Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HOA KỲ LCÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN L. Khái niệm kinh tế và kinh tếquốc dân 1. Khái niệm kinh tế Tổng thể (hoặc một bộ phận) những yếu tố sản xuất và những quan hệ vật chất của con người, phát sinh trong quá trình sản xuất trực tiếp, lưu thông, phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất ở những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người. Mấu chốt là quan hệ sở hữu và quan hệ lợi ích.
Khái niệm kinh tế quốc dan Tổng hoà các quan hệ tương hỗ trong các hoạt động kinh tế được tiến hành. Những mối quan hệ đó được tập hợp thành một cơ cấu. Sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực phát triển đến một giai đoạn lịch sử nhất định, lao động sản xuất xã hội phân định thành những ngành nghề: lao động sản xuất trong nông nghiệp, lao động sản xuất trong công nghiệp và các lĩnh vực lao động khác. Tổng thể các ngành nghề có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong một phạm vi lãnh thổ cư dân nhất định tạo thành nền tảng vật chất xã hội: kinh tế quốc dân.
Khái niệm các ngành kinh tế 1. Khái niệm về nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất ra đời sớm nhất trong lịch sử hình thành xã hội văn minh của nhân loại. Sự ra đời và phát triển của nông nghiệp đòi hỏi người ta phải thay đổi lối sống từ du cư sang định cư. Nhờ đó, làng bản, thôn xóm dần dần mọc lên, xã hội văn minh xuất hiện và phát triển.
Hái lượn, săn bắn dẫn dẫn trở thành thứ yếu thứ yếu. Trồng trọt và chăn nuôi trở nên đảm nhiệm vai trò chính trong việc cung cấp nhu cau lương thực, thực phẩm cho xã hội. Nông nghiệp đã dẫn dẫn trở thành ngành sản xuất nền tảng, nó giải quyết nhu cầu ăn mặc, là những nhu cẩu quan trọng số một của đời sống xã hội. Các sản phẩm của nông nghiệp: lương thực, thực phẩm, rau quả, nước giải khát,.
Xã hội luôn cần một số lượng lớn tương ứng với số dân và phải đảm bảo cung ứng liên tục, đều đặn mà giá rẻ phù hợp với thu nhập của người lao động. Nông nghiệp đã tạo ra mặt bằng nền móng cho sự phén vinh của xã hội. Trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia không thể thiếu ngành nông nghiệp kể cả những nước công nghiệp phát triển. Vì mỗi quốc gia ít nhiều đều có nguồn tài nguyên nông nghiệp của mình như: đất đai, khí hậu, nước ngọt, vật nuôi và cây trồng.Họ déu muốn tận dụng nguồn tài nguyên để phát triển nông nghiệp tự nuôi sống được dân số của nước mình.
Tuy nhiên, tài nguyên nông nghiệp trong tương quan với dân số lại phân bố không đều ở các khu vực khác nhau trên lục địa, dẫn tới mức độ khác nhau trong nông nghiệp ở đây. Và cả về vai trò to lớn của nó đối với mỗi quốc gia nữa. An toàn lương thực, thực phẩm của mỗi quốc gia gắn như déng nghĩa với việc phát triển nông nghiệp để tự nuôi sống được dân số của nước mình. Ở khía cạnh này, nông nghiệp mang ý nghĩa quốc phòng và là vấn để căn bản để bình ổn đời sống xã hội.
Về mặt quốc phòng, một quốc gia có nền nông nghiệp căn bản khó có thể đánh bại nhanh chóng bằng lực lượng hải lục không quân kết hợp. Các quốc gia nhỏ hay tí hon hoặc các quốc gia sa mạc ở Trung Đông không có khả năng nông nghiệp thì việc dự trữ về lương thực, thực phẩm, thuốc men là một vấn để kinh tế rất lớn và rất tốn kém. Đối với các nước đang phát triển thì nông nghiệp còn là cơ sở cho đất nước này tiến hành công nghiệp hoá( như Việt Nam). Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp.
Đặc biệt công nghiệp chế biến thực phẩm thể hiện sự liên quan gắn bó chặt chẽ giữa nông nghiệp và công nghiệp. Tóm lại, nông nghiệp là ngành kinh tế không thể thiếu được trong mọi thời đại. Việc thay đổi dẫn dẫn lao động cơ bắp của người của các gia súc cho sức kéo như trâu, bd, ngựa, voi, lạc đà,. chuyển sang sự lao động bằng sứ của máy móc có được nhờ đốt cháy các loại nhiên liệu khai thác từ thiên nhiên như than, dau mỏ, khí đốt, năng lượng nguyên tử.
đó chính là nội dung chính của công nghiệp. Sau đó hàng loạt các động cơ được phát kiến ra: động cơ hai thì, động cơ bốn thì, động cơ điezen, đã làm phong phú thêm việc sử dụng máy móc của con người trong lao động sản xuất, làm sức sản xuất gia tăng gấp bội phần. Phát minh ra điện tạo ra sự chuyển hoá từ nhiệt điện do đốt nhiên liệu thành điện năng, tạo ra sự thay đổi căn bản của “đời sống” công nghiệp. Động cơ điện có hiệu quả rất cao, công xuất lớn, không gay nhiều tiếng én, không nhả khói 6 nhiễm là điểu kiện căn bản để tạo ra các xí nghiệp công nghiệp, tập trung nhiều lao động.
Sử dụng điện để thắp sáng, quạt máy, điều hoà nhiệt độ là cái cơ bản để tạo ra lối sống thành thị, tập trung hàng ngàn người trên | km”. Lao động bằng máy dẫn được thay cho lao động thủ công: Trước tiên: là những ngành lao động tốn nhiều công sức và rất nặng nhọc được thay thế: ngành cưa xẻ gỗ, ngành xay bột mì, xay xát lúa gạo, làm thuỷ lợi,. Thứ hai: là những ngành lao động đòi hỏi nhiều thao tác chính xác, nhanh và đều đặn: đó là máy dét vải, kéo sợi, ươm tơ, máy khâu,.Ta thử tưởng tượng nếu không có máy khâu, máy dệt thì việc dim bảo nhu cầu may mặc cho hơn 5,5 tỷ người hiện nay sẽ phải sử dụng gần hết sức lao động thủ công của con người. Thử hỏi còn thời gian đâu mà học hành, vui chơi, giải trí.
Thứ ba: công nghiệp tao ra các phương tiện giao thông vận tải cơ giới: 6 tô, tàu hoả, tàu thuỷ, máy bay, xe máy, cơ giới hoá toàn bộ ngành giao thông- là ngành tiêu tốn sức lực cơ bắp nhất của thời nông nghiệp. Con ngựa và thuyển buém đã bị công nghiệp “đưa vào viện bảo tang”. Máy móc càng lao động thay con người bao nhiêu thì con người sẽ càng có nhiều thời gian để học tập, để sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật. Con người sẽ hoạt động nhiều trong các ngành dịch vụ phục vụ cho con người, làm chất lượng sống của con người ngày một nâng cao.
Tuy mới ra đời và phát triển gần hai thế kỷ nhưng công nghiệp đã làm cho bộ mặt xã hội thay đổi về căn bản. Lối sống thành thị đang dân thay thế lối sống thôn quê. Công nghiệp phát triển thúc đẩy quá trình đô thị hoá phát triển. Công nghiệp hoá là vấn để then chốt hết sức quan trọng cho mọi lãnh thể, mỗi quốc gia.
Mỗi lãnh thổ đều có mức phát triển công nghiệp khác nhau. Khái niệm về ngành dịch vu Nếu công nghiệp và nông nghiệp là hai ngành kinh tế căn bản trực tiếp sản xuất ra của cài vật chất, thì ngành dịch vụ là ngành không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, nó chỉ làm cho hàng hoá tăng thêm giá trị mà thôi. Giá trị của dịch vụ nhiều khi không hữu hình như các sản phẩm của công nghiệp và nông nghiệp, mà nó thường là những giá trị vô hình. Ví dụ: cá ở biển, khi được cộng thêm giá trị của sự vận chuyển, nó có mặt Ở sâu trong nội địa và được bán với giá cao hơn nhiều so với cá ở biển.
Tuy nhiên công lao động vận tải, tích luỹ trong con cá là vô hình. Sản phẩm dịch vụ tuy vô hình nhưng nó lại làm gia tăng lên rất nhiều lan giá trị của hàng hoá, nó có chức năng phục vụ con người. Khi sức sản xuất xã hội càng gia tăng thì GDP của ngành dịch vụ sẽ tăng có tỷ lệ % ngày một cao hơn so với tỷ lệ % GDP của ngành công nghiệp va nông nghiệp. Hãy xem GDP(%) của ngành công nghiệp và nông nghiệp của thế giới và của nhóm nước trong thập niên 90.
Công nghiệp _Toàn |. thế gi — _ TH _ -- _Các nước tượng đối phátưiển | 12% — |37 lcEsetaeemaris | [58 (Theo Ngân hàng thế giới) GDP của toàn thế giới(1995) ước tính 25. Theo tỷ lệ % GDP theo ngành của toàn thế giới ta tính được: GDP của nông nghiệp thế giới: 1,27 ngàn tỷ USD GDP của ngành công nghiệp thế giới: 8,13 ngàn tỷ USD GDP của ngành dich vụ thế giới: 16 ngần tỷ USD -Nganh giáo dục. Ngoài ra, còn có một số ngành dịch vụ nhỏ như: ngành ngân hàng, ngành bảo hiểm, ngành quảng cáo, ngành viễn thông, ngành thông tin đại chúng, ngành tư pháp, ngành hải quan, ngành thuế quan, ngành văn học- nghệ thuật(văn học, sân khấu, âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh), ngành thể thao, ngành an ninh, ngành tạp vụ( mai táng, vệ sinh công cộng, thư tín, ánh sáng thành phố, dich vụ văn phòng, phát hành sách,.) Trong phạm vi của bài luận văn này chúng tôi để cập đến bốn ngành trong ngành dịch vụ là ngành thương nghiệp(nội thương và ngoại thương), ngành giao thông vận tải, ngành giáo dục và ngành du lịch.
Khái niệm ngành thương nghiệp Thương nghiệp là ngành kinh tế tổn tại do con người trao đổi hàng hoá và dịch vụ cho nhau; trên cơ sở tự nguyện, thoả thuận về giá cả và hai bên đều thấy có lợi. Sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ diễn ra giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể, giữa tập thể với tập thể và giữa quốc gia này với các quốc gia khác. Người ta vẫn có thể đổi hàng lấy hàng, đổi hàng lấy dịch vụ. Tuy nhiên, từ khi xuất hiện tiễn tệ, thông thường việc trao đổi dién ra thông qua tiền tệ: Hàng hoặc dịch vụ —* Tiển ——* Hàng hoặc dịch vu Tiển — Hàng hoặc dịch vụ —> Tién Việc trao đổi hàng hoá và địch vụ trong một quốc gia ta gọi đó là nội thương, giữa hai quốc gia đó ta gọi là ngoại thương.
Thương nghiệp có nguồn gốc từ nền sản xuất hàng hoá, nó phát triển đồng thời với sự phân công lao động xã hội gia tăng, cùng với việc tập trung sản xuất trên quy mô lớn. Khả năng giao thông cơ giới của thời đại công nghiệp. đã làm gia tăng sự lưu thông phân phối hàng hoá, giúp cho thương nghiệp ngày càng phát triển ra khắp thế giới. Tăng trưởng kinh tế: là sự tăng sản lượng quốc gia và sản lượng bình quan đầu người.