Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định mục tiêu chuyển trọng tâm giáo dục từ tiếp cận nội dung (truyền thụ kiến thức) sang tiếp cận năng lực, phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo và tiềm năng của học sinh (HS). Trong bối cảnh đó, bài tập nhận thức (BTNT) giữ vai trò là công cụ dạy học quan trọng, vận hành theo cơ chế "thầy thiết kế - trò thi công", giúp HS chủ động tìm tòi, giải quyết mâu thuẫn nhận thức và tự chiếm lĩnh tri thức khoa học.

Song song với quá trình đổi mới giáo dục trong nước, Chương trình Đánh giá học sinh quốc tế (PISA) do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khởi xướng tập trung đo lường năng lực của học sinh 15 tuổi ở các lĩnh vực: đọc hiểu, toán học và khoa học thông qua các tình huống thực tiễn đời sống. Môn Địa lí lớp 11 trong chương trình mới mang tính thực tiễn cao, bao gồm cả yếu tố tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội biến động liên tục, kết hợp với các yêu cầu xử lý bảng số liệu, bản đồ, biểu đồ và tính toán (như cán cân thương mại, cơ cấu GDP, tốc độ tăng trưởng). Đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng các BTNT theo tiếp cận PISA nhằm đánh giá và phát triển năng lực cho học sinh.

Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng và sử dụng được một số bài tập nhận thức theo tiếp cận PISA trong dạy học Địa lí 11 nhằm phát triển năng lực cho học sinh.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định 06 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng BTNT theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí 11.
  2. Phân tích các nguyên tắc và yêu cầu trong việc xây dựng và sử dụng BTNT theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí lớp 11.
  3. Xây dựng và sử dụng một số BTNT theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí lớp 11.
  4. Định hướng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong xây dựng và sử dụng BTNT theo tiếp cận PISA trong dạy học Địa lí lớp 11.
  5. Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi của việc xây dựng và sử dụng BTNT theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí lớp 11.
  6. Đưa ra các kết luận, đề xuất và kiến nghị.

Câu hỏi nghiên cứu

Khóa luận tập trung giải quyết 02 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Các dạng BTNT theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí 11 có được xây dựng khả thi và hiệu quả để áp dụng vào giảng dạy ở trường phổ thông hay không?
  2. BTNT theo tiếp cận PISA trong dạy học Địa lí 11 góp phần nâng cao tính tích cực, vai trò độc lập và phát triển năng lực cho học sinh trong các hoạt động học tập đến mức độ nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học Địa lí ở trường THPT.
  • Phạm vi nội dung: Chu trình thiết kế và tổ chức sử dụng BTNT theo tiếp cận PISA phát triển 03 thành phần năng lực (khoa học, toán học, đọc hiểu) trong dạy học Địa lí 11.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng tại một số trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương; tổ chức thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 10/2023 đến tháng 04/2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình tiếp cận

Khóa luận được xây dựng dựa trên các nền tảng lý luận dạy học hiện đại và văn bản pháp quy:

  • Lí thuyết dạy học kiến tạo (Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường, 2016): Nhấn mạnh người học là chủ thể kiến tạo tri thức thông qua giải quyết các tình huống học tập phức hợp, gắn liền thực tiễn.
  • Dạy học lấy người học làm trung tâm và dạy học phát triển năng lực (Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ và nnk, 2018): Chú trọng rèn luyện khả năng hành động, vận dụng tri thức vào giải quyết vấn đề thực tế.
  • Lí thuyết về bài tập nhận thức (I. Lerner; Trần Đức Tuấn, 2007): Xác định BTNT là bộ phận cơ bản của hệ thống bài tập địa lí, là hạt nhân của công tác độc lập nhận thức và chứa đựng cấu trúc "cái cho", "cái tìm", "chương trình giải".
  • Khung đánh giá PISA (OECD, 2015, 2017): Hệ thống đánh giá 03 năng lực cốt lõi (Đọc hiểu, Toán học, Khoa học). Cấu trúc bài tập PISA gồm 4 phần: phần dẫn (ngữ cảnh thực tế), phần câu hỏi, các phương án trả lời và hướng dẫn mã hóa theo 3 mức độ (Mức đầy đủ, Mức chưa đầy đủ, Mức không đạt).
  • Chương trình GDPT 2018 môn Địa lí (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018) và Định dạng cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT từ năm 2025: Chuyển đổi định dạng đề thi sang 3 phần trắc nghiệm (trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trắc nghiệm Đúng/Sai 4 lệnh hỏi, trắc nghiệm trả lời ngắn), tạo sự tương thích với dạng thức câu hỏi của PISA.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phối hợp 4 nhóm phương pháp:

  1. Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Thu thập, phân loại, nghiên cứu các công trình nghiên cứu PISA của OECD, tài liệu tập huấn của Bộ GD&ĐT, các đề tài trong và ngoài nước, cùng chương trình SGK Địa lí 11.
  2. Phương pháp khảo sát, điều tra: Sử dụng bảng hỏi trực tuyến để thu thập dữ liệu thực trạng từ mẫu khảo sát gồm $n_1 = 51$ giáo viên Địa lí THPT và $n_2 = 135$ học sinh lớp 11 tại TP.HCM và Bình Dương.
  3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Triển khai giảng dạy một chủ đề Địa lí 11 có ứng dụng BTNT theo tiếp cận PISA tại trường THPT Dĩ An (tỉnh Bình Dương) trên học sinh hai lớp 11AB2 và 11B3; theo dõi qua bảng kiểm quan sát, hồ sơ học tập và bài kiểm tra đánh giá cuối chủ đề.
  4. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát và kết quả thực nghiệm bằng thống kê mô tả (tính điểm trung bình Mean, trung vị Median, tần số, tỉ lệ phần trăm) và thang đo thành tích.

Nguồn dữ liệu

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kết quả PISA các chu kỳ 2012, 2015, 2018 của Bộ GD&ĐT và OECD; Chương trình GDPT tổng thể và môn Địa lí 2018; các tài liệu tập huấn chuyên môn.
  • Dữ liệu sơ cấp: Kết quả khảo sát thực trạng từ 51 giáo viên và 135 học sinh; kết quả bài kiểm tra và phiếu quan sát thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Dĩ An.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí lớp 11

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về các quan điểm dạy học hiện đại, bản chất - vai trò của BTNT trong bộ môn Địa lí, khung đánh giá PISA của OECD, cũng như các đặc điểm tâm sinh lý và nhận thức của học sinh lớp 11. Đồng thời, tác giả đối chiếu sự tương thích giữa yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT 2018 môn Địa lí 11 (khối lượng kiến thức cốt lõi tăng lên 70 tiết lý thuyết/thực hành và 35 tiết chuyên đề) với cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT sau năm 2025 và đề thi đánh giá năng lực của ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM.

Tiêu chí khảo sát Nhóm Giáo viên ($n=51$) Nhóm Học sinh ($n=135$)
Mức độ sử dụng BTNT trong dạy học - Rất thường xuyên: 58,8% (30 GV)
- Thường xuyên: 29,4% (15 GV)
- Thỉnh thoảng: 11,8% (6 GV)
- Rất thường xuyên: 60,0% (81 HS)
- Thường xuyên: 22,2% (30 HS)
- Thỉnh thoảng: 17,8% (24 HS)
Dạng câu hỏi BTNT phổ biến nhất - Trắc nghiệm khách quan ($M = 4,76$)
- Điền khuyết ($M = 4,71$)
- Trắc nghiệm khách quan
- Điền khuyết
Dạng câu hỏi ít được sử dụng nhất - Câu hỏi Đúng/Sai ($M = 1,86$)
- Lập luận đồng tình/bác bỏ ($M = 1,73$)
- Câu hỏi Đúng/Sai
- Câu hỏi lập luận đồng tình/bác bỏ
Hoạt động dạy học áp dụng nhiều nhất - Hình thành kiến thức mới ($M = 4,69$)
- Luyện tập ($M = 4,xx$)
- Hình thành kiến thức mới ($M = 4,13$)
- Luyện tập ($M = 3,79$)
Khó khăn chủ yếu gặp phải - Tốn nhiều thời gian xây dựng: 47/51 GV
- Thiếu nguồn tư liệu thực tiễn: 40/51 GV
- Mất nhiều thời gian: 128/135 HS
- Khối lượng kiến thức lớn: 112/135 HS
- Khó khăn hợp tác nhóm: 87/135 HS
- Bài tập quá khó: 76/135 HS
Mức độ tiếp cận BTNT theo PISA - Từng tìm hiểu: 39,2% (20 GV)
- Từng áp dụng: 11,8% (6 GV)
- Từng xây dựng: 9,8% (5 GV)
- Khó khăn: Thiếu tài liệu/mẫu (10/11 GV), thiếu tập huấn/quy trình (9/11 GV)
- Đã từng tiếp cận: 25,9% (35 HS, chủ yếu là bài tập tính toán)
- Mong muốn được học dạng bài PISA: 89,6%

Kết quả điều tra thực trạng khẳng định giáo viên và học sinh đã quen thuộc với BTNT nhưng chủ yếu ở dạng truyền thống. Việc tiếp cận và thiết kế BTNT theo PISA còn rất hạn chế do thiếu quy trình bài bản, tài liệu mẫu và nguồn học liệu thực tiễn.

Chương 2. Xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí lớp 11

Chương 2 đề xuất khung giải pháp sư phạm bao gồm hệ thống nguyên tắc, yêu cầu, chu trình thiết kế 5 bước và các bộ bài tập minh họa.

Tác giả xác định 04 nguyên tắc xây dựng và sử dụng BTNT theo tiếp cận PISA:

  1. Đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức đối với học sinh.
  2. Đảm bảo tính tự lực và phát triển tư duy cho học sinh.
  3. Đảm bảo tính hệ thống và liên hệ thực tiễn.
  4. Đảm bảo tính giáo dục.

Chu trình thiết kế BTNT theo tiếp cận PISA phục vụ dạy học Địa lí được khái quát qua 05 bước:

  • Bước 1: Xác định mục tiêu bài tập: Căn cứ vào Yêu cầu cần đạt (YCCĐ) của bài học/chủ đề theo Chương trình GDPT 2018, xác định các biểu hiện cụ thể về năng lực đặc thù địa lí, năng lực chung (tự chủ, giao tiếp, hợp tác) và phẩm chất (chăm chỉ, trách nhiệm) thông qua các động từ hành động đo lường được.
  • Bước 2: Lựa chọn học liệu để xây dựng bài tập: Khai thác các nguồn dữ liệu văn bản, bảng số liệu thống kê, bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, infographic có tính thời sự và gắn với bối cảnh thực tiễn theo 3 nhánh năng lực PISA:
    • Năng lực đọc hiểu: Học liệu bản đồ, biểu đồ, đoạn văn, infographic (ví dụ: Bản đồ mật độ dân số và đô thị Nhật Bản năm 2020, tranh biếm họa già hóa dân số, infographic Mục tiêu của Liên hợp quốc).
    • Năng lực toán học: Bảng số liệu kinh tế - xã hội (ví dụ: Trị giá xuất nhập khẩu của Nhật Bản 2000 - 2020, GDP Trung Quốc và thế giới giai đoạn 2000 - 2020, cơ cấu dân số theo tuổi của Nhật Bản 1950 - 2020).
    • Năng lực khoa học: Các tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức về hiện tượng tự nhiên, dân cư, kinh tế khu vực và quốc gia.
  • Bước 3: Thiết kế bài tập: Xây dựng phần dẫn và hệ thống câu hỏi đa dạng định dạng theo chuẩn PISA (trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, câu hỏi Đúng/Sai, câu hỏi trả lời ngắn, câu hỏi mở đòi hỏi lập luận hoặc vẽ biểu đồ).
  • Bước 4: Xây dựng hướng dẫn chấm và đánh giá: Thiết lập tiêu chí mã hóa 3 mức độ (Mức đầy đủ, Mức chưa đầy đủ, Mức không đạt) tương ứng với từng yêu cầu câu hỏi.
  • Bước 5: Vận dụng, đánh giá và cải tiến bài tập: Đưa vào kế hoạch bài dạy, tổ chức cho học sinh thực hiện, thu thập phản hồi và điều chỉnh độ khó, ngữ cảnh học liệu.

Chương này cũng định hướng kết hợp BTNT với các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như: Dạy học dự án, Dạy học theo trạm, Kĩ thuật Think - Pair - Share, đồng thời hướng dẫn vận dụng vào hoạt động kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì.

Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày quá trình tổ chức thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Dĩ An (tỉnh Bình Dương) trên đối tượng học sinh các lớp 11AB2 và 11B3 nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các BTNT đã thiết kế.

Tiến trình thực nghiệm được triển khai trong quá trình dạy học một chủ đề Địa lí 11 cụ thể, sử dụng các bài tập nhận thức theo tiếp cận PISA tích hợp vào tiến trình bài dạy. Dữ liệu thực nghiệm được thu thập thông qua:

  • Quan sát diễn biến hoạt động học tập và mức độ tương tác của học sinh qua các bảng kiểm quan sát.
  • Phân tích sản phẩm học tập và hồ sơ học tập của cá nhân/nhóm học sinh.
  • Kết quả bài kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm được chấm theo thang đo mã hóa tiêu chí 3 mức độ và thang đo thành tích đối với các thành phần năng lực khoa học, đọc hiểu và toán học.

Số liệu phân tích tại lớp 11AB2 và 11B3 cho thấy mức độ hoàn thành bài tập nhận thức của học sinh có sự tiến bộ rõ rệt ở các dạng bài tập yêu cầu phân tích số liệu, đọc hiểu tư liệu thực tế và vận dụng kiến thức khoa học giải quyết vấn đề.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Dữ liệu thực trạng thực chứng: Phản ánh toàn diện thực trạng dạy và học bằng BTNT tại TP.HCM và Bình Dương; chỉ ra khoảng trống lớn khi có tới 88,2% GV chưa từng áp dụng BTNT theo tiếp cận PISA nhưng có tới 89,6% HS có nhu cầu học tập dạng bài này.
  2. Chu trình 5 bước hoàn chỉnh: Cung cấp quy trình rõ ràng, khả thi giúp giáo viên THPT tự thiết kế BTNT theo tiếp cận PISA bám sát YCCĐ của Chương trình GDPT 2018.
  3. Hệ thống bài tập mẫu chuyên sâu môn Địa lí 11: Xây dựng các bộ bài tập thuộc mạch kiến thức Địa lí khu vực và quốc gia (Đông Nam Á, Nhật Bản, Trung Quốc) phát triển đồng đều 3 nhánh năng lực PISA (Đọc hiểu, Toán học, Khoa học) đi kèm ma trận và hướng dẫn mã hóa chi tiết.
  4. Kiểm chứng thực nghiệm: Minh chứng tính khả thi của BTNT PISA trong việc cải thiện khả năng tư duy độc lập, kỹ năng phân tích dữ liệu thực tế của học sinh lớp 11 tại trường THPT Dĩ An.

Giải pháp và kiến nghị

  • Đối với Sở GD&ĐT và các cấp quản lý: Tổ chức các chuyên đề, tập huấn chuyên sâu về kĩ thuật biên soạn câu hỏi và bài tập theo định hướng PISA và cấu trúc đề thi mới; xây dựng kho học liệu số chia sẻ tài nguyên dạy học.
  • Đối với giáo viên: Chủ động cập nhật tư liệu thực tiễn, đa dạng hóa các dạng thức câu hỏi (tăng cường câu hỏi Đúng/Sai, câu hỏi lập luận, câu hỏi xử lý bảng số liệu); kết hợp linh hoạt BTNT với dạy học theo trạm và dạy học hợp tác.
  • Đối với học sinh: Tăng cường tự học, rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản khoa học, xử lý số liệu thống kê và chủ động tham gia thảo luận nhóm.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

  • So với các công trình nghiên cứu trước đây (như Hoàng Thị Thu, 2018; Hoàng Thị Việt Hà, 2019) vốn tập trung vào chương trình Địa lí 12 cũ, khóa luận này là công trình tiên phong nghiên cứu xây dựng BTNT theo tiếp cận PISA cho môn Địa lí lớp 11 theo Chương trình GDPT 2018.
  • So với các nghiên cứu PISA trong nhóm môn Khoa học tự nhiên (Phạm Kim Chung, 2017 ở môn Vật lí 10; Cao Cự Giác và Nguyễn Văn Minh, 2015; Nguyễn Thị Diễm Hằng và Lê Danh Bình, 2023 ở môn Hóa học), tác giả đã cụ thể hóa khung đánh giá PISA vào đặc thù không gian, bản đồ và dữ liệu kinh tế - xã hội của khoa học Địa lí.
  • Nội dung nghiên cứu bám sát định dạng cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT từ năm 2025 của Bộ GD&ĐT và cấu trúc bài thi đánh giá năng lực của các đại học lớn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Mẫu khảo sát thực trạng còn giới hạn trong phạm vi 51 giáo viên và 135 học sinh tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương.
  • Thực nghiệm sư phạm chỉ được triển khai tại 01 trường THPT (THPT Dĩ An, Bình Dương) trên 02 lớp học (11AB2 và 11B3) với thiết kế một nhóm đối tượng duy nhất trong phạm vi một chủ đề dạy học.
  • Hệ thống BTNT minh họa chủ yếu tập trung vào mạch kiến thức Địa lí khu vực và quốc gia lớp 11, chưa bao quát toàn bộ các chuyên đề học tập lựa chọn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm sang nhiều trường THPT ở các khu vực địa lý khác nhau, kết hợp thiết kế nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng để nâng cao tính đại diện.
  • Tiếp tục thiết kế và hoàn thiện hệ thống BTNT theo tiếp cận PISA cho toàn bộ chương trình Địa lí lớp 10, 11 và 12 theo Chương trình GDPT 2018.
  • Xây dựng phần mềm hoặc ngân hàng câu hỏi trực tuyến hỗ trợ giáo viên tự động hóa khâu kiểm tra, đánh giá và mã hóa kết quả học tập của học sinh theo tiêu chí PISA.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Giáo viên Địa lí THPT: Sử dụng trực tiếp chu trình 5 bước để tự biên soạn bài tập, đồng thời khai thác hệ thống câu hỏi mẫu, bảng số liệu và rubric mã hóa để phục vụ kiểm tra đánh giá thường xuyên, định kì theo định dạng đề thi mới.
  • Sinh viên ngành Sư phạm Địa lí: Nắm vững phương pháp thiết kế bài tập nhận thức gắn với bối cảnh thực tế và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực (dạy học theo trạm, kĩ thuật Think - Pair - Share).
  • Cán bộ quản lý chuyên môn và người làm nghiên cứu giáo dục: Tham khảo cơ sở lý luận, ma trận phân bổ cấp độ tư duy và số liệu khảo sát thực trạng để xây dựng chương trình tập huấn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá.

Câu hỏi thường gặp

1. Chu trình xây dựng bài tập nhận thức theo tiếp cận PISA trong khóa luận gồm những bước nào?

Chu trình gồm 05 bước:

  • Bước 1: Xác định mục tiêu bài tập (dựa trên YCCĐ, năng lực chung, phẩm chất).
  • Bước 2: Lựa chọn học liệu để xây dựng bài tập (học liệu đọc hiểu, toán học, khoa học).
  • Bước 3: Thiết kế bài tập (xác định hình thức câu hỏi trắc nghiệm, đúng/sai, trả lời ngắn, mở).
  • Bước 4: Xây dựng hướng dẫn chấm và đánh giá (mã hóa theo 3 mức: đầy đủ, chưa đầy đủ, không đạt).
  • Bước 5: Vận dụng, đánh giá và cải tiến bài tập.

2. Thực trạng sử dụng các dạng câu hỏi BTNT của giáo viên Địa lí trước nghiên cứu như thế nào?

Theo khảo sát 51 giáo viên, các dạng câu hỏi được sử dụng nhiều nhất là trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn ($M = 4,76$) và điền khuyết ($M = 4,71$). Ngược lại, các dạng câu hỏi đặc trưng của PISA như câu hỏi Đúng/Sai ($M = 1,86$) và câu hỏi yêu cầu lập luận thể hiện sự đồng tình/bác bỏ ($M = 1,73$) ít được sử dụng nhất.

3. Ba thành phần năng lực PISA nào được tác giả tập trung phát triển trong môn Địa lí 11?

Tác giả tập trung vào 03 thành phần năng lực cốt lõi:

  • Năng lực đọc hiểu: Khai thác văn bản, bản đồ, biểu đồ, infographic địa lí.
  • Năng lực toán học: Tính toán cơ cấu GDP, tốc độ tăng trưởng, cán cân xuất nhập khẩu, cơ cấu dân số.
  • Năng lực khoa học: Vận dụng kiến thức khoa học địa lí giải thích các hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội và đề xuất giải pháp.

4. Tại sao cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT từ năm 2025 lại tương thích với định hướng BTNT theo tiếp cận PISA trong khóa luận?

Đề thi tốt nghiệp THPT từ năm 2025 môn Địa lí chuyển từ đánh giá kiến thức sang đánh giá năng lực với 3 phần trắc nghiệm (nhiều lựa chọn, Đúng/Sai 4 lệnh hỏi phân hóa điểm số theo 4 mức, và trả lời ngắn). Cấu trúc này hoàn toàn tương thích với các dạng bài tập PISA vốn gắn liền ngữ cảnh thực tiễn, đòi hỏi xử lý số liệu và phân cấp mức độ nhận thức.

5. Thực nghiệm sư phạm của đề tài được tổ chức ở đâu, trên đối tượng nào?

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành từ tháng 10/2023 đến tháng 04/2024 tại trường THPT Dĩ An (thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương) trên học sinh hai lớp 11AB2 và 11B3 trong quá trình dạy học một chủ đề môn Địa lí 11.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Hoàng Thảo đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo sát toàn diện thực trạng sử dụng bài tập nhận thức theo tiếp cận PISA trong dạy học Địa lí 11 tại TP.HCM và Bình Dương. Đề tài đề xuất thành công quy trình thiết kế 5 bước cùng hệ thống bài tập minh họa đa dạng định dạng, bám sát Chương trình GDPT 2018 và định hướng thi tốt nghiệp THPT mới. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Dĩ An bước đầu khẳng định tính khả thi của các bài tập trong việc phát triển năng lực đọc hiểu, toán học và khoa học cho học sinh phổ thông.