Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VA CƠ SỞ THỰC TIEN CUA DE TÀI 1. Đặc điểm ngôn ngữ, tâm sinh lí của học sinh lớp 1 mắc chứng khó đọc. Đặc điểm tâm sinh li Về sinh lí, trẻ lớp 1 khó khăn về đọc thường có vẻ ngoài sáng sủa, phát âm rõ rang, vì vậy, nếu chi quan sát không thé nhận ra trẻ mắc chứng khó đọc. Các em có vé phát triển bình thường về các cơ quan trên cơ thê cũng như kỹ năng giao tiếp trong gia đình và trường học.
Tuy nhiên, một số học sinh có biểu hiện đau dau, hoa mắt và thiểu tập trung khi học tập và làm việc. Ngoài ra, cũng có những trường hợp biêu hiện khó khăn khi thực hiện các vận động tỉnh và các trò chơi đồng đội. Về tâm lí, theo Piaget, ở lứa tuôi Tiểu học, trí tuệ và ngôn ngữ trẻ phát triển ở giai đoạn tu duy thao tác cụ thể. Trong tư duy của trẻ tiêu học đã xuất hiện kha năng đảo ngược và ý niệm về nguyên tắc bảo toàn.
Trên cơ sở khả năng và nguyên tắc này, HS phát triển những cơ cau thao tác: phân loại, xếp loại và tính số. Các em biết phan tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa các sự vật và phạm vi mở rộng của từng loại, thay được mối liên quan giữa các sự vật. Tuy nhiên, về hình thức, sự phân tích, lĩnh hội tài liệu học tập ở lứa tudi này chủ yếu diễn ra trên bình diện hành động — trực quan với những suy luận cụ thê. Từ mẫu giáo lên lớp 1 là một bước ngoặt trong cuộc đời của trẻ.
Nếu ở mẫu giáo, hoạt động chủ đạo là vui chơi, thì lứa tuôi học sinh tiêu học la hoạt động học tập. Quá trình chuyên đổi hoạt động chủ đạo sẽ gây cho trẻ rất nhiều khó khăn, đặc biệt là tâm lý. Hoat động về mat chủ đạo sẽ quyết định những nét tâm lý đặc trưng nhất của lứa tuôi học sinh tiêu học. Trẻ mắc chứng khó đọc không dé dàng đạt được bước phát triển này.
Theo hiệp hội Chứng khó đọc Úc (ADA), "chứng khó đọc xảy ra liên tục mà nhẹ nhàng và điều quan trọng là những người mac chứng khó đọc không ai giống ai hoàn toàn". Có thé trẻ đều được chan đoán mắc chứng khó đọc nhưng về biểu hiện thì không thống nhất hoàn toàn. Những việc mà các bạn không khó khăn dé đạt được, đối với trẻ khó đọc lại là những thử thách. Dan gia, khi phat hién ra su khac biét cla minh với cúc bạn mà không sao lí giải được, trẻ sẽ che giấu các khuyết điểm của ban thân một cách khéo léo, rut ré hơn hoặc trở nên quay pha, trở thành học sinh cá biệt.
Trẻ bị đán nhãn là lười học, hay mơ mang, dé nan chí khi gặp khó khăn, thậm chí là dan độn. Từ đó, trẻ mat đi niềm tin vào bản thân và mắt đi động lực cũng như ham muốn học tập. Chứng khó đọc ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tâm sinh lí của trẻ lớp 1. việc phát hiện và điều trị sớm cho trẻ khó đọc là việc làm hết sức cần thiết nhằm đảm bảo sự phát trién bên vững của các em.
Đặc điểm ngôn ngữ Chứng khó đọc được hiểu là những khó khăn với việc nhận dạng từ chính xác và đọc lưu loát cùng với khả năng chính tả và giải mã kém, chứng tật này rất khó nhận biết trước khi trẻ nhập học (Catts & Kahmi, 2005). Tuy nhiên, nó lại trở nên đáng chú ý khi trẻ bắt đầu học đọc. Trẻ gặp phải những khó khăn đặc biệt trong đọc lưu loát và kỹ năng giải mã âm. Điều này gây ra những trở ngại rất lớn cho trẻ trong việc đọc sách hoặc khả năng tro thành một người đọc độc lập.
Theo thang phát triển kỹ năng nhận thức âm vị của Muter (2003) dựa trên sự so sánh tuôi sinh học và tuổi đọc, trẻ đầu tuôi tiểu học (6 tudi) đã có thé tạo tiếng, nhận biết sự bắt đầu va kết thúc âm vị, nối âm, phân đoạn âm vị, thêm âm vị, xóa âm vị, thay thé âm vị [1]. Đó là những kỹ năng nhận thức âm đầu tiên của trẻ. Tuy nhiên, trẻ khó đọc thường gặp khó khăn với những kỹ năng ấy. Trẻ gặp khó khăn trong việc đánh van, đọc tron, việc ghi nhớ bảng chữ cái, các quy tắc.
thường hay nhằm lẫn các chữ cái có đường nét gan giống nhau. Những biểu hiện trên là do trẻ không nhận ra được sự tương xứng âm - chữ trong ngôn ngữ. Trẻ không nhận ra cau trúc bên trong của từ ngữ, là mỗi âm tương ứng với một ký hiệu chữ (hoặc tập hợp con chữ) và mỗi từ gdm các âm được sắp xếp một cách có tô chức. Trong những tình huống thông thường, trẻ gặp khó khăn khi muốn dién đạt ý của mình, trẻ thường đọc sai thứ tự, đổi đảo hoặc bỏ sót chữ.
Theo Hiệp hội Quốc tế về chứng khó đọc, trong một số trường hợp. trẻ gặp các rối loạn vẻ thị giác hoặc khó chịu khi đọc các văn bản in, cụ thé như: nhìn các chữ hoặc từ bị nhòe hoặc thấy chúng di chuyên gây hoa mắt, những từ hoặc chữ cải khi xuất hiện thường bị tách thành hai 9 chữ, khó khăn dé theo dõi trình tự các chữ trên trang giấy, nhìn vào trong giấy thường thấy chói mắt hoặc nhạy cảm với ánh sáng chiếu vào trang giấy. Khi được yêu cầu đọc một câu văn hoặc một đoạn văn ngắn, trẻ thường ngắc ngứ hoặc đọc thiếu chính xác trong lúc đọc, trẻ khó phát hiện ra sự khác biệt khi câu văn hoặc đoạn văn có sự thay đồi nhỏ. Những khó khăn của trẻ khó đọc không chi dừng lại ở kỹ năng đọc mà còn kỹ năng viết.
Trẻ khó đọc thé hiện yếu kém trong quá trình viết chính tả do có van dé trong kỹ năng giải mã âm thanh - chữ viết. Trẻ thường viết sai thứ tự các chữ cái trong từ, viết thêm nét, bỏ nét hoặc bỏ sót âm cuối. Hơn nữa, nếu chứng khó đọc không được điều trị sớm, sẽ dẫn đến hạn chế vẻ vốn từ và ảnh hưởng đến việc học tập ở các môn học khác. Quá trình nhận thức ngữ âm của học sinh lớp 1 ® Giao tiếp là hoạt động không thé thiếu của loài người, trong đó, ngôn ngữ là công cụ quan trọng bậc nhất.
Nói đến ngôn ngữ thì trước hết phải nói đến ngôn ngữ thành tiếng — tức ngữ âm. Ngữ âm là mặt hình thức có tính vật chất (mặt biểu hiện). Ngữ âm là cách gọi tắt của âm thanh ngôn ngữ - một loại âm thanh đặc biệt đo con người phát ra dùng đề giao tiếp và tư đuy. Ngữ âm bao gồm các âm, các thanh, các kết hợp âm thanh và giọng điệu trong một từ, một câu của một ngôn ngữ [21] ® Nhận thức ngữ âm dé cập đến nhận thức của một cá nhân về cau trúc âm vị học, hoặc cau trúc âm thanh của lời nói.
Nhận thức về ngữ âm là một yếu tố dy báo quan trọng và đáng tin cậy về khả năng đọc sau nảy vì vậy đã trở thành trọng tâm của nhiều nghiên cứu.org/wiki/Phonological_awareness). Nhận thức ngữ âm là khả năng nhận ra rằng từ được tạo thành từ nhiều đơn vị âm thanh. Thuật ngữ này bao gồm một số các kỹ năng liên quan đến âm thanh cân thiết cho một người đẻ có thé phát triển thành môt người đọc độc lập. Một đứa trẻ phát triển nhận thức ngữ âm.
không chỉ cần hiểu rằng từ được tạo thành từ các đơn vị âm thanh nhỏ hơn (âm vị), trẻ cũng cân biết rằng lời nói có thể được tách ra thành âm thanh nhỏ hơn được gọi là âm tiết và mỗi âm tiết bắt đầu bằng một âm thanh (âm đầu) vả kết thúc với một âm thanh (âm cudi). 10 @® Đề đọc một từ người học phải nhận ra các chữ cái trong từ và kết hợp mỗi ký tự với âm thanh của nó. Dé viết hoặc gd một từ người học phải phân tích từ thành những âm thanh thành phần của nó và biết các ký tự đại diện cho những âm thanh này. Kiến thức vẻ sự tương ứng âm - chữ và kỹ năng nhận thức ngừ âm là nền tảng cơ bản của việc học chữ [ 19].
Trẻ khởi đầu quá trình nhận thức ngữ âm của mình từ rất sớm thông qua giao tiếp trong môi trường gia đình. Một đứa trẻ phát triển bình thường không quá khó khăn đẻ đạt được những kỹ năng tiền đọc viết trong quá trình tiếp xúc, chơi đùa cùng những người thân. Khi đến tudi mẫu giáo, trẻ được phát triển một số kỹ năng đọc — đặc biệt là khả năng thực hiện một cuộc đàm thoại ngắn, khả năng chú ý và cho phản hoi khi nghe kể chuyện; biết một số chữ cái và các âm mà chữ này thé biện cũng như những quan niệm cơ bản về văn bản in [21]. Quá trình nhận thức ngữ âm của HS lớp 1 được đặc biệt chú ý trong giai đoạn Học vần.
Dạy học vần cỏn được gọi là dạy đọc viết chữ, học van là giai đoạn đầu tiên trong quá trình học đọc viết ở trường phổ thông. Khi mà học sinh bắt đầu chuyển những kỹ năng nói — nghe thành kỹ năng đọc — viết. Theo tác giả Hoàng Thị Tuyết (2012), học van là một giai đoạn cực kỳ quan trọng ở chỗ hình thành kỹ nang giải mã và nhận điện từ, từ đó tạo nên tang cho việc phát triển kỹ năng đọc và viết của học sinh tiêu học. Trong giai đoạn này, học sinh được rén các kỹ năng: e Kỹ năng xem xét, nhận diện các âm, vần tạo thành từ ngữ.
¢ Kỹ năng phân tách một từ ngữ (tô hợp chữ cái) thành các âm. e Ý thức ngữ âm. e Kỹ năng nhận diện sự tương hợp giữa âm thanh và chữ viết. ¢ Kỹ năng đánh van.
¢ Kỹ năng đọc trơn. ® Bài tập nhận thức âm thanh có nội dung yêu cầu rèn luyện khả năng nhận thức âm thanh - biểu tượng tự vị của trẻ, như cách phát âm các chữ in, trẻ phải nhận ra 11 sự tương ứng giữa các tự vị với các âm được nói ra. Thực hiện các bài tập này ngoài việc rèn luyện kha năng nhận thức chữ cái đùng ghi tên gọi của âm, còn góp phan hình thành và rèn luyện cho trẻ cách phân tích các từ đa tiết, từ đó có thé hiểu nghĩa các từ mới, 1. Hệ thống âm vị và chữ viết tiếng Việt trong mỗi liên quan đến khó khăn về đọc 6 trẻ em Đặc điềm hệ thong âm vi va chữ viết của một ngôn ngữ nhất định có ảnh hưởng đến quá trình học đọc của trẻ em [1].