CHƯƠNG 1: Gữ SỬ LÝ LUẬN— PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.1 Lý do chọn để tài: Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là một vùng lãnh thổ khá rộng và rất quan trong của nước ta. Đây là một đồng bằng châu thổ cửa sông, và là một trong những đồng bằng phì nhiêu bậc nhất ở nước ta. Nơi đây đã từ lâu là vựa lúa lớn nhất cả nước, đồng thời là vùng trọng điểm sản xuất lương thực thực phẩm. Cư dân ĐBSCL có nhiều nét văn hóa riêng mang đậm nét văn hóa của miễn sông nước.
Ai đã từng một lần qua ĐBSCL sẽ không thể nào quên được những khúc sông tấp nập cảnh mua bán, trao đổi, cũng như cảnh tượng những hàng dừa nước xanh biếc chạy uốn lượn theo những bờ sông, con rạch chằng chịt ở đồng bằng. Nói tới ĐBSCL người ta thường nghĩ ngay tới một vùng sông nước mênh mông, đời sống cư dân ở đây gắn lién với sông nước. Trong mấy năm gần đây ĐBSCL nổi lên như một vùng trọng điểm về diện tích cây lương thực - sản lượng lương thực - sản lượng thủy sản. cũng như lũ lụt, hạn hán, đất nhiễm phèn, nhiễm mặn và triển vọng lớn lao của hệ thống sông ngòi, kênh rach ở đồng bằng mang lại.
Với một niềm ham mê cảnh sông nước từ nhỏ, đã thôi thúc tôi chọn để tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình là: "Vai trò của hệ thống thiy văn đối với đời sống, hoạt động kinh tế và việc tiêu thoát li ở DBSCL”. Đề tài này có nội dung khá rộng, nhưng có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, do đó cần được quan tâm nghiên cứu.2 Lịch sử nghiên cứu: Thông thường trên thế giới các nền văn minh cổ đại nhất được gắn lién với những châu thổ sông, như văn minh Ai Cập - văn minh Lưỡng Hà - van Khóa Luận Tot Nghiệp GVHD: FS. Dink Thi (Quà nút Puce minh Ấn Độ — văn minh sông Hồng. Điểu này đã nói lên tẩm quan trong của sông ngòi và nguồn nước đối với đời sống con người.
Châu thổ sông Cửu Long là một đồng bằng mới được hình thành trong khoảng kỷ Pleixtôxen, cách nay khoảng 2 triệu năm, và ngày nay quá trình hình thành déng bang vẫn đang còn tiếp diễn, bằng chứng là mỗi năm vùng bán đảo Cà Mau lấn ra biển 60 — 100m, và con người mới khai phá vùng này trong khoảng 300 nam trở lại đây. Do vậy, nhưng với tầm quan trọng của hệ thống sông ngòi, kênh rach đối với su phát triển của đồng bằng, việc nghiên cứu hệ thống thủy văn ở ĐBSCL. đã được tiến hành từ rất sớm. Trong thời nhà Nguyễn, Trịnh Hoài Đức đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vé ĐBSCL, được tập hợp trong cuốn "Gia Định Thành Thông Chí”, nhưng cũng chỉ mới dừng lại ở việc thống kê và xác định vị trí của các con sông lớn ở đồng bằng mà thôi.
Trong thời Pháp thuộc việc nghiên cứu lưu vực sông Cửu Long đã được thực hiện. Đặc biệt thời Mỹ - Ngụy cũng đã có nhiều công sức nghiên cứu về hạ lưu sông Mê Kông (1957) nhưng kết quả đạt được chưa cao, tiếp đó việc quan trắc thủy văn ĐBSCL được tiến hành do hai cơ quan Nha thủy nông và công tác thủy nông, Công ty điện lực, song số liệu thu được chưa đầy đủ và chất lượng chưa đạt yêu cau. Sau ngày mién Nam hoàn toàn giải phóng (1975), Nhà nước đã giao cho Tổng cục Khí tượng Thủy văn quản lý hệ thống trạm và tiếp tục quan trắc các yếu tố thủy văn. Bên cạnh đó là VKSVQHTL Nam bộ đã có nhiều trạm và các công trình nghiên cứu quy hoạch thủy lợi ở ĐBSCL.
Trong đó có ba chương trình Nhà nước vé nghiên cứu và điểu tra cơ bản đã được thực hiện, đó là một chương trình của Ủy ban Kế hoạch và Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và hai của Ngân hàng Nhà nước và UNDP đồng chủ trì thực hiện, và đã thu được một số số liệu quan trọng. Nhưng kết quả của các dé tai nghiên cứu này cũng chi mới cho ta nấm bắt được những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hoạt động của cư dân vùng sông nước này, như là chế độ nước mặn, chế độ nước ngọt và nước ngầm. SVTH: Lê Ngọc Ánh Trang 4 Khóa Luận Tét Nghiệp GVHD: FS. Dinh Thi Quynh Whur Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về ĐBSCL và hệ thống sông ngòi kênh rạch ở đây đã đạt được nhiều kết quả, các số liệu đo đạc đã chính xác chất lượng góp phần vào việc điều tra tự nhiên làm cơ sở cho công cuộc xây dựng KT-XH ở đồng bằng.
Tuy vây những công trình nghiên cứu này cũng mang tính rời rạc, chưa tổng hợp được những tác động to lớn của hệ thống sông ngòi kênh rạch ở đây mang lại cho đồng bằng. Với mong muốn kế thừa và tiếp tục khái quát những thuận lợi và khó khăn do hệ thống thủy văn ở ĐBSCL trên cơ sở tổng hợp nguồn tư liệu đã có trước đây, đồng thời tìm hiểu thực tế để làm nên khóa luận tốt nghiệp của mình. Mong muốn rằng khi khóa luận được hoàn thành nó có thể góp một phần nhỏ vào quá trình tìm hiểu ĐBSCL.3 Mục đích cần đạt được: Trong quá trình thực hiện để tài với việc tìm hiểu, sưu tim những tài liệu có liên quan đến vấn để hệ thống sông ngòi, kênh rạch đối với đời sống kinh tế và việc tiêu thoát lũ ở ĐBSCL là dịp tốt để tôi củng cố kiến thức, sau này khi rời ghế nhà trường phục vụ tốt cho quá trình giảng dạy của mình. Qua dé tài này tôi muốn làm nổi bật vai trò của hệ thống sông ngòi, kênh rach, đầm hé.
ở ĐBSCL nó tác động tích cực - tiêu cực như thế nào đến đời sống dân cư và việc tiêu thoát lũ, từ đó có thể để ra những biện pháp nhằm phát huy những ưu thế của hệ thống thủy văn và khắc phục những trở ngại của nó, góp phần vào công cuộc xây đựng kinh tế ở ĐBSCL.4 Giới hạn để tài: Đề tài “Vai trò của hệ thống thủy văn đối với đời sống, hoạt động kinh tế và việc tiêu thoát li ở ĐBSCL" là một dé tài rong, nó bao trầm lên mọi mặt đời sống kinh tế xã hội ở đồng bằng. nhưng với trình độ của một sinh viên, còn nhiều hạn chế trong việc sưu tầm, tổng hợp tài liệu, cũng như sự thiếu hụt về nguồn tư liệu và hạn chế về thời gian nên khóa luận chỉ đừng lại ở việc thống kê hệ thống sông ngòi, kênh rạch, đầm hổ và các tác động của nó đến nông nghiệp, giao thông vận tải và việc thoát lũ của nó. Đồng ae 8x thác có hiệu quả hệ thống thủy văn vừa nêu. SVTH: Lê Ngọc Ánh Trang 5 Khóa Luận Tết Nghiệp GVHD: TS.
Dinh Thi Quguh Whur 1.2 PHƯƠNG PHAP LUẬN: 1.1 Quan điểm tổng hợp: Theo quan điểm này chúng ta phải xem xét sự tác động của hệ thống sông ngòi, kênh rạch, đầm hổ đến đời sống kinh tế và việc tiêu thoát lũ trên cơ sở tổng hợp sự tác động của nguồn nước, lưu lượng nước, việc tiêu thoát lũ, hiệu quả của các công trình tiêu thoát lũ và ảnh hưởng của nó đến đời sống sản xuất và sinh hoạt, như cung cấp nước tưới trong nông nghiệp, trong nuôi trồng thủy sản, du lịch, giao thông vận tải cũng như quá trình thoát lũ trong mùa mưa.2 Quan điểm lịch sử: Theo quan điểm này chúng ta phải xem xét hệ thống sông ngòi, kênh rạch, đầm hé ở ĐBSCL và ảnh hưởng của nó cũng có nhiều biến đổi theo thời gian. Quá trình hình thành hệ thống đó từ rất lâu đời, nhưng con người khai cơ lập nghiệp ở đây khoảng 300 năm trở lại đây, việc sử dụng chúng có nhiều biến đổi theo thời gian. lúc đầu con người chỉ sử dụng những lợi thế về tự nhiên, nhưng cang ngày con người đã biết đào kênh dẫn nước ngọt, dap các đê ngăn nước mặn. để mở rộng diện tích canh tác, trồng trọt, chăn nuôi.
Các công trình nhân tạo đó nối liền các sông chính tạo nên một hệ thống giao thông vận tải đường thủy rất thuận lợi, chính vì thế mà chúng ta phải đứng trên quan điểm lịch sử để nghiên cứu, đánh giá vai trò của hệ thống thủy văn ở đồng bằng trước đây ra sao và bây giờ nó thay đổi như thế nào, để so sánh rút ra những nhận định nhằm sử dụng hiệu quả nó cho phù hợp với quy luật.3 Quan điểm tiếp cận và phân tích hệ thống: Đứng trên quan điểm này chúng ta phải có sự tiếp cận với đối tượng nghiên cứu để rồi phân tích các tính chất, đặc điểm và những tác động của đối tượng một cách có hệ thống, quan điểm này yêu cầu người nghiên cứu phải tiến hành từng bước một. từ thu thập tài liệu, thực địa. xử lý tài liệu sau đó mới viết, cũng như vay đối với phần nội dung, chúng ta phải tiếp cân và phân tích hệ thống sông ngòi. kênh rạch, đầm hỗ ở ĐBSCL trên cơ sở nó có mối quan hệ với vùng thượng nguồn và những lợi ích do hệ thống đó mang lại cho đời sống kinh SVTH: Lê Ngọc Ánh Frang 6 Khóa Luận Tot Nghiệp GVHD: FS.
Dinh Thi (huỳnh: Whe tế, các tác động tiêu cực của nó. phải xem xét đồng thời các yếu tố theo một hệ thống thống nhất mà khởi nguồn phải là hệ thống sông ngòi, kênh rach, đầm hồ ở đồng bằng tác động tới quá trình vận chuyển nước tới tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản, giao thông vận tai, du lịch, việc tiêu thoát lũ. Từ đó mới có thể nêu lên một cách khái quát được vai trò của hệ thống đó với đời sống kinh tế.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 1.1 Phương pháp thực địa: Đây là phương pháp rất cần thiết cho việc nghiên cứu. Qua thực địa, chúng ta có thể thấy được những hình ảnh cụ thể về những con sông, con rạch, những bãi bồi phù sa để rồi hình thành nên các cồn cát, gioi cát hoặc lớn hơn nữa là các cù lao, các cánh đồng lúa bát ngát dưới vị ngọt ngào phù sa.
Trong quá trình thực địa ta có thể kết hợp hỏi ý kiến của người dan địa phương về quy luật dòng chảy về tác động của thủy triểu. các giá trị về nông nghiệp về nuôi trồng thủy sản. do sông ngòi, kênh rạch , đầm hé mang lại. Tuy nhiên, do hạn chế về kinh phí, thời gian, trình độ xâm nhập thực tế nên quá trình thực địa chỉ giới hạn trong khuôn khổ ghi lại một số hình ảnh, cảnh quan miền sông nước Cửu Long mà thôi.