Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình đường cong Philips. Chương 2: Kiểm định mô hình đường cong Philips tại Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao tính ứng dụng mô hình đường cong Philips tại Việt Nam. 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH ĐƢỜNG CONG PHILLIPS 1.1 Những vấn đề cơ bản về lạm phát: 1.1 Khái niệm lạm phát: Do xuất phát từ tiếp cận lạm phát ở các khía cạnh khác nhau nên đã có nhiều khái niệm về lạm phát khác nhau.
Có khái niệm lạm phát tiếp cận theo nguyên nhân gây ra lạm phát, trong khi đó có khái niệm lạm phát lại tiếp cận theo hướng ảnh hưởng của lạm phát. Có thể nêu ra một số khái niệm lạm phát như sau: Khái niệm lạm phát theo nhà kinh tế học K.Marx: “ Lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn ngập các kênh lưu thông tiền tệ, vượt quá mức nhu cầu của kinh tế thực tế làm cho tiền tệ bị mất giá và phân phối lại thu nhập quốc dân ”. Khái niệm lạm phát theo nhà kinh tế học Paul.Samuelson: “ Lạm phát biểu thị một sự tăng lên trong mức giá chung. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ thay đổi của mức giá chung ”.
Khái niệm lạm phát theo nhà kinh tế học Milton Friedman: “ Lạm phát dù lúc nào và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ. Lạm phát ở bất cứ nơi nào luôn là một hiện tượng tiền tệ với nghĩa là nó được và có thể được tạo ra chỉ bằng cách tăng lượng tiền nhanh hơn so với tăng sản lượng ”. Dù các nhà kinh tế học đưa ra các khái niệm lạm phát khác nhau nhưng các khái niệm trên đều có điểm cơ bản chung của lạm phát là: biểu hiện cơ bản của lạm phát là sự tăng lên của giá cả. Từ đó xuất hiện khái niệm lạm phát được nhiều nhà kinh tế chấp nhận và phổ biến hiện nay đó là: “ Lạm phát là hiện tượng xảy ra khi mức giá chung trong nền kinh tế tăng kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định ”.
2 Trong đó mức giá chung trong nền kinh tế là mức trung bình của giá cả các hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế, được biểu hiện ở chỉ số giá cả chung của hàng hóa. Trên cơ sở các khái niệm lạm phát đã đề cập, theo tác giả lạm phát tiền tệ có 3 biểu hiện cơ bản đó là: Mức chung của giá cả hàng hóa tăng liên tục và kéo dài. Tiền tệ bị mất giá. Tài sản tài chính liên tục giảm giá.2 Đo lƣờng lạm phát: Để đo lường mức độ của lạm phát, phương pháp chỉ số được sử dụng nhằm thể hiện sự biến động của mức giá chung trong nền kinh tế.
Có một số phương pháp tính chỉ số giá cả như sau: 1.1 Chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng (CPI): Chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng là chỉ số được tính theo một giỏ hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ chính trên thị trường. Chỉ số CPI được sử dụng phổ biến trên nhiều quốc gia để đánh giá mức độ thay đổi lạm phát xảy ra, mỗi quốc gia quy định khác nhau về nhóm mặt hàng trong giỏ hàng hóa và quyền số của từng mặt hàng, nhóm mặt hàng và quyền số này được thay đổi theo từng thời kỳ để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội. Ví dụ như ở Việt Nam, nhóm mặt hàng và quyền số để tính chỉ số CPI được quy định như sau: 3 Bảng 1.1: Quyền số dùng tính chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ 2009-2014 Đơn vị tính: % STT Nhóm hàng hóa và dịch vụ Quyền số 1 Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 39,93 2 Đồ uống và thuốc lá 4,03 3 May mặc, mũ nón, giày dép 7,28 4 Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD 10,01 5 Thiết bị và đồ dùng gia đình 8,65 6 Thuốc và dịch vụ y tế 5,61 7 Giao thông 8,87 8 Bưu chính viễn thông 2,73 9 Giáo dục 5,72 10 Văn hóa, giải trí và du lịch 3,83 11 Hàng hóa và dịch vụ khác 3,34 Cộng chỉ số chung 100 Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam [14]. Công thức tính tỷ lệ lạm phát theo chỉ số CPI như sau: = Trong đó: : tỷ lệ lạm phát năm t (tính theo CPI).
: chỉ số giá cả hàng hóa năm t so với năm gốc. : chỉ số giá cả hàng hóa năm (t-1) so với năm gốc.2 Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội là chỉ số giá cả cho toàn bộ hàng hóa và dịch vụ trong GDP để xác định tỷ lệ lạm phát, chỉ số này được tính bằng tỷ lệ của tổng giá trị GDP danh nghĩa với tổng giá trị GDP thực tế. Công thức tính chỉ số giảm phát GDP như sau: = Trong đó: : chỉ số giảm phát GDP. : GDP danh nghĩa (đo lường sản lượng năm hiện tại theo giá năm hiện tại).
: GDP thực tế (đo lường sản lượng hiện tại theo giá năm gốc). Trên cơ sở tính được chỉ số giảm phát GDP, công thức tính tỷ lệ lạm phát theo chỉ số giảm phát GDP như sau: = Trong đó: : tỷ lệ lạm phát năm t (tính theo GDP). : chỉ số giảm phát GDP năm t. : chỉ số giảm phát GDP năm t-1.
Như vậy có thể nhận xét so sánh một số điểm khác biệt cơ bản giữa chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội với chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng như sau: 5 Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội phản ánh giá cả của tất cả các loại hàng hóa sản phẩm sản xuất trong nền kinh tế, trong khi chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng phản ánh giá cả của một số loại hàng hóa dịch vụ trong giỏ hàng hóa được lựa chọn theo quyền số nhất định. Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội chỉ bao gồm hàng hóa sản xuất trong nước, trong khi chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng bao gồm cả hàng hóa trong nước và hàng nhập khẩu. Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội sử dụng giỏ hàng hóa thay đổi, trong khi chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng sử dụng giỏ hàng hóa cố định.3 Chỉ số giá sản xuất (PPI): Tỷ lệ lạm phát tính theo PPI cũng có cách tính tương tự như tính tỷ lệ lạm phát theo CPI, nhưng so với cách tính tỷ lệ lạm phát theo CPI thì tỷ lệ lạm phát tính theo PPI được tính trên một số lượng hàng hóa nhiều hơn và tính theo giá bán buôn hay mức giá ở giai đoạn sản xuất.3 Phân loại lạm phát: Có nhiều cách phân loại lạm phát khác nhau, tùy theo tính chất đặc điểm của lạm phát có thể chia theo từng loại lạm phát: 1.1 Căn cứ vào tốc độ và tác động của lạm phát: Nếu căn cứ vào tốc độ và tác động của lạm phát thì có 3 loại lạm phát đó là: lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và lạm phát siêu tốc. Lạm phát vừa phải Lạm phát vừa phải là lạm phát với tốc độ ở mức một con số một năm.
Tác động của loại lạm phát này là: giá cả hàng hóa tương đối ổn định và tăng nhẹ, lưu thông tiền tệ bình thường, có thể gia tăng đầu tư, tăng trường kinh tế, đời sống nhân dân ổn định. 6 Có thể nhận thấy đây là loại lạm phát tốt cho nền kinh tế, các nhà làm chính sách tiền tệ luôn mong muốn nền kinh tế ở tình trạng lạm phát vừa phải. Lạm phát phi mã Lạm phát phi mã là lạm phát với tốc độ ở mức từ hai đến ba con số một năm. Tác động của loại lạm phát này là: giá cả hàng hóa tăng nhanh và liên tục, lưu thông tiền tệ rối loạn, người dân không muốn nắm giữ tiền mặt mà chuyển sang nắm giữ hàng hóa tài sản thực, nền kinh tế có nguy cơ khủng hoảng thất nghiệp cao, đời sống nhân dân khó khăn.
Có thể nhận thấy đây là loại lạm phát không tốt cho nền kinh tế, các nhà làm chính sách tiền tệ không mong muốn nền kinh tế ở tình trạng lạm phát phi mã. Lạm phát siêu tốc Lạm phát siêu tốc là lạm phát với tốc độ từ bốn con số trở lên một năm. Tác động của loại lạm phát này là: giá cả hàng hóa tăng rất nhanh, lưu thông tiền tệ bị rối loạn nghiêm trọng, người dân chạy trốn khỏi tiền và chuyển sang cất trữ mọi thứ, nền kinh tế khủng hoảng trầm trọng, thất nghiệp tràn lan, đời sống nhân dân bị giảm sút nghiêm trọng. Có thể nhận thấy đây là loại lạm phát rất không tốt cho nền kinh tế, các nhà làm chính sách tiền tệ luôn muốn tránh nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát siêu tốc.2 Căn cứ vào nguyên nhân gây ra lạm phát : Nếu căn cứ vào nguyên nhân gây ra lạm phát thì có 2 loại lạm phát đó là: lạm phát do cầu kéo (nguyên nhân về phía cầu) và lạm phát do chi phí đẩy (nguyên nhân về phía cung).
7 Nguyên nhân về phía cầu (Lạm phát do cầu kéo) Lạm phát do cầu kéo là lạm phát xuất phát từ nguyên nhân về phía cầu hàng hóa khi tổng cầu hàng hóa tăng lên vượt quá mức cung ứng hàng hóa trong nền kinh tế dẫn đến giá cả hàng hóa tăng lên. Nguyên nhân về phía cung (Lạm phát do chi phí đẩy) Lạm phát do chi phí đẩy là lạm phát xuất phát từ nguyên nhân phía cung hàng hóa khi chi phí sản xuất vượt quá mức tăng năng xuất lao động dẫn đến giảm sản lượng sản xuất, hàng hóa trở nên khan hiếm, cung hàng hóa không đủ cầu hàng hóa đẩy giá cả hàng hóa tăng lên.3 Căn cứ vào tính chất chủ động – bị động trong chính sách đối phó: Nếu căn cứ vào tính chất chủ động – bị động trong chính sách đối phó với lạm phát thì có 2 loại lạm phát đó là: lạm phát dự đoán và lạm phát không dự đoán. Lạm phát dự đoán Lạm phát dự đoán là lạm phát mà mọi người có thể dự đoán trước được thông qua diễn biến liên tục theo chuỗi thời gian trong nhiều năm của lạm phát. Loại lạm phát này chưa có tác động mạnh đến nền kinh tế vì các hoạt động kinh tế đã được chuẩn bị từ trước đã có những chính sách chủ động đối phó.
Lạm phát này không gây ảnh hưởng nhiều đến sản lượng sản xuất, thu nhập phân phối của người dân và hiệu quả của các hoạt động kinh tế khác trong xã hội.