Tổng quan nghiên cứu

Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học là trọng tâm cốt lõi của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, được ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT. Trong bối cảnh môn Địa lí cấp trung học phổ thông trở thành môn học lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp, việc nâng cao chất lượng giờ dạy nhằm tạo động lực và hứng thú học tập cho học sinh lớp 10 là yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, khảo sát thực tế tại các trường phổ thông cho thấy có tới 44,5% giáo viên chỉ sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong các tiết thao giảng hoặc ôn tập chuyên đề, trong khi 92,1% học sinh bày tỏ mong muốn được học tập thường xuyên với các hoạt động tương tác hiện đại.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất quy trình vận dụng bốn kĩ thuật dạy học tích cực điển hình bao gồm: KWL, mảnh ghép, chia sẻ nhóm đôi (Think-Pair-Share) và phòng tranh vào phần Địa lí kinh tế - xã hội lớp 10 thuộc bộ sách giáo khoa Cánh Diều. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực nghiệm sư phạm trong năm học 2022 - 2023 tại ba trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Hải Dương: Trường THPT Gia Lộc II, Trường THPT Hà Đông và Trường THPT Thanh Miện III với sự tham gia của 45 giáo viên và 252 học sinh.

Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp hệ thống 3 kế hoạch bài dạy mẫu được thiết kế bài bản, đồng thời xác lập các chỉ số định lượng cụ thể chứng minh tính khả thi của giải pháp. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc phối hợp linh hoạt các kĩ thuật dạy học không chỉ giúp cải thiện kết quả học tập từ 15% đến 22% điểm khá giỏi mà còn bồi dưỡng toàn diện năng lực tự chủ, giao tiếp và hợp tác cho học sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai trụ cột lý thuyết nền tảng là thuyết học tập kiến tạo và lý thuyết học tập hợp tác. Thuyết học tập hợp tác khởi nguồn từ các công trình đầu thế kỷ 20 của John Dewey vào năm 1900, được Kurt Lewin phát triển vào những năm 1930 và hoàn thiện bởi David Johnson cùng các cộng sự trong giai đoạn 1981 - 1989. Theo hệ thống lý thuyết này, người học lĩnh hội tri thức tối ưu thông qua quá trình tương tác xã hội, phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực và nâng cao trách nhiệm giải trình cá nhân trong nhóm học tập.

Mô hình nghiên cứu vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực được chuyển hóa dựa trên mục tiêu phát triển năng lực của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Luận văn tập trung vào 5 khái niệm khoa học then chốt:

Thứ nhất, kĩ thuật dạy học là biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.

Thứ hai, kĩ thuật KWL do Donna Ogle xây dựng năm 1986, giúp kích hoạt kiến thức nền tảng và phát triển năng lực tự học của học sinh qua ba cột thông tin: điều đã biết, điều muốn biết và điều học được sau bài học.

Thứ ba, kĩ thuật mảnh ghép (Jigsaw) phân hóa cấu trúc làm việc qua hai vòng: nhóm chuyên gia và nhóm mảnh ghép, kích thích trách nhiệm giải trình của từng cá nhân.

Thứ tư, kĩ thuật chia sẻ nhóm đôi do Frank Lyman giới thiệu năm 1981 nhằm rèn luyện kĩ năng tư duy độc lập kết hợp phản biện cặp đôi.

Thứ năm, năng lực đặc thù môn Địa lí bao gồm năng lực nhận thức thế giới theo quan điểm không gian, giải thích các hiện tượng kinh tế - xã hội và sử dụng công cụ địa lí thực tiễn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp đa dạng các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp nhằm đảm bảo tính toàn diện của vấn đề nghiên cứu. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra thực trạng gửi đến 45 giáo viên Địa lí và 252 học sinh lớp 10, cùng hệ thống điểm số thu được từ các bài kiểm tra đánh giá định lượng tại các lớp thực nghiệm và đối chứng. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Giáo dục năm 2019, Nghị quyết số 29-NQ/TW, Nghị quyết số 88/2014/QH13 và chương trình môn Địa lí ban hành kèm Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT.

Về quy mô và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu xác suất phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện. Cỡ mẫu khảo sát gồm 45 giáo viên và 252 học sinh đại diện cho ba khu vực địa bàn khác nhau của tỉnh Hải Dương gồm huyện Gia Lộc, huyện Thanh Hà và huyện Thanh Miện. Việc lựa chọn ba trường THPT Gia Lộc II, THPT Hà Đông và THPT Thanh Miện III đảm bảo tính tương đồng về mặt bằng chất lượng đầu vào, trình độ đội ngũ giáo viên và điều kiện cơ sở vật chất phục vụ dạy học.

Lý do lựa chọn phương pháp toán thống kê kết hợp thực nghiệm sư phạm là nhằm đo lường chính xác tác động thực tế của các kĩ thuật dạy học. Phương pháp toán học cho phép tính toán các tham số thống kê mô tả như điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn và kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Tiến trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ theo 3 giai đoạn xuyên suốt năm học 2022 - 2023: khảo sát thực trạng đầu năm, thiết kế kế hoạch bài dạy và tổ chức dạy thực nghiệm trong học kỳ II.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng ban đầu phản ánh bức tranh phân hóa rõ nét trong nhận thức và thực hành của đội ngũ giáo viên. Dù 100% giáo viên tham gia khảo sát đều nắm bắt được khái niệm về các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, chỉ có 55,5% giáo viên sử dụng thường xuyên trong các bài giảng định kỳ. Tỷ lệ 44,5% giáo viên còn lại thừa nhận chỉ áp dụng khi có thanh tra, thao giảng dự giờ hoặc trong các tiết ôn tập cuối chương do áp lực về mặt thời gian và khâu chuẩn bị học liệu.

Nhu cầu đổi mới từ phía học sinh lớp 10 ghi nhận con số ấn tượng khi có tới 232 trên tổng số 252 học sinh (đạt 92,1%) mong muốn giáo viên tăng cường áp dụng các kĩ thuật dạy học tương tác vào môn Địa lí. Bên cạnh đó, 61,9% học sinh khẳng định tâm lý sẵn sàng hợp tác và hào hứng đón nhận các phương thức học tập tích cực, trong khi 50,0% học sinh duy trì thái độ học tập nghiêm túc, tập trung cao độ khi tham gia vào các hoạt động nhóm như KWL hoặc mảnh ghép.

Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm sư phạm tại 3 trường THPT cho thấy sự chuyển biến vượt bậc về mặt định lượng. Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá và giỏi tại các lớp thực nghiệm đạt mức dao động từ 75,0% đến 82,5%, cao hơn từ 15,2% đến 21,8% so với các lớp đối chứng giảng dạy theo phương pháp truyền thống. Ngược lại, tỷ lệ học sinh xếp loại trung bình và yếu tại các nhóm thực nghiệm giảm sâu xuống dưới mức 5,0%, trong khi ở các lớp đối chứng tỷ lệ này vẫn chiếm khoảng 16,0% đến 22,0%.

Học sinh tham gia lớp thực nghiệm phát triển vượt bậc về các năng lực chung. Tỷ lệ học sinh tự tin trình bày trước đám đông và chủ động đặt câu hỏi phản biện tăng thêm khoảng 40% so với thời điểm đầu năm học, giải quyết dứt điểm tình trạng thụ động ghi chép kiến thức một chiều.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về mặt học lực của nhóm thực nghiệm bắt nguồn từ việc các kĩ thuật dạy học đã chuyển đổi căn bản vai trò của người học. Với kĩ thuật KWL, học sinh được xác định rõ nhu cầu nhận thức của bản thân thông qua cột điều muốn biết, từ đó tự giác tìm kiếm câu trả lời thay vì tiếp nhận thụ động từ bài giảng. Kĩ thuật mảnh ghép tạo ra cơ chế trách nhiệm kép: mỗi học sinh bắt buộc phải hiểu sâu phần kiến thức chuyên sâu ở vòng một để có thể truyền đạt lại cho các thành viên khác ở vòng hai. Điều này kích thích toàn bộ học sinh đều phải làm việc độc lập và thảo luận sôi nổi.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của tác giả Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường năm 2011, cũng như các đề tài luận văn về kĩ thuật mảnh ghép của Nguyễn Thị Sao năm 2018, kết quả của nghiên cứu này hoàn toàn tương đồng về khả năng nâng cao kết quả học tập và năng lực hợp tác. Tuy nhiên, điểm mới mang tính đột phá của luận văn là việc kết hợp đa dạng bốn kĩ thuật dạy học trong một chỉnh thể chương trình mới, khắc phục sự nhàm chán khi chỉ áp dụng lặp lại một kĩ thuật duy nhất.

Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua hệ thống biểu đồ cột kép và bảng thống kê ma trận. Biểu đồ cột kép so sánh phân phối tần suất điểm số giữa lớp thực nghiệm và đối chứng sẽ làm nổi bật sự chênh lệch rõ rệt ở phổ điểm 8 đến 10. Đồng thời, biểu đồ tròn phân tích cơ cấu thái độ của học sinh giúp minh họa sinh động mức độ hứng thú học tập tăng từ 50,0% lên trên 85,0% sau các chuỗi bài học thực nghiệm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nhân rộng tính khả thi của mô hình dạy học tích cực, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể được đề xuất triển khai:

Thứ nhất, tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn định kỳ 2 lần mỗi năm học vào tháng 8 và tháng 1 do Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các trường sư phạm thực hiện. Khóa học tập trung hướng dẫn quy trình 4 bước thiết kế phiếu học tập KWL và điều phối kĩ thuật mảnh ghép, hướng tới mục tiêu 100% giáo viên Địa lí THPT trên địa bàn thành thạo việc áp dụng kĩ thuật dạy học trong năm học 2023 - 2024.

Thứ hai, thiết kế và số hóa ngân hàng tài nguyên học liệu mở do Tổ chuyên môn Địa lí tại các trường trung học phổ thông chủ trì. Tổ bộ môn cần xây dựng tối thiểu 15 bộ phiếu học tập chuẩn hóa và sơ đồ hướng dẫn cho toàn bộ 4 chủ đề lớn của phần Địa lí kinh tế - xã hội lớp 10, hoàn thành trước học kỳ I năm học 2023 - 2024 nhằm giảm áp lực chuẩn bị cho giáo viên.

Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực, nâng tỷ trọng đánh giá quá trình thông qua sản phẩm học tập nhóm và hồ sơ học tập lên mức 40% tổng số điểm định kỳ. Giáo viên bộ môn cần áp dụng bảng tiêu chí đánh giá năng lực hợp tác và kĩ năng thuyết trình trong suốt 35 tuần của năm học để khuyến khích sự tiến bộ liên tục của học sinh.

Thứ tư, nâng cấp trang thiết bị cơ sở vật chất phòng học bộ môn do Ban giám hiệu các trường THPT đầu tư phê duyệt. Cần bổ sung bảng phụ di động, không gian treo tranh triển lãm và hệ thống máy chiếu kết nối Internet cho 100% các phòng học bộ môn trong giai đoạn 2024 - 2025, tạo không gian thuận lợi cho việc tổ chức kĩ thuật phòng tranh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và sản phẩm của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho bốn nhóm độc giả chuyên ngành:

Giáo viên Địa lí tại các trường trung học phổ thông: Khai thác trực tiếp hệ thống 3 kế hoạch bài dạy chi tiết kèm phiếu học tập thực tế để áp dụng vào các bài học về Địa lí nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, giúp tiết kiệm thời gian soạn giảng và nâng cao tính tương tác trong giờ học.

Cán bộ quản lý giáo dục và tổ trưởng chuyên môn: Sử dụng quy trình tổ chức và các phiếu tiêu chí đánh giá trong luận văn làm tài liệu chuẩn mực để xây dựng kế hoạch tập huấn nội bộ, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học và nâng tỷ lệ giờ dạy giỏi lên trên 80%.

Học viên cao học và sinh viên các trường đại học sư phạm: Tham khảo phương pháp luận khoa học, quy trình thiết kế công cụ khảo sát thực trạng và mô hình xử lý số liệu toán thống kê trong nghiên cứu thực nghiệm sư phạm ngành Lí luận và phương pháp dạy học Địa lí.

Chuyên gia phát triển chương trình và tác giả biên soạn sách giáo khoa: Tiếp cận dữ liệu thực chứng về phản hồi tâm lý của 252 học sinh lớp 10 đối với chương trình GDPT 2018, từ đó điều chỉnh mức độ vừa sức và bổ sung các hoạt động gợi ý thực hành phù hợp hơn trong các lần tái bản sách giáo khoa.

Câu hỏi thường gặp

Kĩ thuật KWL phát huy hiệu quả tối ưu nhất trong những dạng bài học Địa lí nào?

Kĩ thuật KWL phù hợp nhất với các bài học mang tính liên hệ thực tiễn và mở rộng hiểu biết như bài về phân bố dân cư, đô thị hóa hoặc các ngành dịch vụ. Điển hình tại bài 20 và bài 22 sách giáo khoa Địa lí 10, học sinh đã có sẵn vốn sống thực tế về môi trường xung quanh, giúp việc hoàn thiện cột K và cột W đạt hiệu quả kích hoạt tư duy cao nhất.

Thời lượng 45 phút của một tiết học có đủ để triển khai trọn vẹn kĩ thuật phòng tranh không?

Giáo viên hoàn toàn có thể triển khai thành công kĩ thuật phòng tranh nếu phân bổ thời gian khoa học theo từng chặng nhỏ. Quy trình tối ưu gồm 15 phút cho các nhóm hoàn thiện sản phẩm trên giấy A0, 10 phút di chuyển xem triển lãm với lộ trình định sẵn, 10 phút thuyết minh và 10 phút để giáo viên tổng kết, giải thích các nội dung trọng tâm.

Làm thế nào để khắc phục tình trạng ỷ lại của học sinh yếu kém khi làm việc nhóm?

Kĩ thuật mảnh ghép là giải pháp triệt để nhất để xử lý tình trạng này nhờ cơ chế gắn trách nhiệm cá nhân với thành tích chung. Tại vòng chuyên gia, giáo viên giao nhiệm vụ vừa sức và hỗ trợ kịp thời để học sinh yếu nắm vững kiến thức đơn lẻ, đảm bảo các em tự tin đóng vai trò chuyên gia truyền đạt lại cho các bạn tại vòng mảnh ghép tiếp theo.

Số liệu thực nghiệm tại ba trường THPT tỉnh Hải Dương có phản ánh tính đại diện rộng rãi không?

Cỡ mẫu khảo sát gồm 45 giáo viên và 252 học sinh thuộc 3 trường trên các địa bàn nông thôn và ven đô của Hải Dương có tính đại diện cao cho mặt bằng giáo dục phổ thông hiện nay. Kết quả thực nghiệm cho thấy sự gia tăng đồng đều từ 15% đến 22% học sinh đạt loại khá giỏi, minh chứng tính ổn định của mô hình sư phạm đề xuất.

Giáo viên mới tiếp cận chương trình 2018 nên bắt đầu vận dụng từ kĩ thuật dạy học nào?

Giáo viên nên bắt đầu từ kĩ thuật chia sẻ nhóm đôi (Think-Pair-Share) vì đây là kĩ thuật đơn giản nhất, không đòi hỏi chuẩn bị phương tiện học tập phức tạp. Sau khi học sinh đã hình thành thói quen tư duy độc lập và trao đổi cặp đôi từ 3 đến 5 phút, giáo viên có thể chuyển tiếp sang các kĩ thuật phức hợp như KWL, mảnh ghép và phòng tranh.

Kết luận

Nghiên cứu đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra thông qua năm kết quả cốt lõi:

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về dạy học phát triển năng lực và quy trình 4 kĩ thuật dạy học tích cực trong môn Địa lí lớp 10.
  • Khảo sát toàn diện thực trạng sử dụng kĩ thuật dạy học trên mẫu đại diện 45 giáo viên và 252 học sinh tại tỉnh Hải Dương.
  • Xây dựng thành công 3 kế hoạch bài dạy thực nghiệm chuẩn mực theo định hướng phát triển năng lực thuộc bộ sách Cánh Diều.
  • Chứng minh tính ưu việt của giải pháp qua số liệu thực nghiệm với tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng vượt bậc từ 15,2% đến 21,8%.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về cơ chế bồi dưỡng, học liệu số và đổi mới kiểm tra đánh giá cho năm học 2023 - 2024.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã cụ thể hóa các lý thuyết dạy học hiện đại thành quy trình thao tác sư phạm rõ ràng, dễ áp dụng vào thực tế giảng dạy phần Địa lí kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2024 đến 2025, hướng nghiên cứu cần được tiếp tục mở rộng thực nghiệm trên toàn bộ chương trình Địa lí 11 và 12. Các thầy cô giáo và nhà nghiên cứu giáo dục hãy tích cực áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực này vào từng tiết dạy thực tế để kiến tạo môi trường học tập hạnh phúc, năng động và phát triển tối đa phẩm chất cho học sinh.