CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐẶC THÙ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 1. Một số vấn đề về năng lực 1. Năng lực Với cách tiếp cận chung, năng lực của con người do hai yếu tố cơ bản tạo thành đó là yếu tố tự nhiên (sinh học) và yếu tố xã hội, trong đó yếu tố xã hội là cơ bản có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực. Yếu tố tự nhiên tạo thành năng lực của mỗi con người, đó là những cái thuộc về bẩm sinh, gen di truyền, nhất là hoạt động của hệ thần kinh cấp cao…, đây là những yếu tố mang tính tiền đề, cơ sở của năng lực, vì những tư chất thuộc về yếu tố bẩm sinh của mỗi cá nhân chỉ được phát triển và phát huy thông qua nhân tố xã hội.
Nhờ quá trình giáo dục, tự giáo dục, tự phấn đấu và rèn luyện mà năng lực của mỗi người được hình thành, phát triển. Như vậy, năng lực của con người không chỉ đơn thuần là yếu tố bẩm sinh mà đó còn là quá trình hoạt động rèn luyện tích lũy lâu dài thông qua học tập và hoạt động thực tiễn [2]. Năng lực là khả năng nhận thức và khả năng hoạt động thực tiễn của con người ở các lĩnh vực hoạt động tương ứng mà họ tham gia. Như vậy, năng lực của mỗi chủ thể được biểu hiện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tế của họ, nó tồn tại ở dạng cái đã có và cái tiềm năng giúp chủ thể hoạt động đạt được múc đích trong hoạt động.
Nhưng có thể nói cái cốt lõi giúp cho chủ thể hoạt động có hiệu quả đó thực chất là tri thức và kỹ xảo, kỹ năng của mỗi người có được trong mỗi lĩnh vực hoạt động nhất định [16, tr. Năng lực là khả năng, tài năng, hoặc khả năng thực hiện một công việc hoặc hoạt động cụ thể. Nó thường liên quan đến khả năng của một cá nhân, tổ chức hoặc hệ thống để thực hiện các nhiệm vụ, đạt được mục tiêu hoặc đáp 10 ứng yêu cầu cụ thể. Nó có thể được phát triển thông qua học tập, huấn luyện, trải nghiệm và thực hành.
Cấp độ năng lực của một cá nhân hoặc tổ chức có thể ảnh hưởng đến hiệu suất, thành công và sự phát triển trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm công việc, giáo dục, quản lý và cuộc sống cá nhân. Theo Tổ chức OECD thì năng lực khả năng đáp ứng một cách có hiệu quả một sô yêu cầu phức hợp diễn ra trong một hoàn cảnh cụ thể” [13, tr. Đặng Thành Hưng (2012) quan niệm “Năng lực là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó, là một khả năng hành động hiệu quả hoặc” [14, tr.28] David Mirked và cộng sự (2011) thì cho rằng: “Năng lực là hệ thống khả năng được thể hiện nó có thể giúp con người vươn tới một mục đích cụ thể nào đó trong cuộ sống” [7, tr. Từ những quan niệm trên tác giả cho rằng năng lực bao gồm các yếu tố của một cá nhân nhất định và được thể hiện ra thông qua các hoạt động của cá nhân đó trong các lĩnh vực khác nhau.
Hệ thống năng lực đặc thù theo CTGDPT2018 Hệ thống năng lực đặc thù được quy định cụ thể trong khung năng lực theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể ban hành năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hệ thống năng lực đặc thù này nhằm giúp học sinh phát triển đa mặt, từ các kỹ năng học thuật cho đến những kỹ năng sống cần thiết trong cuộc sống hàng ngày. Đồng thời, nó cũng hướng đến việc nuôi dưỡng sự sáng tạo, tư duy phản biện, khám phá và giải quyết vấn đề của học sinh. Năng lực đặc thù của học sinh tiểu học được cụ thể hóa trên các nội dung sau: Một là: Đó là năng lực ngôn ngữ Năng lực ngôn ngữ rất quan trọng đối với học sinh tiểu học, trước tiên là năng lực sử dụng tiếng Việt, sau đó là năng lực sử dụng ngoại ngữ. Trong từng năng lực đều hình thành các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh.
Hai là: Đó là năng lực tính toán Năng lực tính toán được phát triển ở nhiều môn học khác nhau chứ 11 không dừng lại ở môn Toán. Yêu cầu cần đạt cụ thể về năng lực toán học đối với học sinh theo từng cấp học, lớp học theo từng cấp độ từ dẽ đến khó. Trong năng lực tính toán của học sinh tiểu học, bao gồm: Tư duy toán học của các em, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống và nhận thức kiến thức toán học. Ba là: Đó là năng lực khoa học Năng lực khoa học bao gồm nhiều nội dung khác nhau trang bị cho các em kiến thức cơ bản nhất về khoa học như biết vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học; có khả năng nhận thức khoa học và biết tìm hiểu tự nhiên, tìm hiểu xã hội với những hoạt động xung quanh.
Bốn là: Đó là năng lực công nghệ Năng lực công nghệ bao gồm nhiều nội dung như Nhận thức công nghệ (đây là yêu cầu đầu tiê). Ngoài ra học sinh cần biết biết Đánh giá công nghệ dựa trên tư duy của mình; về Giao tiếp công nghệ; biết Sử dụng công nghệ và biết Thiết kế kĩ thuật ở mức độ đơn giản. Yêu cầu về năng lực công nghệ của học sinh tiểu học bao gồm các khía cạnh sau đây: Học sinh được khuyến khích sử dụng các công cụ và thiết bị công nghệ thông tin để truy cập thông tin, tìm kiếm, và sử dụng các nguồn tài liệu điện tử để nắm vững kiến thức. Học sinh cần phát triển khả năng sử dụng công nghệ để thực hiện các phép tính số học cơ bản như cộng, trừ, nhân, chia và áp dụng trong các tình huống thực tế.
Học sinh cần biết vận hành và sử dụng các thiết bị công nghệ như máy tính, máy in, máy ảnh, máy quay phim, máy chiếu và các thiết bị khác một cách cơ bản. Học sinh cần có khả năng sử dụng các phần mềm ứng dụng cơ bản như xử lý văn bản, tính toán, trình diễn và giao tiếp để thực hiện các tác vụ thông thường. Giúp học sinh tiểu học làm quen và sử dụng công nghệ một cách hiệu quả trong quá trình học tập và giao tiếp. Ngoài ra, cũng nhấn mạnh về việc xây dựng nhận thức đúng về việc sử dụng công nghệ một cách an toàn và đạo đức từ khi còn ở cấp tiểu học.
Năm là: Đó là năng lực tin học 12 Năng lực tin học của học sinh tiểu học bao gồm nhiều nội dung như sử dụng và quản lí các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông; Ứng xử phù hợp trong môi trường số; Giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông; Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học và tự học; Hợp tác trong môi trường số. Yêu cầu về năng lực tin học của học sinh tiểu học thường tập trung vào việc phát triển các kỹ năng cơ bản và khả năng sử dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả. Học sinh cần biết cách khởi động máy tính, sử dụng chuột và bàn phím, thao tác cơ bản trên màn hình và biết cách tắt máy đúng cách. Học sinh cần có khả năng sử dụng phần mềm xử lý văn bản cơ bản để tạo, chỉnh sửa và lưu trữ văn bản.
Họ nên biết cách chèn, xóa, sao chép, di chuyển văn bản và thay đổi cỡ chữ, kiểu chữ cơ bản. Học sinh cần hiểu cách sử dụng công cụ tìm kiếm trực tuyến như Google để tìm kiếm thông tin và sử dụng kỹ năng lọc thông tin để lấy thông tin chính xác và đáng tin cậy. Học sinh nên có khả năng sử dụng phần mềm giáo dục như phần mềm toán học, ngôn ngữ, và học ngoại ngữ để tăng cường kiến thức và kỹ năng học tập. Học sinh cần biết cách sử dụng các công cụ giao tiếp trực tuyến như email, tin nhắn, diễn đàn và các nền tảng trò chuyện để giao tiếp và tương tác với người khác.
Học sinh cần được hướng dẫn về việc sử dụng công nghệ một cách an toàn, bảo mật thông tin cá nhân và tránh tiếp xúc với nội dung không phù hợp trên Internet. Sáu là: Đó là năng lực thẩm mĩ. Năng lực thẩm mỹ của học sinh tiểu học liên quan đến khả năng nhận biết, đánh giá và thể hiện sự đẹp một cách tự nhiên và tinh tế. Học sinh cần phát triển khả năng nhận biết và đánh giá sự đẹp trong các tác phẩm nghệ thuật, thiên nhiên, văn hóa và xã hội xung quanh họ.
Học sinh có khả năng nhận ra các yếu tố như màu sắc, hình dạng, độ cân đối, sự cân đối và phối hợp trong các tác phẩm nghệ thuật và thiết kế. Thể hiện sự sáng tạo và tự do trong thẩm mỹ, học sinh có khả năng tạo ra và trình bày các tác phẩm nghệ thuật, 13 bài viết, thiết kế hoặc các sản phẩm khác một cách sáng tạo và cá nhân. Học sinh cần có khả năng tương tác và thể hiện qua nghệ thuật, bao gồm vẽ, sơn, xếp hình, đúc, gấp giấy và các hoạt động sáng tạo khác. Điều này giúp phát triển khả năng thẩm mỹ, khả năng tưởng tượng và khả năng thể hiện ý tưởng cá nhân.
Học sinh cần hiểu và tôn trọng các giá trị văn hóa và đa dạng thẩm mỹ trong xã hội. Họ nên có khả năng đánh giá và đánh giá các tác phẩm nghệ thuật và thể hiện sự tôn trọng đối với các giá trị và quan điểm khác nhau. Bảy là: Đó là năng lực thể chất Năng lực thể chất bao gồm các hoạt động như Chăm sóc sức khỏe; Hoạt động thể dục thể thao; Vận động cơ bản. Tóm lại: Những năng lực đặc thù này rất quan trọng và giúp học sinh tiểu học hoàn thiện tư duy, định hình kiến thức và kỹ năng sống theo sự phát triển thể chất của từng lứa tuổi.
Năng lực đặc thù của môn Tự nhiên và Xã hội Năng lực đặc thù của môn Tự nhiên và Xã hội được quy định cụ thể như sau: Bảng 1. Yêu cầu năng lực đặc thù của học sinh qua nội dung, chương trình môn Tự nhiên và Xã hội Thành phần BIỂU HIỆN năng lực Nhận thức - Học sinh nhận biết được, nêu ra được các sự vật, hiện khoa học tượng thường gặp trong môi trường sống của các em.