{ g}$) được SKC tiếp thu được 5 phân đoạn (E541 – E545).
    • Từ phân đoạn E544 ($1,739\text{ g}$), qua 2 lần SKC với hệ dung môi $\text{CHCl}_3 : \text{MeOH}$ với độ phân cực tăng dần, thu được hợp chất MO7 ($7,4\text{ mg}$) ở dạng bột màu trắng.
    • Từ phân đoạn E545 ($0,8787\text{ g}$), qua nhiều lần sắc ký cột liên hoàn (tách phân đoạn E5453 $\rightarrow$ E54533 $\rightarrow$ E545332) và tinh chế bằng hệ dung môi $\text{CHCl}_3 : \text{MeOH} : \text{H}_2\text{O}$ ($10:1:0,1$), thu được hợp chất MO12 ($9,0\text{ mg}$) ở dạng bột màu trắng.
Bảng phân đoạn sắc ký Khối lượng Hệ dung môi rửa giải chính Kết quả thu nhận
Cao EtOAc $360\text{ g}$ Hexane : EtOAc $\rightarrow$ EtOAc : MeOH 7 phân đoạn (E1 – E7)
Phân đoạn E5 $49,8209\text{ g}$ Hexane : EA $\rightarrow$ EA : MeOH 6 phân đoạn (E51 – E56)
Phân đoạn E54 $6,8797\text{ g}$ Hexane : EtOAc $\rightarrow$ EtOAc : MeOH 5 phân đoạn (E541 – E545)
Phân đoạn E544 $1,739\text{ g}$ $\text{CHCl}_3 : \text{MeOH}$ ($50:1 \rightarrow 100%\ \text{MeOH}$) Thu nhận hợp chất MO7 ($7,4\text{ mg}$)
Phân đoạn E545 $0,8787\text{ g}$ $\text{CHCl}_3 : \text{MeOH} : \text{H}_2\text{O}$ ($10:1:0,1$) Thu nhận hợp chất MO12 ($9,0\text{ mg}$)

Chương 3. Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày chi tiết lập luận xác định cấu trúc hóa học của hai hợp chất dựa trên các dữ liệu phổ nghiệm:

1. Xác định cấu trúc hợp chất MO7

  • Dạng bột vô định hình màu trắng.
  • Phổ ESI-MS cho đỉnh ion phân tử tại $m/z\ [\text{M} - \text{H} + \text{H}2\text{O}]^- = 394,1$, phù hợp với công thức phân tử $\text{C}{18}\text{H}_{21}\text{O}_7\text{N}$.
  • Phổ $^1\text{H-NMR}$ ($d_6\text{-DMSO}$) và $^{13}\text{C-NMR}$/DEPT:
    • Tín hiệu phân tử đường $\alpha\text{-L-rhamnose}$: proton anomer $\delta_\text{H}\ 5,30\text{ ppm}$ ($1\text{H}, d, J = 1,5\text{ Hz}$), nhóm methyl $\delta_\text{H}\ 1,07\text{ ppm}$ ($3\text{H}, d, J = 6\text{ Hz}$) tương ứng với $\delta_\text{C}\ 98,4$ (C-1''') và $\delta_\text{C}\ 17,8$ (C-6'''), cùng các carbon mang oxy ở $\delta_\text{C}\ 71,8;\ 70,4;\ 70,1;\ 69,4$.
    • Dị vòng pyrrole 1,2,5-thế: hai proton ghép đôi ortho $\delta_\text{H}\ 7,04\text{ ppm}$ ($1\text{H}, d, J = 4\text{ Hz}$, H-3) và $\delta_\text{H}\ 6,27\text{ ppm}$ ($1\text{H}, d, J = 4\text{ Hz}$, H-4); các carbon bậc 4 tại $\delta_\text{C}\ 131,6$ (C-2) và $\delta_\text{C}\ 143,9$ (C-5).
    • Nhóm chức aldehyde: proton singlet $\delta_\text{H}\ 9,46\text{ ppm}$ tương ứng carbon carbonyl $\delta_\text{C}\ 179,3$.
    • Hai nhóm methylene: $\delta_\text{H}\ 4,40\text{ ppm}$ ($2\text{H}, d, J = 5\text{ Hz}$, H-6, $\delta_\text{C}\ 54,8$) và $\delta_\text{H}\ 5,56\text{ ppm}$ ($2\text{H}, s$, H-1', $\delta_\text{C}\ 47,0$).
    • Vòng thơm benzene 1,4-thế: $\delta_\text{H}\ 6,95\text{ ppm}$ ($4\text{H}, \text{br s}$), gồm carbon aryl nối oxy $\delta_\text{C}\ 155,2$ (C-4''), carbon bậc 4 $\delta_\text{C}\ 131,3$ (C-1''), và các carbon methine đối xứng $\delta_\text{C}\ 127,4$ (C-2'',6'') và $\delta_\text{C}\ 116,2$ (C-3'',5'').
  • Phổ 2D-NMR (HSQC, HMBC): Tương quan HMBC giữa proton aldehyde ($\delta_\text{H}\ 9,46$) với C-2 ($\delta_\text{C}\ 131,6$); proton H-1' ($\delta_\text{H}\ 5,56$) với C-2, C-5 của pyrrole và C-1'', C-2'',6'' của vòng thơm; proton anomeric H-1''' ($\delta_\text{H}\ 5,30$) tương quan với C-4'' ($\delta_\text{C}\ 155,2$).
  • Kết luận: Hợp chất MO7 được xác định là pyrrolemarumine 4''-O-$\alpha$-L-rhamnopyranoside.

2. Xác định cấu trúc hợp chất MO12

  • Dạng bột vô định hình màu trắng, nhiệt độ nóng chảy $121 - 122^\circ\text{C}$.
  • Phổ ESI-MS cho đỉnh ion phân tử tại $m/z\ [\text{M} - \text{H} + \text{H}2\text{O}]^- = 287,2$, phù hợp với công thức phân tử $\text{C}{13}\text{H}_{18}\text{O}_6$.
  • Phổ $^1\text{H-NMR}$ và $^{13}\text{C-NMR}$/DEPT:
    • Khung benzyl: 5 proton thơm gồm $\delta_\text{H}\ 7,29\text{ ppm}$ ($1\text{H}, t, J = 7,0\text{ Hz}$, H-4), $\delta_\text{H}\ 7,32\text{ ppm}$ ($2\text{H}, t, J = 7,5\text{ Hz}$, H-3,5), $\delta_\text{H}\ 7,38\text{ ppm}$ ($2\text{H}, d, J = 7,5\text{ Hz}$, H-2,6); nhóm methylene $\text{H-7}$ ở $\delta_\text{H}\ 4,56\text{ ppm}$ ($1\text{H}, d, J = 12\text{ Hz}$) và $4,81\text{ ppm}$ ($1\text{H}, d, J = 12\text{ Hz}$) tương ứng carbon $\delta_\text{C}\ 69,4$. Carbon thơm bậc 4 C-1 ở $\delta_\text{C}\ 138,0$.
    • Phân tử đường $\beta\text{-D-glucose}$: proton anomer $\delta_\text{H}\ 4,22\text{ ppm}$ ($1\text{H}, d, J = 8,0\text{ Hz}$, H-1') tương ứng carbon $\delta_\text{C}\ 102,0$ (hằng số ghép $J = 8,0\text{ Hz}$ khẳng định cấu hình $\beta$); các carbon của đường cộng hưởng ở $\delta_\text{C}\ 76,9;\ 76,7;\ 73,4;\ 70,1$ và nhóm methylene C-6' ở $\delta_\text{C}\ 61,1$.
  • Phổ tương quan HMBC: Proton anomer H-1' ($\delta_\text{H}\ 4,22$) tương quan với carbon C-7 ($\delta_\text{C}\ 69,4$), chứng minh vòng benzyl liên kết với đường qua cầu nối oxy tại C-7.
  • Kết luận: Hợp chất MO12 được xác định là benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside (benzyl glucoside).

Chương 4. Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ kết quả phân lập và định danh cấu trúc hóa học của 2 hợp chất tự nhiên từ lá Chùm ngây; nhấn mạnh ý nghĩa khoa học của việc phát hiện hợp chất MO12 trong chi Moringa; đồng thời nêu các kiến nghị tiếp tục nghiên cứu sâu các phân đoạn cao chiết khác.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Xử lý thành công $7\text{ kg}$ nguyên liệu lá khô Chùm ngây thu hái tại Đồng Nai, điều chế được $1,5\text{ kg}$ cao tổng EtOH và chiết tách phân đoạn pha rắn thu được $105\text{ g}$ cao hexane, $150\text{ g}$ cao $\text{CHCl}_3$, $360\text{ g}$ cao $\text{EtOAc}$ và $800\text{ g}$ cao $\text{MeOH}$.
  2. Thực hiện thành công quy trình sắc ký cột phân đoạn liên hoàn trên cao $\text{EtOAc}$ ($360\text{ g}$), phân lập được 2 hợp chất tinh khiết:
    • Hợp chất MO7: Khối lượng thu nhận $7,4\text{ mg}$, bột màu trắng, công thức phân tử $\text{C}{18}\text{H}{21}\text{O}_7\text{N}$, tên khoa học là pyrrolemarumine 4''-O-$\alpha$-L-rhamnopyranoside.
    • Hợp chất MO12: Khối lượng thu nhận $9,0\text{ mg}$, bột màu trắng, điểm nóng chảy $121 - 122^\circ\text{C}$, công thức phân tử $\text{C}{13}\text{H}{18}\text{O}_6$, tên khoa học là benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside (benzyl glucoside).
Thông số Hợp chất MO7 Hợp chất MO12
Tên hợp chất Pyrrolemarumine 4''-O-$\alpha$-L-rhamnopyranoside Benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside (Benzyl glucoside)
Dạng tồn tại Chất bột vô định hình màu trắng Chất bột vô định hình màu trắng
Điểm nóng chảy Không xác định trong văn bản $121 - 122^\circ\text{C}$
Khối lượng cô lập $7,4\text{ mg}$ $9,0\text{ mg}$
Phổ ESI-MS ($m/z$) $[\text{M} - \text{H} + \text{H}_2\text{O}]^- = 394,1$ $[\text{M} - \text{H} + \text{H}_2\text{O}]^- = 287,2$
Công thức phân tử $\text{C}{18}\text{H}{21}\text{O}_7\text{N}$ $\text{C}{13}\text{H}{18}\text{O}_6$
Thành phần cấu trúc Vòng pyrrole 1,2,5-thế, vòng benzen 1,4-thế, nhóm -CHO, đường $\alpha$-L-rhamnose Vòng benzyl đối xứng, nhóm methylene, đường $\beta$-D-glucose

Đóng góp khoa học và đề xuất

  • Đóng góp mới: Tác giả khẳng định hợp chất benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside (MO12) là hợp chất lần đầu tiên được tìm thấy trong chi Chùm ngây (Moringa).
  • Đề xuất của tác giả:
    • Tiếp tục tiến hành sắc ký phân lập các hợp chất tự nhiên trong các phân đoạn cao $\text{CHCl}_3$, phần còn lại của cao $\text{EtOAc}$ và các phân đoạn cao khác của lá Chùm ngây.
    • Tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học của các hợp chất tinh khiết đã phân lập được.
    • Mở rộng nghiên cứu thành phần hóa học trên các bộ phận khác của cây Chùm ngây như thân, rễ, hoa, quả.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Khóa luận mới chỉ tập trung phân lập chuyên sâu một phần nhỏ của phân đoạn E5 (cụ thể là các tiểu phân đoạn E544 và E54533) trong tổng số $360\text{ g}$ cao $\text{EtOAc}$; các phân đoạn khác (cao hexane $105\text{ g}$, cao $\text{CHCl}_3\ 150\text{ g}$, cao $\text{MeOH}\ 800\text{ g}$ và các phân đoạn E1 – E4, E6 – E7) chưa được khảo sát hết thành phần. Đề tài dừng lại ở việc xác định cấu trúc hóa học mà chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học (in vitro hoặc in vivo) đối với các chất cô lập được do giới hạn thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
  • Hướng mở: Tiếp tục chiết tách, phân lập triệt để các phân đoạn cao còn lại; đánh giá hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxy hóa hoặc độc tế bào của các hợp chất tinh khiết; nghiên cứu đồng thời thành phần hóa học của vỏ thân, hạt, rễ và hoa cây Chùm ngây trồng tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Hóa Hữu cơ, Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Dược học, Dược liệu học và Thực vật học.
  • Giá trị nội dung:
    • Cung cấp quy trình chiết phân đoạn pha rắn chuẩn mực từ lượng lớn mẫu thực vật ($7\text{ kg}$ lá khô).
    • Cung cấp phương pháp chi tiết về cách thức lựa chọn hệ dung môi sắc ký cột phân đoạn liên hoàn đối với các hợp chất glycoside có độ phân cực trung bình và cao.
    • Tài liệu mẫu hữu ích về phương pháp quy giải và biện luận phổ NMR một chiều ($^1\text{H}$, $^{13}\text{C}$, DEPT) kết hợp phổ hai chiều ($^1\text{H-}^1\text{H}$ COSY/HSQC, HMBC) để xác lập cấu trúc hoàn chỉnh của các phân tử dị vòng và phenolic glycoside phức tạp.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn nguyên liệu lá Chùm ngây dùng trong nghiên cứu được thu thập từ đâu và xử lý ban đầu như thế nào?

Mẫu lá Chùm ngây được thu hái tại huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, do Công ty TNHH SX TM Hạnh Thông cung cấp và được giám định tên khoa học tại Trung tâm Sâm và Dược liệu TP. Hồ Chí Minh. Sau khi rửa sạch, loại bỏ phần sâu bệnh, phơi khô trong bóng râm, sấy lại ở nhiệt độ thấp và xay mịn, thu được $7\text{ kg}$ bột lá khô. Mẫu được ngâm chiết dầm với cồn $\text{EtOH}\ 96^\circ$ 4 lần (mỗi lần 2 ngày) và cô quay chân không thu được $1,5\text{ kg}$ cao cồn sệt.

2. Quá trình chiết phân bố pha rắn từ cao tổng EtOH đã thu được những phân đoạn cao nào với khối lượng bao nhiêu?

Cao cồn $\text{EtOH}$ ($1,5\text{ kg}$) được phối trộn với silica gel, sấy khô ở $40^\circ\text{C}$ và tiến hành trích pha rắn lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần, thu được 4 phân đoạn cao:

  • Cao Hexane: $105\text{ g}$
  • Cao Chloroform ($\text{CHCl}_3$): $150\text{ g}$
  • Cao Etyl axetat ($\text{EtOAc}$): $360\text{ g}$
  • Cao Metanol ($\text{MeOH}$): $800\text{ g}$

3. Tên gọi, công thức phân tử và khối lượng của hai hợp chất phân lập được là gì?

Hai hợp chất tinh khiết được phân lập từ phân đoạn cao $\text{EtOAc}$ gồm:

  • Hợp chất MO7: Tên khoa học là pyrrolemarumine 4''-O-$\alpha$-L-rhamnopyranoside, công thức phân tử $\text{C}{18}\text{H}{21}\text{O}_7\text{N}$, khối lượng cô lập là $7,4\text{ mg}$ (bột màu trắng).
  • Hợp chất MO12: Tên khoa học là benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside (benzyl glucoside), công thức phân tử $\text{C}{13}\text{H}{18}\text{O}_6$, nhiệt độ nóng chảy $121 - 122^\circ\text{C}$, khối lượng cô lập là $9,0\text{ mg}$ (bột màu trắng).

4. Đóng góp mới quan trọng nhất của khóa luận đối với nghiên cứu về chi thực vật Moringa là gì?

Khóa luận đã phân lập và xác định được cấu trúc của hợp chất MO12 (benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside). Tác giả đã đối chiếu các tài liệu hóa thực vật và khẳng định đây là lần đầu tiên hợp chất benzyl glucoside này được tìm thấy trong chi Chùm ngây (Moringa).

5. Dựa vào những dữ liệu phổ NMR nào để xác định liên kết glycoside trong hợp chất MO7 và MO12?

  • Ở hợp chất MO7: Trên phổ HMBC, proton anomeric $\text{H-1'''}$ của đường rhamnose ở $\delta_\text{H}\ 5,30\text{ ppm}$ ($1\text{H}, d, J = 1,5\text{ Hz}$) cho tương quan xa với carbon thơm mang oxy $\text{C-4''}$ ở $\delta_\text{C}\ 155,2\text{ ppm}$, chứng minh phần đường rhamnose gắn vào vị trí C-4'' của vòng benzen.
  • Ở hợp chất MO12: Trên phổ HMBC, proton anomeric $\text{H-1'}$ của đường glucose ở $\delta_\text{H}\ 4,22\text{ ppm}$ ($1\text{H}, d, J = 8,0\text{ Hz}$) cho tương quan xa với carbon methylene $\text{C-7}$ ở $\delta_\text{C}\ 69,4\text{ ppm}$, chứng minh vòng benzyl gắn vào vị trí C-1' của đường $\beta$-D-glucose qua cầu nối oxy.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Hóa học của tác giả Võ Tấn Thanh Mai đã thực hiện hoàn chỉnh quy trình chiết xuất, phân lập thực nghiệm từ $7\text{ kg}$ lá khô cây Chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) thu hái tại tỉnh Đồng Nai. Bằng kỹ thuật sắc ký cột phân đoạn liên hoàn và hệ thống phổ nghiệm hiện đại ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, DEPT, HSQC, HMBC, ESI-MS), tác giả đã cô lập và xác định chính xác cấu trúc hóa học của 2 hợp chất tinh khiết là pyrrolemarumine 4''-O-$\alpha$-L-rhamnopyranoside (MO7) và benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside (MO12). Công trình mang giá trị khoa học thực nghiệm cao khi lần đầu tiên ghi nhận sự xuất hiện của hợp chất benzyl glucoside trong chi Moringa, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho nghiên cứu hóa thực vật và định hướng ứng dụng dược liệu Chùm ngây tại Việt Nam.