Khóa luận tốt nghiệp: Vấn đề dạy học từ láy ở trường tiểu học qua khảo sát tại TP.HCM

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp giáo dục tiểu học vấn đề dạy học từ láy ở trường tiểu học qua khảo sát một số trường, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Giáo Dục Tiểu Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2003

128
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CÁC QUAN ĐIỂM VỀ TỪ LÁY

1.1. Quan điểm của một số nhà nghiên cứu

1.2. Quan điểm của sách giáo khoa Tiếng Việt

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY - HỌC TỪ LÁY Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

2.1. Mục đích - ý nghĩa của bài tập khảo sát từ láy

2.2. Kết quả điều tra thực tế dạy - học từ láy ở trường tiểu học

2.2.1. Từ phía học sinh

2.2.2. Từ phía giáo viên và một số cán bộ quản lí

2.2.3. Những vấn đề còn tồn tại trong dạy - học từ láy ở nhà trường tiểu học

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP

3.1. Về nội dung chương trình

3.2. Mục tiêu giáo dục hiện nay

3.3. Thử đề xuất một số giải pháp

3.3.1. Về phương pháp dạy - học

KẾT LUẬN

THƯ MỤC THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về dạy học từ láy tại trường tiểu học TP

Dạy học từ láy là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục tiểu học tại TP.HCM. Từ láy không chỉ giúp học sinh phát triển ngôn ngữ mà còn tạo ra sự phong phú trong việc sử dụng tiếng Việt. Việc dạy học từ láy cần được chú trọng để nâng cao khả năng giao tiếp và tư duy ngôn ngữ của học sinh. Nghiên cứu này sẽ phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp cho việc dạy học từ láy tại các trường tiểu học.

1.1. Khái niệm và vai trò của từ láy trong tiếng Việt

Từ láy là một hiện tượng ngôn ngữ đặc sắc trong tiếng Việt, mang lại giá trị biểu cảm và gợi hình. Việc hiểu rõ khái niệm này giúp giáo viên và học sinh nhận thức đúng về vai trò của từ láy trong giao tiếp.

1.2. Lịch sử nghiên cứu về từ láy trong giáo dục

Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của từ láy trong giáo dục. Tuy nhiên, việc áp dụng vào thực tiễn dạy học vẫn còn nhiều hạn chế, cần được cải thiện.

II. Thách thức trong việc dạy học từ láy tại trường tiểu học

Mặc dù từ láy có vai trò quan trọng, nhưng việc dạy học từ láy tại các trường tiểu học TP.HCM gặp nhiều thách thức. Những khó khăn này ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và khả năng tiếp thu của học sinh. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục.

2.1. Khó khăn trong nhận thức của giáo viên

Nhiều giáo viên chưa có đủ kiến thức và kỹ năng để dạy học từ láy hiệu quả. Điều này dẫn đến việc truyền đạt kiến thức không đầy đủ cho học sinh.

2.2. Hạn chế trong chương trình giáo dục

Chương trình giáo dục hiện tại chưa chú trọng đầy đủ đến việc dạy học từ láy, dẫn đến việc học sinh không nắm vững kiến thức cần thiết.

III. Phương pháp dạy học từ láy hiệu quả cho giáo viên

Để nâng cao hiệu quả dạy học từ láy, giáo viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy sáng tạo và phù hợp với tâm lý học sinh tiểu học. Việc này không chỉ giúp học sinh tiếp thu tốt hơn mà còn tạo hứng thú trong học tập.

3.1. Sử dụng trò chơi trong dạy học từ láy

Trò chơi là một phương pháp hiệu quả giúp học sinh tiếp cận từ láy một cách tự nhiên và thú vị. Việc này kích thích sự sáng tạo và khả năng giao tiếp của học sinh.

3.2. Tích hợp công nghệ vào dạy học

Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học từ láy giúp giáo viên tạo ra các bài giảng sinh động và hấp dẫn hơn, từ đó thu hút sự chú ý của học sinh.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về dạy học từ láy

Nghiên cứu thực tiễn về dạy học từ láy tại các trường tiểu học cho thấy nhiều học sinh đã cải thiện khả năng sử dụng từ láy trong giao tiếp. Kết quả này cho thấy tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp dạy học hiệu quả.

4.1. Kết quả khảo sát thực tế tại các trường

Khảo sát cho thấy có sự cải thiện rõ rệt trong khả năng sử dụng từ láy của học sinh sau khi áp dụng các phương pháp dạy học mới.

4.2. Phản hồi từ giáo viên và học sinh

Giáo viên và học sinh đều nhận thấy sự thay đổi tích cực trong việc dạy và học từ láy, từ đó tạo động lực cho việc học tập.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho dạy học từ láy

Việc dạy học từ láy tại trường tiểu học TP.HCM cần được cải thiện và phát triển hơn nữa. Cần có sự hợp tác giữa giáo viên, nhà trường và phụ huynh để tạo ra môi trường học tập tốt nhất cho học sinh.

5.1. Đề xuất giải pháp cho việc dạy học từ láy

Cần xây dựng chương trình giáo dục phù hợp, chú trọng đến việc dạy học từ láy để nâng cao chất lượng giáo dục.

5.2. Tương lai của dạy học từ láy trong giáo dục

Dạy học từ láy sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ và tư duy của học sinh, góp phần vào sự phát triển toàn diện của giáo dục.

09/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp giáo dục tiểu học vấn đề dạy học từ láy ở trường tiểu học qua khảo sát một số trường tiểu học tại tp hcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CAC QUAN ĐIỂM VE TU LAY 1-1. Nhận diện từ láy 1.1 Quan điểm của một số nhà nghiên cứu Từ láy, một trong những vấn dé rất đặc trưng của ngôn ngữ đơn lập nói chung và của Tiếng Việt nói riêng, đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hết sức quan tâm. Đã có vô số bài viết, chuyên khảo, từ điển. dành cho từ láy, song mỗi người viết về từ láy với một góc đô khác nhau: miêu tả về mặt ngữ âm, nhận xét khái quát về mối quan hệ giữa âm và nghĩa, tìm hiểu nguồn gốc của các yếu tố mất nghĩa.

Đặc biệt là vấn để nguồn gốc từ láy, mối quan hệ giữa âm và nghĩa của từ lay mà hiện nay có rất nhiều ý kiến mâu thuẫn nhau bởi các tác giả ai cũng có cơ sở, nhận định khoa học của riêng mình. Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp và trình độ người viết có hạn, chúng tôi sẽ không đưa ra tất cả các quan điểm để tranh luận. Xuất phát từ yêu cầu cụ thể của vấn dé đang xét, chúng tôi chỉ quan tâm đến ý kiến của một số nhà Việt ngữ học về từ láy và vấn dé nhận diện vé từ lay Tiếng Việt mà theo chúng tôi sẽ làm nổi rõ được vấn để mà người viết muốn làm sáng tỏ. Da số các nhà nghiên cứu đều định nghĩa về từ láy như sau: Từ láy là kiểu từ phức có sự hoà phối âm thanh (bao gồm phụ âm, nguyên âm, thanh điệu) theo quy luật giữa các tiếng tao thành [10, 11].

SVTH: Hoàng Phan Thuy Đoan ' Trang [2 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Thu Van Theo tác giả. từ lay đôi được chia thành hai loại: từ lay hoàn toàn và từ lay bo phản. Với quan niệm từ láy hoàn toàn bao gồm các thành tố giống nhau về phụ âm dấu, van, thanh điệu. hoặc giống nhau về phụ âm đầu, van và thanh điệu biến đổi theo một quy luật nhất định thì các từ sau đây là từ láy hoàn toàn: - Amtiét trong từ được lặp lại hoàn toàn với mô hình trọng âm là 01.

“Thí du: xanh xanh, vinh xinh, con con. - Phu âm đầu, nguyên âm va phụ âm cuối giữ nguyên, thanh điệu đấp đổi lẫn nhau theo quy tắc thuộc cùng âm vực: + Âm vực cao: không dấu (thanh bằng), hỏi (thanh trắc), sắc (thanh trắc). Thí du: tim tim, mon thởn, Cau có. + Âm vực thấp: huyén (thanh bằng), ngã (thanh trắc), nặng (thanh trắc).

Thi dụ: cau cau, đằng đẳng, vành vanh. - Phu âm đầu, nguyên âm giữ nguyên, thanh điệu và phụ âm cuối biến đổi theo nguyên tắc: các phụ âm tắc và vô thanh sẽ chuyển thành phụ âm mũi cùng cặp. Thanh điệu được đấp đổi theo nguyên tắc cùng âm vực. Thi du: p-m như: dem dep, thâm thấp, cẩm cập.

t~n như: tôn tot, san sat, ngan ngdt. SVTH: Hoàng Phan Thụy Đoan Trang 13 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Thu Vân c—ng như: ang ác, rừng rực. ch-nh như: chênh chéch, anh ach, bình bịch. Tuy nhiên, có một số tác giả cho rằng các từ sau đây không phải là từ láy: chuẩn chuén, bong bóng, ba ba, se sẻ, chôm chôm.

Bồi từ lay là kết quả của phương thức láy thì phải có sự khác biệt về nghĩa so với hình vị cơ sở. Đằng này, tất cả các từ trên đều hoàn toàn đồng nghĩa, vì vậy theo ý kiến của các tác giả trên , đây là những từ có chức năng định danh các loại động vật và thực vật. [4, 36 - 37] Còn từ láy bộ phận lại chia làm hai kiểu: từ láy âm và từ láy vần: Từ láy âm là từ láy có âm đầu lặp lại và các nguyên âm khác dòng phải có cùng độ mở. Từ láy vần là từ láy có âm đầu khác nhau và phần vần được lặp lại Như vậy theo quan niệm này ta có thể hình dung từ láy được phân loại theo mô hình sau: [10, 7] (phụ âm: PÂ) Từ láy hoàn toàn Từ láy bộ phận Giống hoàn Giống nhau Giống nhau PÂ Từ láy âm | | Từ lay van toàn PA đầu, PA đầu và thanh điệu, thanh điệu, đầu và PA PÂ cuối biến đổi PA cuối cuối, thanh điệu biến đối SVTH: Hoàng Phan Thuy Doan Trang 14 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Thu Vân Ngoài ra, từ láy bộ phận còn được nhiều người cho rằng: - Ở các từ láy vần, tiếng gốc (yếu tố gốc) thường đứng sau tiếng láy lai, Cả hai yếu tố phải giống nhau hoàn toàn vé phan van và thanh điệu: còn âm đầu thì phối hợp với nhau thành từng cặp theo quy luật: hai âm dau đó trong mỗi cập phải khác nhau về phương thức cấu âm và bộ vị cấu âm Thi dụ: bin rin, lăn tăn, lon ton, chơi voi, ling túng, co ro, lua thưa, lún phiin.

- Ở các từ láy âm, hai yếu tố phải có âm đầu, âm cuối và thanh điệu trùng nhau còn các âm chính phải tương ứng với nhau theo quy luật. Quy luật đó là: luôn luôn có sự luân phiên giữa nguyên âm khác dong và phổ biến nhất là sự luân phiên giữa những nguyên âm cùng độ mở, cụ thể là: Thi dụ: {[I] - [ul : tìm tim, mim mim, hú hi. lôi-lê| — : ngô nghé, hon hển, xộc xệch. SƯTH: Hoàng Phan Thuy Doan.

Trang 15 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Thu Vân |ol— lel : cò kè, ho he, ngót nghét — Và thanh điệu nếu khác nhau, phải có sự chuyển đổi giữa các thanh trong cùng âm vực. Với quan điểm về từ láy như trên. các tác giả đưa ra các thủ pháp giúp nhận diện và phân biệt từ láy với từ có hình thức ngữ âm giống từ láy. I- Mỗi từ láy chỉ có một hình vị gốc.

Hình vị gốc này hiện nay có thể còn nhận ra ý nghĩa của nó hoặc không và hình vị gốc ấy chỉ có thể đứng ở một vị trí nhất định trong từ láy — hoặc là ở trước hoặc ở sau. Điều này có nghĩa là từ láy không cho phép đảo được trật tự các hình vị. Chính vì thế các nhà nghiên cứu cho rằng các từ như: dau đớn, đảo điên, hắt hiu, hờ hitng, khao khát, khdt khe, da diết, manh mối, ngại ngắn, ngào ngạt. ngẩn ngơ, mit mờ, thdn thờ, ngây ngất, ngấu nghién, mênh mông.

thơ than, tha thiết. không phải là từ lay như đã được thu thập vào từ điển mà là từ ghép đẳng lập. Và tác giả đưa ra căn cứ: chúng rất giống các tổ hợp kiểu như: nhà cửa, nứi sông. kết hợp giữa các tiếng không chặt chẽ, có thể xen vào một yếu tố khác như: hẹn với hò, hỏi với han, gìn với giữ, gió hing mưa lg, duyên hững phận hờ.

*Nếu từ không cho phép đảo ngược trật tự thành tố thì có thủ pháp khác để nhận điện sau đây: 3- Nếu cả hai thành tố trong từ phức đều có nghĩa thì từ phức ấy là từ ghép bởi từ láy (như đã nói) chỉ có một thành tố gốc mang nghĩa. Thí du: nghỉ ngờ, nghỉ có nghĩa là "nghĩ có thể là người nào đó, là đã xảy ra việc SVTH: Hoàng Phan Thuy Doan Trang 16 GVHD: Thạc sĩ Trương Thi Thu Vân nào đó, thường là người không tốt nhưng không có đủ cơ sở để khẳng định”, nườ có nghĩa là "tưởng rằng, nghĩ rằng cũng có thể là như thé” Vì vậy. tác giả khẳng định những từ sau đây là từ ghép chứ không phải là từ lầy: du dua, doa day, đình đốn, định đoạt, duyên dang, hối hận, lấp lú, ham hai, thành thực, xep lép. 3- Nhiều ý kiến cho rằng nếu trong từ phức có một thành tố nào đó không rõ nghĩa lắm cùng được xuất hiện trong nhiều từ phức khác có yếu tố gốc khác nhau thì từ phức này thường là từ ghép Thí dụ: nếu rở xuất hiện trong các từ phức rang rd, rực rỡ.

thì chắc chấn rở phải có nghĩa gì đó và các từ phức rạng rở, rực rở, phải là các từ ghép. Sỡ di như thế là vì rang và rực là những tiếng có hình thức ngữ âm khác hẳn nhau. Giả sử nếu theo cùng một phương thức láy âm dau ré đã là dạng láy của rạng thì không thể cũng là dạng láy của rực và ngược lại. Thực tế cũng đã chứng minh: r@ là yếu tố đồng nghĩa với rang và rực.

Dang lấy của rd là rờ rd. Tương tự như vậy thì các từ: khoác tác và phét lác, ngậm ngài và bùi ngài, khóc lóc và lăn lóc. déu là từ ghép. 4- Dựa vào quy luật biến thanh và biến van của từ láy (sự hoà phối ngữ âm trong từ lay) sau đây: Các thanh trắc bao giờ cũng chuyển sang thanh bằng cùng âm vực.

Điều này có nghĩa là thanh điệu của tất cả các tiếng trong từ láy phải thuộc cùng một âm vực. SVTH: Hoàng Phan Thuy Doan - 7 có i Trang 17. GVHD: Thạc st Truong Thi Thu Van Vi vậy, những tiếng như: khít khit, xốp xộp, sết sệt, ti ti, quáng quang, cuống cuồng, dui dui, chói lợi. có thanh điệu không cùng âm vực nên chúng déu là từ ghép.

Cũng vậy, những từ láy âm không theo quy luật: các âm chính phải là các nguyên âm khác dòng có cùng độ mở như: hể hd, xué xoà, vùng vằng, tung tăng, trục trặc. rỉ rả, hi hả, xí xoá. hục hdc, hốc hdc, lê la, mộc mac, thì thẩm. là những từ ghép có cấu tạo ngữ âm trùng với từ láy.

5- Tác giả khẳng định từ láy là loại từ thuần Việt bởi từ láy là sản phẩm của phương thức láy — một trong những phương thức tạo từ của Tiếng Việt. Vì thế những từ phức gốc Hán (có quan hệ ngữ âm giữa các thành tố) không phải là từ láy trong Tiếng Việt. Thí dụ: bồi hồi, tình tinh, lục tục. liên thiên, lưu luyến.

là từ Hán - Việt. 6- Ngoài ra, có người còn quan niệm rằng : từ ghép đẳng lập có ý nghĩa tổng hợp, khái quát, còn từ láy thường mang nghĩa sắc thái hoá. Vì vậy những từ về mặt hình thức các thành tố đều giống nhau ở phụ âm đầu, mang ý nghĩa tổng hợp. khái quát như: đẹp dé, sạch sẽ, vui vẻ, mùa màng, chim chóc v.

là những từ ghép.2 Quan điểm của sách giáo khoa Tiếng Việt bậc tiểu học Bên cạnh đó cũng có rất nhiều quan điểm về từ láy của các tác giả khác đi ngược lại, mâu thuẫn với từ láy mà chúng tôi trình bày ở trên. song lại có nét tương đồng với nội dung từ láy mà sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu SVTH: Hoàng Phan Thuy Doan Trang 18 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Thu Vân hoc đã đưa ra (xem |6, 90 — 91], [5, 56— 61], [18, 162 - 166).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trang bị cho trẻ những kỹ năng cần thiết để phát triển toàn diện. Những điểm chính bao gồm phương pháp giảng dạy hiệu quả, sự tham gia của phụ huynh và cộng đồng, cũng như các hoạt động thực tiễn giúp học sinh áp dụng kiến thức vào cuộc sống hàng ngày.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lí phát triển chương trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tại các trường tiểu học quận 10 thành phố Hồ Chí Minh, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc phát triển chương trình giáo dục kỹ năng sống. Ngoài ra, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp giáo dục tiểu học xây dựng hệ thống bài tập nhận thức âm thanh hỗ trợ cho học sinh lớp 1 mắc chứng khó đọc cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những thách thức trong việc giảng dạy và hỗ trợ học sinh tiểu học. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về giáo dục tiểu học, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.