Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động du lịch trên quy mô toàn cầu được định danh là ngành "công nghiệp không khói" với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, đóng vai trò giải quyết nhu cầu nghỉ ngơi, phục hồi thể lực và tái tạo sức lao động cho con người trong bối cảnh xã hội công nghiệp hóa. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), ngành du lịch quốc gia đứng trước nhiều cơ hội mở rộng thị trường và khai thác nguồn tài nguyên phong phú. Tuy nhiên, mức độ phát triển của các loại hình du lịch vẫn bị đánh giá là chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.

Thành phố Phan Thiết là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Thuận, thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ. Mặc dù có đặc điểm khí hậu tương đối khô hạn và khắc nghiệt, địa phương này lại sở hữu tài nguyên du lịch biển vượt trội với 57,4 km bờ biển cùng nhiều vịnh biển, cảnh quan cồn cát đặc thù. Đặc biệt, sự kiện Năm Du lịch quốc gia Duyên hải Nam Trung Bộ 2011 với chủ đề "Du lịch biển, đảo" đã tạo động lực xúc tiến đầu tư, quảng bá văn hóa và liên kết vùng. Dẫu vậy, hiệu quả kinh tế du lịch và công tác quản lý tài nguyên tại Phan Thiết vẫn đối mặt với nhiều thách thức; tình trạng khai thác chưa tương xứng với thế mạnh dẫn tới việc lãng phí nhiều cơ hội phát triển.

Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Huỳnh Thị Bảo Vân đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Địa lí với đề tài: "Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển du lịch Thành phố Phan Thiết - tỉnh Bình Thuận" (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, năm 2013, dưới sự hướng dẫn khoa học của Th.S Bùi Vũ Thanh Nhật).

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là vận dụng kiến thức địa lí kinh tế - xã hội để tổng hợp, đánh giá hệ thống tài nguyên du lịch, phân tích thực trạng kinh doanh dịch vụ du lịch tại thành phố Phan Thiết giai đoạn 2005–2011, từ đó xác lập các định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020.

Khóa luận thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá các tiềm năng phát triển du lịch của Thành phố Phan Thiết (tự nhiên, nhân văn, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật).
  2. Phân tích hiện trạng hoạt động du lịch của thành phố giai đoạn 2005–2011 và làm rõ vai trò, đóng góp của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường địa phương.
  3. Đưa ra các định hướng phát triển và hệ thống giải pháp nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch Phan Thiết giai đoạn tiếp theo.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Phan Thiết gồm 16 phường và 2 xã, đặt trong mối quan hệ không gian tương hỗ với tỉnh Bình Thuận, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát số liệu thực trạng giai đoạn 2005–2011, đề xuất định hướng phát triển đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận của địa lí du lịch, các văn bản quy phạm pháp luật và định nghĩa chuyên ngành:

  • Khái niệm và định nghĩa: Tác giả trích dẫn và đối chiếu định nghĩa về "Du lịch" của Liên Hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO), nghiên cứu của nhà địa lí I.I. Pirojnik (1985), Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005) và Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966) trên hai phương diện mục đích chuyến đi và ngành kinh doanh tổng hợp; định nghĩa "Tài nguyên du lịch" (theo I.I. Pirojnik, Ngô Tất Hồ năm 2000, Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam 2005); phân loại tài nguyên du lịch theo chuẩn Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO 1997 - 3 loại, 9 nhóm) và phân loại địa lí (tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn); khái niệm "Khách du lịch" (theo Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan năm 1989 và Tổng cục Thống kê Việt Nam); khái niệm "Sản phẩm du lịch" (theo Coltman và Luật Du lịch 2005 gồm hai bộ phận hợp thành: dịch vụ du lịch và tài nguyên du lịch).
  • Quan điểm tiếp cận: Nghiên cứu quán triệt 3 quan điểm địa lí học nền tảng:
    1. Quan điểm hệ thống tổng hợp: Đặt hệ thống lãnh thổ du lịch Phan Thiết trong mối liên kết mở giữa các phân hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và toàn quốc.
    2. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Khảo sát quá trình hình thành, biến đổi từ quá khứ đến hiện trạng giai đoạn 2005–2011 để dự báo xu hướng phát triển đến năm 2020.
    3. Quan điểm lãnh thổ: Tổ chức không gian liên kết giữa các điểm, tuyến, cụm du lịch gắn liền với sự phân bố tài nguyên và hạ tầng kỹ thuật.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai gồm 5 phương pháp chính:

  1. Phương pháp thu thập tài liệu, xử lí thông tin: Thu thập văn bản quy hoạch, báo cáo ngành, tài liệu sách báo, niên giám thống kê liên quan đến du lịch Phan Thiết.
  2. Phương pháp tổng hợp, so sánh: Phân tích, tổng hợp số liệu để chỉ ra xu hướng tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và hiệu quả hoạt động qua các năm.
  3. Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế tại các tuyến điểm du lịch (Mũi Né, Hàm Tiến, Tiến Thành, trung tâm Phan Thiết) nhằm kiểm chứng tài liệu, thu thập hình ảnh và đánh giá không gian cảnh quan.
  4. Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Xây dựng và sử dụng các bản đồ hành chính, bản đồ du lịch, biểu đồ tăng trưởng khách, doanh thu, cơ cấu lao động để trực quan hóa không gian lãnh thổ.
  5. Phương pháp toán học và thống kê du lịch: Xử lý chuỗi số liệu định lượng về lượng khách, ngày khách, doanh thu, cơ sở lưu trú, phụ tải điện và nhu cầu cấp nước.

Nguồn dữ liệu của đề tài được trích xuất từ các cơ quan chính thống: Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận, Tổng cục Thống kê, Báo Bình Thuận, các niên giám thống kê và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết về địa lí du lịch, làm rõ cấu trúc của các khái niệm: du lịch, tài nguyên du lịch (vai trò chiếm 80-90% giá trị sản phẩm du lịch), khách du lịch (phân loại khách nội địa và quốc tế), sản phẩm du lịch và doanh thu du lịch.

Bên cạnh đó, tác giả phân tích khái quát bức tranh phát triển của du lịch Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2009: lượng khách quốc tế tăng từ 250 nghìn lượt (năm 1990) lên 4,2 triệu lượt (năm 2008); ngành du lịch đóng góp khoảng 5% GDP cả nước; thu hút FDI năm 2009 đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 41% tổng vốn đăng ký FDI toàn quốc); lao động trực tiếp đạt 370.000 người.

Đối với tỉnh Bình Thuận, dấu mốc khởi đầu của ngành du lịch được xác lập từ hiện tượng thiên văn "Nhật thực toàn phần" ngày 24/10/1995 quan sát rõ nhất tại Mũi Né (Phan Thiết) và Núi Tà Dôn (Hàm Thuận Bắc). Quá trình phát triển du lịch Bình Thuận trải qua 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1995–2005: Khơi dậy và định hình thế mạnh du lịch, lượng khách tăng từ 513.000 lượt (năm 2000) lên 1 triệu lượt (năm 2005).
  • Giai đoạn 2005–2011: Khẳng định thương hiệu "Thủ đô resort", đầu tư hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ. Đến năm 2011, toàn tỉnh đón hơn 2,8 triệu lượt khách (khách quốc tế đạt hơn 300.000 lượt), có 186 cơ sở lưu trú đang hoạt động với 7.541 phòng (trong đó có 14 cơ sở đạt 4 sao, 11 cơ sở 3 sao, 29 cơ sở 2 sao).

Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch TP Phan Thiết

Chương 2 trình bày chi tiết về điều kiện địa lí, tiềm năng tài nguyên và thực trạng hoạt động du lịch của Thành phố Phan Thiết (được thành lập theo Nghị định 81/1999/NĐ-CP và công nhận là đô thị loại II theo Quyết định 890/QĐ-TTg năm 2009).

Về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:

  • Địa hình: Chia thành 3 dạng chính: đồng bằng ven sông Cà Ty; vùng trung du (Mũi Né, Hàm Tiến, Phú Hài, Phong Nẫm...); cồn cát, bãi cát ven biển (Hàm Tiến, Mũi Né, Tiến Thành...) tạo cảnh quan đặc trưng cho du lịch nghỉ dưỡng và thể thao trên cát.
  • Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa khô hạn, nhiều nắng (2.500–3.000 giờ nắng/năm), nhiệt độ trung bình 26°C–27°C, lượng mưa thấp (900–1.800 mm/năm), ít bão, thuận lợi cho hoạt động nghỉ dưỡng biển quanh năm.
  • Thủy văn và biển: Bờ biển dài 57,4 km, sông Cà Ty và sông Cái (sông Phú Hài) chảy qua thành phố; trữ lượng hải sản khai thác 40.000–50.000 tấn/năm cùng 140 ha mặt nước có khả năng nuôi tôm, tạo nguồn cung ẩm thực phong phú. Cảnh quan tiêu biểu gồm bãi biển Đồi Dương - Vĩnh Thủy, Rạng, Mũi Né, Suối Tiên, rừng dừa Rạng.

Về tài nguyên du lịch nhân văn:

  • Di tích lịch sử - văn hóa: Phan Thiết sở hữu 6 di tích cấp Quốc gia (Trường Dục Thanh, Quần thể tháp Chăm Pô Sah Inư, Dinh Vạn Thủy Tú, Dinh làng Đức Thắng, Dinh làng Đức Nghĩa, Dinh làng Tú Luông) và các di tích cấp Tỉnh (Vạn Thạch Long, Chùa Bửu Sơn).
  • Lễ hội truyền thống: Mang đậm bản sắc giao thoa giữa các dân tộc Kinh, Chăm, Hoa với các lễ hội thường niên: Rija Nuga và Poh Mbang Yang (tháng Giêng Âm lịch của người Chăm), Lễ hội Cầu ngư (20/4 Âm lịch tại Dinh Vạn Thủy Tú), Lễ hội rước đèn Trung Thu (14/8 Âm lịch), Hội đua thuyền mừng xuân trên sông Cà Ty (mùng 2 Tết) và Lễ hội Chạy vượt đồi cát Mũi Né (mùng 4 Tết).

Về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật:

  • Giao thông: Kết nối ngoại vùng qua Quốc lộ 1A, Quốc lộ 55 (đi Vũng Tàu), Quốc lộ 28 (đi Di Linh - Lâm Đồng); tuyến đường trục ven biển Nguyễn Đình Chiểu và đường 706B; các tuyến đường tỉnh DT719 và DT716. Đường sắt có tuyến Bắc - Nam và dự án Ga Phan Thiết mới tại xã Phong Nẫm quy mô 3,1 ha. Đường thủy có tuyến vận tải biển ra đảo Phú Quý (tàu Hoàng Phúc, Phú Hưng rút ngắn thời gian còn khoảng 2 giờ 30 phút). Quy hoạch sân bay Phan Thiết tại xã Thiện Nghiệp với dự kiến hoạt động năm 2017.
  • Cung cấp điện nước: Nguồn điện từ trạm biến áp 110/22KV Phan Thiết và trạm Diesel Hàm Liêm. Cấp nước từ Nhà máy nước Phan Thiết công suất 25.000 m³/ngày-đêm (tổng công suất cấp nước mạng lưới đạt 40.000 m³/ngày-đêm, đường ống dài 265 km).
  • Cơ sở lưu trú: Năm 2005, Phan Thiết có 110 cơ sở lưu trú; đến cuối năm 2011 tăng lên 174 cơ sở lưu trú và trên 300 nhà nghỉ (với hơn 3.100 phòng). Trong đó, thành phố đã xếp hạng 122 cơ sở lưu trú gồm: 14 cơ sở 4 sao (1.400+ phòng), 11 cơ sở 3 sao (799 phòng), 28 cơ sở 2 sao (1.282 phòng), 28 cơ sở 1 sao (675 phòng), 41 cơ sở đạt chuẩn kinh doanh (761 phòng) và 52 cơ sở chưa xếp hạng (2.394 phòng).
  • Nguồn nhân lực du lịch: Lao động ngành du lịch thành phố năm 2005 là 6.112,8 người, tăng lên 7.753,5 người vào năm 2010 (tăng bình quân 4,86%/năm). Trong đó, lao động tại các cơ sở lưu trú chiếm 90,13% (6.984 người, bình quân 1,14 người/phòng), dịch vụ vui chơi giải trí chiếm 7,32% (567 người), lữ hành chiếm 2,55% (198 người). Về trình độ: đại học và trên đại học chiếm 4%; tỷ lệ lao động trực tiếp qua đào tạo chuyên ngành du lịch đạt 33,95%; chưa qua đào tạo chiếm 44,47%; bồi dưỡng ngắn hạn chiếm 21,58%; lao động có khả năng giao tiếp ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh) chiếm 23,8% (2.050 người).

Chương 3: Định hướng phát triển du lịch TP Phan Thiết

Chương 3 trình bày các cơ sở pháp lý, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch ngành du lịch giai đoạn 2010–2015, định hướng chiến lược đến năm 2020. Tác giả nêu rõ các nhóm nội dung:

  • Định hướng đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch (nâng cấp hạ tầng giao thông kết nối, đường bay Thiện Nghiệp, hạ tầng cấp điện, cấp thoát nước và viễn thông).
  • Định hướng tổ chức không gian lãnh thổ du lịch thành phố theo các dải ven biển và trung tâm đô thị; phân bố không gian cụm du lịch Mũi Né - Hàm Tiến, cụm Tiến Thành và khu vực nội thành.
  • Định hướng đa dạng hóa sản phẩm du lịch: phát triển du lịch sinh thái biển, du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch thể thao biển (lướt ván buồm, lướt ván diều, golf, vượt đồi cát), du lịch nghỉ dưỡng kết hợp chữa bệnh (tắm bùn khoáng, khoáng nóng).
  • Xác định các chương trình dự án ưu tiên đầu tư và đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể về cơ chế chính sách, xúc tiến quảng bá, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch bền vững.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa bức tranh phát triển của du lịch TP. Phan Thiết thông qua hệ thống bảng biểu và dữ liệu thống kê cụ thể:

Bảng tổng hợp hiện trạng cơ sở lưu trú và chất lượng nhân lực du lịch TP. Phan Thiết:

Tiêu chí Năm 2005 Năm 2010 / 2011 Ghi chú từ văn bản
Tổng số cơ sở lưu trú (thành phố) 110 cơ sở 174 cơ sở (năm 2011) Kèm theo hơn 300 nhà nghỉ (>3.100 phòng)
Cơ sở lưu trú xếp hạng sao (2011) - 122 cơ sở 14 cơ sở 4 sao, 11 cơ sở 3 sao, 28 cơ sở 2 sao, 28 cơ sở 1 sao
Tổng số lao động du lịch 6.112,8 người 7.753,5 người (năm 2010) Tăng trưởng bình quân 4,86%/năm
Tỷ trọng lao động theo lĩnh vực (2010) - Lưu trú: 90,13%
VCGT: 7,32%
Lữ hành: 2,55%
Lưu trú chiếm 6.984 người (1,14 người/phòng)
Trình độ chuyên môn lao động (2010) - ĐH & Sau ĐH: 4%
Đào tạo DL: 33,95%
Chưa qua đào tạo: 44,47%
Bồi dưỡng ngắn hạn: 21,58%; Biết tiếng Anh: 23,8%

Bảng danh mục di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu tại TP. Phan Thiết:

Tên di tích Cấp xếp hạng Loại hình di tích Địa bàn phân bố (Phường)
Trường Dục Thanh Quốc gia Di tích lịch sử Phường Đức Nghĩa
Quần thể tháp Chăm Pô Sah Inư Quốc gia Kiến trúc nghệ thuật Phường Phú Hài
Dinh Vạn Thủy Tú Quốc gia Lịch sử - nghệ thuật Phường Đức Thắng
Dinh làng Đức Thắng Quốc gia Kiến trúc nghệ thuật Phường Đức Thắng
Dinh làng Đức Nghĩa Quốc gia Kiến trúc nghệ thuật Phường Đức Nghĩa
Dinh làng Tú Luông Quốc gia Kiến trúc nghệ thuật TP. Phan Thiết
Vạn Thạch Long Cấp Tỉnh Lịch sử - văn hóa Phường Mũi Né
Chùa Bửu Sơn Cấp Tỉnh Lịch sử - văn hóa TP. Phan Thiết

Về giải pháp và đóng góp:

  • Tác giả đề xuất nhóm giải pháp nâng cấp hạ tầng liên vùng (sân bay, ga xe lửa, đường kết nối ven biển), đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ giải trí về đêm và thể thao biển để khắc phục tính mùa vụ, đồng thời chuẩn hóa công tác đào tạo nhân lực du lịch do tỷ lệ chưa qua đào tạo còn cao (44,47%).
  • Công trình đóng góp bức tranh tổng kết toàn diện dữ liệu thực nghiệm về tiềm năng tự nhiên - nhân văn và hiện trạng kinh doanh du lịch Phan Thiết giai đoạn 2005–2011 dưới góc độ địa lí kinh tế - xã hội, phục vụ làm tư liệu tham khảo cho công tác quy hoạch du lịch địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn nghiên cứu được tác giả nêu trong văn bản, do điều kiện thời gian và nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế, đề tài không đi sâu vào các vấn đề nghiệp vụ chuyên môn quản trị kinh doanh du lịch chi tiết mà tập trung tiếp cận các vấn đề tổng quát về địa lí kinh tế - xã hội; công tác quản lý nguồn nhân lực giữa cấp tỉnh và cấp thành phố tại thời điểm khảo sát còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá chuyên sâu về sức tải môi trường (carrying capacity) của dải ven biển Hàm Tiến - Mũi Né, tính toán chi tiết cân bằng phụ tải điện - cấp thoát nước và dự báo các luồng khách quốc tế mới theo kịch bản hạ tầng giao thông hàng không sau khi hoàn thành.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên chuyên ngành Địa lí học, Địa lí kinh tế - xã hội, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quy hoạch đô thị và phát triển vùng; các nhà nghiên cứu về địa phương học tỉnh Bình Thuận và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.
  • Nội dung giá trị nhất: Chương 2 của đề tài, nơi tập hợp hệ thống số liệu chi tiết, các danh mục phân loại di tích, lễ hội, cơ sở lưu trú và đánh giá cơ cấu chất lượng lao động ngành du lịch thành phố giai đoạn 2005–2011.

Câu hỏi thường gặp

1. Mốc thời gian nào được xác định là điểm khởi đầu đánh thức tiềm năng du lịch của Bình Thuận và Phan Thiết?
Sự kiện thiên văn "Nhật thực toàn phần" diễn ra vào ngày 24/10/1995, trong đó Mũi Né (TP. Phan Thiết) và Núi Tà Dôn (huyện Hàm Thuận Bắc) là hai địa điểm quan sát thuận lợi nhất, thu hút lượng lớn du khách trong nước và quốc tế, mở ra giai đoạn phát triển du lịch cho toàn tỉnh.

2. Thực trạng trình độ và chất lượng nhân lực ngành du lịch TP. Phan Thiết năm 2010 như thế nào?
Năm 2010, ngành du lịch thành phố có 7.753,5 lao động. Trình độ đại học và trên đại học chiếm 4%; lao động trực tiếp được đào tạo về du lịch chiếm 33,95%; có 44,47% lao động chưa qua đào tạo; lao động qua bồi dưỡng ngắn ngày chiếm 21,58%; tỷ lệ nhân sự có khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh) đạt 23,8% (2.050 người).

3. Trên địa bàn TP. Phan Thiết có những di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia nào được ghi nhận?
Khóa luận liệt kê 6 di tích cấp Quốc gia: Di tích trường Dục Thanh (phường Đức Nghĩa), Quần thể tháp Chăm Pô Sah Inư (phường Phú Hài), Dinh Vạn Thủy Tú (phường Đức Thắng), Dinh làng Đức Thắng (phường Đức Thắng), Dinh làng Đức Nghĩa (phường Đức Nghĩa) và Dinh làng Tú Luông.

4. Quy mô cơ sở lưu trú của TP. Phan Thiết phát triển ra sao trong giai đoạn 2005–2011?
Năm 2005, thành phố có 110 cơ sở lưu trú. Đến năm 2011, con số này tăng lên 174 cơ sở lưu trú và hơn 300 nhà nghỉ (>3.100 phòng). Tính đến cuối năm 2011, thành phố đã xếp hạng 122 cơ sở lưu trú (trong đó có 14 cơ sở 4 sao, 11 cơ sở 3 sao, 28 cơ sở 2 sao, 28 cơ sở 1 sao, 41 cơ sở đạt chuẩn kinh doanh) và 52 cơ sở chưa xếp hạng.

5. Điều kiện tự nhiên của TP. Phan Thiết mang lại lợi thế gì cho du lịch theo phân tích của tác giả?
Mặc dù thuộc vùng khô hạn, Phan Thiết sở hữu bờ biển dài 57,4 km, số giờ nắng cao (2.500–3.000 giờ/năm), nền nhiệt ổn định 26°C–27°C, ít chịu ảnh hưởng của bão và không có sương muối, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng biển và thể thao biển quanh năm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Thị Bảo Vân đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn về địa lí du lịch tại Thành phố Phan Thiết giai đoạn 2005–2011. Công trình phân tích sâu sắc các yếu tố tài nguyên tự nhiên, nhân văn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và làm rõ những chuyển biến của cơ sở lưu trú, nguồn nhân lực trong giai đoạn phát triển thành "Thủ đô resort". Các định hướng và giải pháp được đề xuất đến năm 2020 cung cấp nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho nghiên cứu địa lí kinh tế và công tác quy hoạch phát triển du lịch địa phương.